1
Đề cương môn học khoa học quản lý
Câu 01: Phân tích các mục tiêu, động lực trong quản lý. Liên hệ vấn đề tiền lương và thu
nhập và nêu giải pháp ?
BÀI LÀM
Trong hoạt động quản lý thì mục tiêu và động lực là hai vấn đề quan trọng nhất, quyết
định sự vận động và phát triển của hệ thống quản lý. Nắm vững khái niệm, bản chất, vai trò
của mục tiêu, động lực và mối quan hệ của chúng, nhà quản lý sẽ biết cách tác động hiệu
quả nhằm thúc đẩy hệ thống nhanh chóng đạt được những mục tiêu đã được xác định.
Mục tiêu của quản lý là trạng thái tương lai mà chủ thể mong muốn đạt được trong quá
trình vận động của hệ thống tại thời gian và không gian xác định. Nó là tiêu đích mà mọi
hoạt động của hệ thống hướng tới, nó định hướng và chi phối sự vận động của toàn bộ hệ
thống quản lý. Mục tiêu quản lý phải được xác định trước để chi phối, dẫn dắt cả chủ thể và
đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động.
Việc xác định mục tiêu trong quản lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của toàn bộ hệ thống quản lý bởi vì nếu xác định mục tiêu sai, mọi hoạt động của
hệ thống sẽ trở thành vô nghĩa, thậm chí gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Vai trò của
mục tiêu trong quản lý thể hiện hai mặt : tĩnh và động. Về mặt tĩnh, khi xác định cụ thể các
mục tiêu mà tổ chức theo đuổi thì nhà quản lý đặt chúng làm nền tảng của kế hoạch nhằm
xây dựng hệ thống quản lý. Về mặt động, các mục tiêu quản lý không phải là những điểm
mốc cố định mà là linh hoạt phát triển hướng đến mục đích lâu dài của tổ chức với những
kết quả mong đợi ngày càng cao hơn trên cơ sở xem xét các nguồn lực hiện có hoặc sẽ có
của tổ chức. Mục tiêu của quản lý phải đảm bảo tính liên tục và kế thừa; nội dung phải rõ
ràng, cụ thể bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; đồng thời nó cũng phải xác định rõ về
mặt thời gian
Mục tiêu quản lý có nhiều loại, nhiều cấp, nhiều thứ bậc như: mục tiêu kinh tế, mục tiêu
chính trị, mục tiêu xã hội; mục tiêu cấp thấp và mục tiêu cấp cao; mục tiêu lâu dài và mục
tiêu trước mắt, mục tiêu chủ yếu và mục tiêu thứ yếu… . Trong các mục tiêu quản lý, mục
tiêu cấp thấp phải thống nhất, phục tùng và định hướng vào mục tiêu cấp cao; mục tiêu
ngắn hạn phải thống nhất và định hướng vào mục tiêu lâu dài. Vì vậy, việc cụ thể hóa hệ
thống mục tiêu và bảo đảm sự thống nhất của hệ thống mục tiêu là trách nhiệm của cơ quan
nhau, không có động lực sẽ không tiếp cận được mục tiêu. Mục tiêu tạo ra động lực và
động lực là nhắm đến mục tiêu. Mục tiêu đúng, tự thân nó sẽ trở thành động lực, ngược lại,
mục tiêu sai hoặc không phù hợp sẽ triệt tiêu động lực, không thể tạo ra sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống. Vì vậy, một quyết định đúng đắn, phù hợp nhất định sẽ khơi nguồn động
lực tổng hợp trong toàn bộ hệ thống. Còn khi quyết định không được đối tượng tiếp nhận,
triển khai, không gây “phản ứng” gì với hệ thống quản lý cần phải xem xét lại chính bản
thân quyết định
Trong thực tế hoạt động quản lý muốn có động lực phải giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu
cầu của người lao động và vì vậy trong mục tiêu phải chứa đựng những lợi ích về vật chất,
về tinh thần mà người lao động được hưởng, phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của
người lao động thì mới khuyến khích và tạo ra được động lực đúng đắn, thúc đẩy khơi dậy
mọi tiềm năng của cá nhân, tập thể nhằm đạt những mục tiêu đề ra. Tuy nhiên việc xác
định những yếu tố để tạo thành động lực thúc đẩy con người là một việc khó khăn vì con
người là một thực thể phức tạp, động cơ của mỗi cá nhân là khá phức tạp và thường mâu
thuẫn nhau.
