Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ
nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất chắc chắn nhất cách mạng
nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin”.
ĐỀ CƯƠNG
I. Một số quan điểm, tư tưởng
1.1.Khởi nghĩa nông dân Yên Thế
1.2. Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu
1.3.Con đường cách mạng của Phan Châu Trinh.
II. Chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn
nhất, cách mạng nhất
2.1.Vài nét về chủ nghĩa Mác-Lênin
2.1.1 Khái niệm chủ nghĩa Mác –Lênin : Hệ thống quan điểm và học thuyết
khoa học
- Thế giới quan
- Phương pháp luận biện chứng
- Khoa học và sự nghiệp giải phóng con người
2.1.2 Nội dung chủ nghĩa Mác-Lênin
- Triết học Mác-Lênin
- Kinh tế chính trị Mác-Lênin
- Chủ nghĩa xã hội khoa học
2.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là chân chính nhất
- Chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, xã hội và con người
- Chỉ rõ lực lượng cách mạng: Giai cấp công nhân và nhân dân lao động
=> Đem lại phương hướng và niềm tin cho giai cấp bị bóc lột
- Chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội => tìm ra quy luật về
sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội
2.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin là chắc chắn nhất ( dựa trên nền tảng khoa học)
- Là hệ thống quan điểm lý luận và phương pháp khoa học
- Kế thừa chọn lọc những thành tựu,giá trị của nhân loại => Là cơ sở lý luận
khoa học vững chắc
Thám, với quân Pháp, khi Pháp vừa kết thúc chiến tranh với Trung Quốc và bắt
đầu kiểm soát toàn bộ vùng Bắc kỳ những năm cuối thế kỷ XIX.
Nhiều học giả nhận định hai nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa:
- Do nhu cầu tự vệ của nông dân lưu tán cư trú ở đây, nhằm giữ vững vùng đất
này như là một vùng đất ngoài pháp luật, không chịu sự kiểm soát của bất kỳ
chính quyền nào.
- Sự yêu nước và chống ngoại bang Pháp của nghĩa quân Yên Thế.
Mục tiêu: xây dựng cuộc sống bình đẳng và sơ khai về kinh tế xã hội.
Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn 20 năm, và kết thúc vào năm 1913, sau khi Đề
Thám bị chết. Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Thế cũng gần như là sự kết thúc
của các cuộc khởi nghĩa đối đầu trực tiếp bằng vũ trang. Sự thất bại này chính
thức mở ra các phương hướng cách mạng mới, đòi hỏi các nhà yêu nước tìm ra
các con đường khác có ý nghĩa hơn và hiệu quả hơn…
1.2. Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu(1905-1908)
Đông Du là một phong trào cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Phong trào
có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn
bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho Việt Nam. Lực lượng nòng
cốt cổ động và thực hiện phong trào là Duy Tân hội và Phan Bội Châu.
Cuộc vận động cứu nước của phong trào Duy Tân hội đã tạo nên một không khí
cách mạng sôi nổi trên phạm vi cả nước. Cùng thời gian, dưới ảnh hưởng của
phong trào xuất dương cầu học thì ở trong nước cũng dấy lên rầm rộ phong trào
mở trường học theo lối mới.
m trong phương hưng như chưa gi
t đưng nhưc đi !a tam dân,đó là đ"đ#$#%&
trương Dân T'%&()) *$+%&,$& !
-+./0*+$1n nhau…,phong trào đ"2$,$3
45'6+ trương d%&7*$'t nư2/u nét tương đ8%
9:$7&'t cư;<$:$&=-+>#
?%*y, như Bác H8 đ"2@A6B4<%&7*t đ đánh đuCi Pháp, như
thDE(FCGa trưc, rư3HGIJ9&$$&K'$$;
ột
k
h
o
ả
n
g
th
ờ
i
gi
a
n
n
g
ắ
n,
n
h
ư
n
g
P
T
Đ
D
đ
ư
ợ
c
ạ
n
h
m
ẽ
n
h
ất
c
ủ
a
n
h
â
n
d
â
n
V
iệ
t
N
a
m
đ
ầ
u
th
ế
kỉ
o
l
ư
u
n
à
y
đ
ã
tr
ở
th
à
n
h
n
h
ữ
n
g
h
ạt
n
h
â
n
c
ủ
a
c
n
g
c
u
ộ
c
gi
ải
p
h
ó
n
g
d
â
n
tộ
c.