Ngày nay, các lý thuyết về động lực cũng đều coi lợi ích kinh tế là một động lực cơ bản
thúc đẩy con người hoạt động bởi vì lợi ích kinh tế chính là nguồn thỏa mãn các nhu cầu cơ
bản và là điều kiện góp phần đáp ứng các nhu cầu tinh thần của con người. Vì con người là
tổng hợp các mối quan hệ xã hội nên lợi ích cá nhân luôn gắn với lợi ích tập thể và toàn xã
hội. Do vậy, phải coi lợi ích kinh tế không chỉ là động lực mà trước hết nó còn là mục tiêu
và mục tiêu cao nhất của công cuộc xây dựng đất nước là phát triển sản xuất và nâng cao
đời sống nhân dân. Trong hoạt động quản lý, lợi ích kinh tế phải được đặt ra ngay từ khi xác
định mục tiêu của chiến lược, kế hoạch, nó là tiêu chuẩn để định hướng, chọn lựa, đánh giá,
phân biệt đúng – sai, lợi – hại, hiệu quả hay không hiệu quả trong khi xem xét, đánh giá các
phương án, kế hoạch, chính sách, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động quản lý
Tuy nhiên, nếu chỉ có lợi ích kinh tế không thì chưa đủ vì con người ngoài nhu cầu cấp
thấp (như nhu cầu sinh lý, an tòan) thì còn có nhu cầu cấp cao (nhu cầu xã hội, tôn trọng và
tự thể hiện), thỏa mãn những nhu cầu này chính là từ động lực hành chính tổ chức và động
lực tinh thần. Vì vậy, nhà quản lý phải hiểu đối tượng quản lý đang ở cấp độ nhu cầu nào để
đưa ra các giải pháp phù hợp thỏa mãn nhu cầu và tạo động lực cho đối tượng nhằm đạt đến
cuộc sống của những người sống bằng lương. Chính vì điều này là một trong những nguyên
nhân chính của nạn sách nhiễu, ăn tiền, tham nhũng để tăng thu nhập bù lương. Nếu tình
trạng này kéo dài, không những nó huỷ hoại sức sản xuất, sáng tạo mà sẽ có khi nó trở
thành phổ biến, thành "nếp sống" của một bộ phận công chức, viên chức, gây cản trở cho
quá trình đạt được mục tiêu xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Trước nhất, cần phải có quan niệm đúng về tiền lương và thu nhập : chi lương là chi cho
đầu tư phát triển. "Việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư, tạo động
lực để kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch đội
ngũ cán bộ, công chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước". Như vậy,
chi tiền lương hợp lý không những tạo động lực cho phát triển do kích thích người lao động
toàn tâm, toàn ý vào công tác, vào sản xuất mà nó còn phản ánh bản chất của chế độ kinh tế
- xã hội và phản ánh trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Một điều nhận thấy rõ rằng với
đồng lương nhà nước thấp như hiện nay thì hệ thống quản lý nhà nước khó thu hút được
những nhân tài ở các lĩnh vực so với hệ thống doanh nghiệp trong nước và ngoài nước.