”
1.3. Con đư; 46+M
Phan Châu Trinh(1872-1926) là ngư;t đ'ng theo xu hưi lương,
kêu gV+/%&+DO>#?M,t đau xót trưnh ngư;i Pháp ngưc
đ"ư;9:t Nam, quan đi a Phan Châu Trinh trưLt chưa nên đ#$
:%BD=)B /<gia, đ'*)+$'&:%B,)3&
)@
Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc
ngữ cùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.
Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được
quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế.
Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn,
nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất
của nhận thức khoa học vè thực tiễn
Kinh tế chính trị Mác-Lênin: nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc
biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương
thức sản xuất TBCN và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất CSCN
Chủ nghĩa xã hội khoa học: nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của
quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
=> Ba bộ phận nằm trong hệ thống khoa học thống nhất: khoa học về sự nghiệp
giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ bị áp bức,
bóc lột và tiến tới giải phóng con người
2.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là chân chính nhất
- Xuất phát từ lý thuyết hình thái kinh tế-xã hội, khi áp dụng trong điều kiện hiện
tại, kết hợp với học thuyết giá trị thặng dư cho phép Mác kết luận về sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân và đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ
nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con
đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị
áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo
và tha hoá về nhiều mặt. Đồng thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực
hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân
lao động.Bởi lẽ
+ Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: giai cấp công nhân
là lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất chủ
nghĩa ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.
+ Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: họ là người lao động
không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị bóc lột giá trị
thặng dư.
Chính vì vậy, học thuyết đã đem lại cho họ niềm tin vào khả năng và sức mạnh của
chính mình.
- Học thuyết đó cũng đã chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. Đó
là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về sự
XG*n đi =)i đi/K)?
)%$(Fn. Các ông đ\Rng ngư;ng đ;3C%&
)$$M&V$t đó hoàn chK
&3'V$$>SW2$MX3/%P_$$M($3:
. 2%3,$DVc và nhân đ !>S
W<"$M:p đ,$M ,p công nhân và nhân dân lao
đ'$M$%&&/$ng tư tưU%&DK nam cho hành đ' a Đ
%&9:$7
2.4. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng nhất
Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời là sự kế thừa và phát triển đến đỉnh cao của hệ
thống các tư tưởng trước đó, tạo ra một bước ngoặt mới cho trong sự phát triển loài
người, đánh thẳng vào các hệ tư tưởng cũ của chế độ phong kiến cũng như CNTB.
Đồng thời đập tan sự bế tắc về phương hướng của các nhà tư tưởng yêu nước, mở
ra một con đường mới giải quyết được những hậu quả và chế độ phong kiến và
CNTB để lại.
Nó cũng chỉ ra phương thức đấu tranh để giành lấy thắng lợi: giai cấp công
nhân phải thực hiện được sự liên minh chặt chẽ với giai cấp nông nhân và các tầng
lớp lao động khác nhằm tạo nên khối đại đoàn kết của lực lượng cách mạng, trong
đó nòng cốt là liên minh công-nông.
Không chỉ được vận dụng trong các cuộc đấu tranh giành chính quyền, chủ
nghĩa Mác-Lênin còn là nền tảng cho sự tiến bộ của các nước xã hội chủ nghĩa khi
mang lại những phương thức phát triển kinh tế xã hội mới với nhiều điểm tiến bộ.
Điều đó được minh chứng bằng thành công của cách mạng Nga (1917)
Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới đã xuất hiện những đặc điểm mới: Chủ
nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc. Sự phát
triển không đều của chủ nghĩa đế quốc tạo tiền đề cho cách mạng vô sản có thể nổ
ra và thắng lợi ở một số nước.
Dựa vào sự ủng hộ đông đảo của quần chúng (nông dân, công nhân và binh
lính) , cùng với việc tận dụng chớp thời cơ trong khi đế quốc đang tham chiến,
cuộc khởi nghĩa vũ trang do Đảng Bônsêvích và Lênin lãnh đạo nhanh chóng giành
nhảy vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp
dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu
nước lên một trình độ mới trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Chủ
nghĩa Mác - Lê-nin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng
nhất”, muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ
nghĩa Lê-nin". Đối với Người, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cơ sở thế giới quan,
phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người
không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời kiên quyết chống chủ
nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một nguồn gốc - nguồn gốc chủ yếu nhất, của
tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ - bộ phận cơ sở, nền tảng của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng
Mác - Lê-nin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền
tảng của nó là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cho nên, có thể nói, ở Việt Nam, giương
cao tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Muốn bảo
vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách có hiệu quả, phải bảo vệ, quán
triệt và giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lịch sử mà cũng là lô-gíc của vấn
đề. Nó giúp chỉ ra sai lầm của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ
nghĩa Mác - Lê-nin.
3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá
trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại"
Ở luận điểm này, có hai vấn đề cần làm rõ:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lấy chủ
nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa,
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu
nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương
Đông và phương Tây. Hồ Chí Minh đã từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học
tập, tiếp thu những học thuyết của các lãnh tụ chính trị, xã hội, tôn giáo trong lịch
những yêu cầu của thực tiễn. Người nhấn mạnh rằng, việc học tập, vận dụng chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, trước hết phải nắm vững "cái cốt lõi", "linh hồn sống" của nó
là phương pháp biện chứng; học tập "tinh thần, lập trường, quan điểm và phương
pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương
pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của
chúng ta". Người còn chỉ rõ: "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phải sống với nhau
có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao
gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin".
Từ những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo,
Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời của mình đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tạo ra một hệ thống luận điểm mới,
sáng tạo, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ
nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác phẩm của Người là "Bản
án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của thực dân Pháp
ở Đông Dương" đã vạch trần bản chất và những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã
man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau
khổ, của kiếp nô lệ, nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu
tranh của các dân tộc thuộc địa. Đây là những tài liệu “có một không hai” về chủ
nghĩa thực dân; ở đó, sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt
hẳn những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập đến. Những luận điểm của Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là hình ảnh về "con đỉa hai vòi", "con
chim hai cánh", đã không chỉ có tác dụng thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mà còn
cảnh tỉnh các đảng cộng sản ở chính quốc.
Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong trong phê phán chủ nghĩa thực dân, đồng
thời cũng là người lãnh đạo dân tộc mình thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực
dân ở Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế
giới.
Đề cương Về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lê-nin, viết năm 1920, đã thức
tỉnh Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì đây là chủ
d. Cũng từ luận điểm cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng
tạo về Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số
dân cư; xác định quy luật hình thành của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước". Đảng vừa đại diện cho lợi ích
của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc.
e. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Cách mạng Việt Nam là
đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Hồ
Chí Minh đã xác định: phải giành chính quyền bằng bạo lực, bằng khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí.
f.Trên cơ sở kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, học tập kinh
nghiệm hoạt động quân sự của thế giới và của các Đảng anh em, tổng kết thực tiễn
đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra học thuyết quân sự hiện đại của Việt
Nam. Trong đó, nổi bật là quan điểm về chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn
dân, toàn diện, trường kỳ; về xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân với ba thứ quân
chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ; về nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện
đại
g.Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản
thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng
tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải
phóng dân tộc mà phát triển lên, Hồ Chí Minh cho rằng, "mục đích của Quốc tế
Cộng sản là làm thế giới vô sản cách mạng, thiết lập vô sản chuyên chính", nhưng
chúng ta phải căn cứ vào trình độ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước mà đề ra
đường lối, chiến lược cách mạng phù hợp, "chứ không phải nước nào cũng phải
làm cách mạng vô sản, lập chuyên chính như nhau". Vì vậy, ngay từ Chánh cương
vắn tắt (1930), Người đã nêu: Thiết lập Chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân
đội công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Người đề ra chủ trương
thành lập "một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ. Chính
quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai
cấp nào, mà của chung toàn thể dân tộc".
Chí Minh luôn là người xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn đất nước đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, lãnh
đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn , thử thách giành được những thắng
lợi vẻ vang.