Hơn nữa sự chênh lệch về thu nhập giữa các ngành nghề là quá cao, lương của một giáo sư,
một chuyên viên chính, một kỹ sư trưởng ở cấp tỉnh, huyện kém xa so với thu nhập của
người phục vụ khách sạn hay công nhân bình thường. Mặt khác, hệ thống thang bậc lương
quá nhiều làm phức tạp trong quá trình thực hiện, chế độ và chính sách kèm lương chưa
khuyến khích người lao động nỗ lực phấn đấu, tình trạng “sống lâu lên lão làng”, cứ đến
3
4
Đề cương môn học khoa học quản lý
đúng thời hạn thì lại được xếp lên lương, những công chức, viên chức dù có cống hiến
nhiều, hiệu quả cao đến mấy thì cũng khó xét đặc cách lên lương. Điều này, về lâu dài nếu
không điều chỉnh sẽ làm triệt tiêu động lực lao động.
Tuy nhiên, với nguồn ngân sách giới hạn như ở nước ta hiện nay thì không thể trong
cùng một lúc có thể giải quyết hết những bất cập, bất hợp lý như đã trình bày. Vấn đề đặt ra
hiện nay là bảo đảm sự công bằng về hưởng thụ trong quan hệ tiền lương giữa các loại lao
động, các vùng, thúc đẩy mọi người cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp chấn hưng kinh
tế đất nước, chống đặc quyền, đặc lợi trong thu nhập. Mọi người lao động đều được khuyến
động lực và giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu và động lực trên cơ sở vì con người,
do con người : chính là những yếu tố giúp chủ thể và đối tượng quản lý đạt được hiệu quả
cao và sớm đạt được những mục tiêu đã xác định. Điều đó cũng góp phần thực hiện tốt chủ
trương của Đảng
4
5
Đề cương môn học khoa học quản lý
Câu 2: Phân tích chứng minh sự cần thiết khách quan vận dụng nguyên tắc tập trung dân
chủ. Liên hệ việc vận dụng nguyên tắc trên ?
BÀI LÀM
Trong công tác quản lý, việc nhận thức, nắm vững và vận dụng đúng các nguyên tắc của
quản lý là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công. Các nguyên tắc quản lý là các
quy tắc chuẩn mực, chỉ đạo những người quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý,
những nguyên tắc ấy do con người định ra, vừa phản ánh các quy luật khách quan nhưng
cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Trong thực tiễn quản lý, các nguyên tắc quản lý
có tính chất và thứ bậc khác nhau, do nhiều tổ chức, nhiều cấp đề ra, tuy nhiên trong đó có
những nguyên tắc mang tính chất cơ bản, định hướng cho sự hoạt động của người quản lý
và sự vi phạm các nguyên tắc này sẽ gây cho hệ thống một sự tổn thất nặng nề. Một trong
những nguyên tắc cơ bản của quản lý là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể
và đối tượng quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản lý, nó quy định sự lãnh đạo
tập trung dựa trên sự tôn trọng và phát huy dân chủ. Về bản chất thì tập trung và dân chủ là
2 xu hướng diễn ra đồng thời cùng một lúc, tác động cùng chiều, theo tỷ lệ thuận, đòi hỏi
phải đảm bảo lẫn nhau.
Xu hướng tập trung được biểu hiện ở 2 nội dung : thứ nhất, tập trung là sự thống nhất
về tư tưởng và hành động của tất cả các thành viên trong hệ thống, thứ hai đó là sự tập
trung quyền lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ thống, tức là phải có đủ
quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lãnh đạo, quản lý, điều hành thông suốt, do đó tập
trung là một xu hướng cần thiết. Để đảm bảo yêu cầu tập trung trong quản lý cần có những
công cụ sử dụng như: Luật, chính sách, chế độ, quy chế, hệ thống chiến lược, kế hoạch,
lành mạnh phải dựa trên cơ sở tập trung, không tách rời tập trung. Tách rời dân chủ với tập
trung, tuyệt đối hóa mặt này để xem nhẹ mặt kia, đối lập chúng với nhau một cách siêu hình
và giả tạo đều làm suy yếu cả dân chủ lẫn tập trung. Lê-nin nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập
trung dân chủ phải là một cái gì đó tránh xa tập trung quan liêu và cũng tránh xa được tự do
vô chính phủ. Muốn có tập trung dân chủ thì phải bảo đảm dân chủ thực chất đồng thời đề
cao kỷ luật, tăng cường chế độ trách nhiệm. Đây là nguyên tắc rất quan trọng của quản lý,
nó vừa có tính khách quan, phổ quát, song thực hiện không đơn giản, phụ thuộc vào bản
lĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người quản lý
Nguyên tắc tập trung dân chủ là một nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý, nó
có tính khách quan, xuất phát từ vai trò và vị trí của Nhà nước trong quản lý, từ yêu cầu
phải đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống quản lý và từ sự phát triển của trình
độ lực lượng sản xuất mà tương ứng với nó là trình độ phân công lao động và hợp tác lao
động.
Chúng ta biết rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu, chính bản thân nó đã định ra yêu cầu phải quản lý tập trung trong nền kinh tế
bởi lẽ những tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trong tay nhà nước nên nhà nước phải thực hiện
sự quản lý tập trung mới phát huy được tác dụng, hiệu quả đảm bảo sự phát triển nền kinh
tế xã hội đúng định hướng và thống nhất. Mặt khác, chế độ công hữu cũng nảy sinh yêu
cầu dân chủ trong quản lý bởi vì tuy nhà nước quản lý nhưng trao quyền sử dụng những tư
liệu sản xuất chủ yếu đó cho các ngành, các địa phương, đơn vị, điều đó đòi hỏi khả năng tự
chủ trong sản xuất - kinh doanh, phát huy được tính năng động sáng tạo, khai thác có hiệu
quả các tư liệu sản xuất ấy.
Trong xã hội ta, xã hội do nhân dân làm chủ thì dân chủ vừa là mục tiêu và động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa là cơ chế và phương thức để vận hành quyền lực của nhân
dân trong quản lý nhà nước và tổ chức đời sống xã hội.
Nguyên tắc tập trung dân chủ còn do cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang xã hội
hóa cao độ đòi hỏi phải huy động rộng rãi các nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân, nên
vừa phải có tập trung để tránh mọi thất thoát, lãng phí, vừa phải có tính dân chủ để huy
động được mức tối đa. Dân chủ đã được thực tế thừa nhận như điều kiện không thể thiếu
cho tăng trưởng kinh tế nói riêng và phát triển bền vững nói chung
Như vậy, từ cơ sở khách quan của việc hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ, khi thực
hiện nguyên tắc này chúng ta phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa tập trung và dân chủ
trong quản lý, tức là đảm bảo sự kết hợp giữa lãnh đạo thống nhất của cơ quan quản lý với
tính chủ động sáng tạo của cơ sở, của tập thể người lao động trong hệ thống nhằm đảm bảo
tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống tổ chức quản lý.
Thời gian qua, việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực
hiện quy chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, Nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện quy
chế dân chủ trong hoạt động cơ quan, cấp ủy và chính quyền ở địa phương đã có tác động
tích cực đến việc củng cố mối quan hệ giữa Chi bộ Đảng, chính quyền và 2 đoàn thể Công
đoàn-Đoàn thanh niên, tạo nên sự đồng bộ, đoàn kết, nhất quán trong việc lãnh chỉ đạo và
điều hành mọi hoạt động của cơ quan, phát huy quyền làm chủ của cán bộ công chức và
quần chúng nơi cơ sở, nâng cao thêm tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công
chức, tạo dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở và tăng cường sự đồng thuận trong xã hội
Tại đơn vị nơi bản thân đang công tác, nhờ sự niêm yết, công khai hàng năm những việc
cán bộ - công chức phải được biết và thực hiện tốt quy định những việc cán bộ - công chức
tham gia ý kiến, hoạt động của đơn vị đã có những chuyển biến tích cực như : việc giải
quyết nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo và công khai thông báo trong hội nghị cán bộ,
công chức kết luận giải quyết đã có tác dụng ngăn ngừa và làm giảm những sai phạm của
cán bộ công chức trong đơn vị một cách rõ rệt, đơn vị nhiều năm liền không xảy ra các vụ
việc tiêu cực, tham nhũng. Việc quy định niêm yết công khai các trình tự thủ tục và quy
định trách nhiệm rõ ràng của bộ phận tiếp dân, của những người đứng đầu các bộ phận đã
buộc người quản lý, nhân viên thừa hành và cả những người thực hiện thủ tục đều có thể tự
kiểm tra lẫn nhau, hạn chế sự nhũng nhiểu, hạch sách và nhờ đó hiệu quả giải quyết công
7
8
Đề cương môn học khoa học quản lý
việc đã tăng lên, rút ngắn được thời hạn giải quyết và đáp ứng phần nào nhu cầu của tổ
chức, công dân. Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đề bạt cán
bộ, công chức cũng được thực hiện đúng quy định, việc thông báo và xin ý kiến đóng góp về
của cán bộ, đảng viên về cán bộ dự kiến bổ nhiệm và chỉ xem xét người được đa số phiếu
tín nhiệm. Đa số trường hợp thì việc này diễn ra thuận lợi nhưng ở nơi bè phái, cục bộ thì
kết quả bỏ phiếu tín nhiệm không phản ánh đúng đánh giá và tín nhiệm đối với cán bộ,
người được đa số phiếu chưa hẳn đã xứng đáng.
Mặt khác, một số người lợi dụng “dân chủ” để thực hiện những yêu sách vượt quá
khuôn khổ luật pháp, coi thường kỷ cương phép nước. Đặc biệt trong vấn đề thực hiện
giải phóng mặt bằng, một số người dân đã được đền bù đúng quy định nhưng vẫn cố tình
không bàn giao mặt bằng và kích động nhiều người khác tham gia đòi tăng tiền đền bù. Một
số người dân đã được giải quyết khiếu nại tố cáo đúng pháp luật, chính sách nhưng vẫn
không chịu thực hiện quyết định và đến cơ quan nhà nước nhiều lần gây rối mất trật tự,
thậm chí thách thức cả công an, cả chính quyền.
8
9
Đề cương môn học khoa học quản lý
Tóm lại, qua những kiến thức đã học về nguyên tắc tập trung dân chủ và liên hệ một số
việc ở địa phương cho thấy rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là rất cần thiết trong hoạt
động quản lý , nhưng việc nhận thức và vận dụng đúng nó đòi hỏi phải xử lý thận trọng,
tinh tường từng vấn đề, từng trường hợp cụ thể. Buông lỏng sự lãnh đạo tập trung vừa mở
đường cho sự tự do vô kỷ luật, vừa đẩy dân chủ đến chỗ mất phương hướng và vô giá trị.
Thu hẹp dân chủ không những làm triệt tiêu sức mạnh tập thể, mà còn khiến cho sự lãnh
đạo tập trung phạm phải sai lầm. Người quản lý phải nhận thức sâu sắc điều đó để có
phương thức quản lý phù hợp và hiệu quả. Trong thực tể lãnh đạo đơn vị, muốn điều hành
tốt và hiệu quả thì phải lắng nghe, phát huy dân chủ trong thảo luận, chọn lựa phương án
thực hiện nhưng sau cùng người quản lý phải biết chọn lựa ý kiến tập trung nhất, hợp lý
nhất để quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.
Câu 3: Phân tích mối liên hệ giữa các phương pháp trong quản lý. Liên hệ vận dụng
phương pháp kinh tế tại địa phương và đơn vị công tác ?
BÀI LÀM
Trong hoạt động của một cá nhân hay một tập thể đều phải hướng đến một mục tiêu đã
được đề ra và để điều hành hệ thống đạt được mục tiêu đó, chủ thể quản lý phải tác động
động là quyền lực của chủ thể quản lý ở trong hệ thống quản lý, quyền lực này được xác lập
theo pháp luật, quy chế, cơ chế…. Hiệu lực, hiệu quả quản lý phụ thuộc nhiều vào việc thực
hiện đúng hay không đúng quyền lực của mình. Ưu thế của phương pháp này là thể hiện
tính kỷ cương trong thực hiện công việc nhờ đó đem lại hiệu quả nhanh chóng, thống nhất,
triệt để, vì vậy phương pháp này thường phù hợp với các tình huống quản lý cấp bách, khẩn
trương và là phương pháp không thể thiếu được trong tất cả các cơ quan, các tổ chức. Tuy
nhiên nhược điểm của phương pháp này là dễ dẫn đến tình trạng quan liêu, độc đoán …. do
đó để giảm bớt mức độ quan liêu hóa, nhà quản lý khi xác lập cơ cấu tổ chức và cơ chế
quản lý phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, có quan tâm đến điều kiện cụ thể của
các thành viên trong tổ chức.
Phương pháp tâm lý - giáo dục : là phương pháp tác động tới đối tượng quản lý thông
qua các quan hệ tâm lý, tư tưởng, tình cảm. Phương pháp này dựa vào uy tín của người
quản lý để lôi cuốn mọi người trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc, uy tín
được được xác lập dựa trên nhân cách người lãnh đạo quản lý . Công cụ tác động của
phương pháp này là vận dụng các quy luật, nguyên tắc tâm lý và giáo dục, nhờ đó người
quản lý nắm được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, mong muốn, tình cảm, đạo đức, lý tưởng
của mỗi người và có biện pháp tạo lập trong mỗi người niềm say mê, phấn khởi, ý thức
trách nhiệm, tinh thần sáng tạo đối với công việc. Trong phương pháp này, đối tượng quản
lý là con người được xem như một thực thể có ý thức, được tôn trọng và nhận thức được
nhiệm vụ của mình, lao động tự giác. Hiệu quả phương pháp này rất lâu bền và sâu sắc. Tuy
nhiên con người không phải ai và lúc nào cũng lao động và hành động với đầy đủ ý thức, tự
giác và sự nhiệt tình, nhất là khi mà nhu cầu lợi ích vật chất của họ không được thỏa mãn
hoặc không công bằng. Vì vậy, phương pháp này chỉ hiệu quả khi được người quản lý biết
phối hợp phương pháp hành chính với phương pháp kinh tế. Phương pháp tâm lý - giáo dục
không thể thiếu trong mọi tổ chức, nhất là các tổ chức xã hội, nhưng nhất thiết người quản
lý phải biết kết hợp với phương pháp tổ chức - hành chính và phương pháp kinh tế.
Phương pháp kinh tế : là phương pháp tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý thông qua lợi ích kinh tế. Trong phương pháp này, nhà quản lý sử dụng các công cụ
đòn bẩy kinh tế như : giá cả, lãi suất, tiền lương, tiền thưởng, lợi nhuận để tác động đến
điều kiện hoạt động của con người, điều chỉnh hành vi của đối tượng nhằm đạt được mục
chỉ là tác động đến một vài trong rất nhiều những nhu cầu của con người, mà con người thì
chỉ có thể làm việc tốt nhất trong điều kiện có khuôn khổ tổ chức chặt chẽ, rõ ràng; có lợi
ích thoả đáng; có sự hiểu biết và niềm say mê với công việc. Phương pháp kinh tế kích
thích con người vì thỏa mãn nhu cầu vật chất nhưng nếu như công việc nhàm chán, không
tạo niềm say mê, không có những thách thức, hứng thú hoặc không nhận được sự quan tâm,
công nhận, tôn trọng của người quản lý, của xã hội thì lúc đó những lợi ích kinh tế không
đủ để lôi cuốn người ta làm việc. Ngược lại nếu người quản lý có phẩm chất tuyệt vời, quan
tâm đến gần gủi đến người lao động, có phong cách và phương thức quản lý tốt nhưng nếu
chỉ áp dụng biện pháp, cơ chế trả lương cho người lao động theo phương pháp bình quân thì
cũng sẽ không khuyến khích được người lao động toàn tâm, toàn ý vì công việc. Ngoài ra,
đối với những con người quá chú trọng đến lợi ích kinh tế hoặc những người quen dựa dẫm,
lười lao động, trình độ nhận thức và tự giác thấp thì nếu không phương pháp tổ chức - hành
chính thì khó có thể kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của họ theo đúng định hướng,
đúng mục tiêu của tổ chức đề ra. Ngược lại, nếu chỉ áp dụng đơn thuần phương pháp tổ
chức - hành chính thì rõ ràng đối tượng quản lý chịu sự cưỡng chế mà không có khuyến
khích tinh thần hay vật chất cũng dễ dẫn đến những tiêu cực trong hoat động. “Dựa vào
pháp luật để trị dân, sử dụng hình phạt để chỉnh đốn họ thì họ tạm thời khỏi bị phạm tội
nhưng lại không có liêm sỉ. Nếu như dựa vào đức trị để trị dân, sử dụng lễ giáo để chỉnh
đốn họ thì họ không những có liêm sỉ mà còn quy phục” (Hà Thúc Minh, 1998. Lịch sử triết
học Trung Quốc. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh: 27).
Từ mối liên hệ trên cho thấy rằng trong các phương pháp quản lý thì phương pháp kinh tế
mang lại hiệu quả nhanh chóng, nhưng không phải là duy nhất và toàn bộ. Nhà quản lý thực
hiện đồng thời cả 3 phương pháp trong hoạt động quản lý, tuy nhiên tùy theo trường hợp và
từng giai đoạn mà sử dụng phương pháp nào là chính.Việc tuyêt đối hoá một phương pháp
quản lý nào đó trong quản lý sẽ làm giảm hiệu lực tác động, không phát huy được ưu thế và
khắc phục hạn chế vốn có của mỗi phương pháp. Đó cũng chính là sự tác động toàn diện và
ảnh hưởng lẫn nhau của các phương pháp quản lý đối với mỗi con người.
Cũng từ mối liên hệ giữa các phương pháp quản lý cho thấy rằng nhận thức và vận dụng
các phương pháp quản lý như thế nào còn phụ thuộc vào đối tượng và tình huống quản lý cụ
thể. Nếu người quản lý chủ quan coi nhẹ yêu cầu thực tế khách quan của đối tượng và tình
hành chính, tâm lý - giáo dục và kinh tế đều cần thiết.
Tuy nhiên, là đơn vị hành chính sự nghiệp thì phương pháp tổ chức hành chính và
phương pháp tâm lý giáo dục được sử dụng trong công tác quản lý thường xuyên và dễ
dàng hơn trong khi áp dụng phương pháp kinh tế gặp rất nhiều khó khăn bởi những
quy định ràng buộc do cơ chế hưởng lương từ ngân sách, nhất là đối với một tỉnh mà
thu nhập còn phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp
Theo quy định về chế độ lương trước đây, người lãnh đạo cao nhất đơn vị hoặc người
có trình độ chuyên môn cao, công tác nhiều năm trong ngành lương và thu nhập khác
cũng không quá 2 triệu/ tháng. Lương bình quân của một người có trình độ chuyên môn
đại học cũng từ 500.000-700.000 đồng /tháng. Những khó khăn về kinh tế buộc người
công chức nhà nước phải làm thêm bằng nhiều nghề phụ khác, hoặc phải nhận việc để
làm ngoài giờ. Mặt khác, trước khi Luật đất đai có những điều chỉnh như hiện nay thì
khối lượng công việc giữa sự nghiệp - dịch vụ công và hành chính còn chưa tách bạch
rõ ràng, do vậy đơn vị phải giải quyết một khối lượng hồ sơ thủ tục rất lớn nên có rất
nhiều công việc cán bộ công nhân viên không thể thực hiện hết trong giờ hành chính, vì
vậy việc giao việc làm thêm ngoài giờ cho công nhân viên chức vừa tạo thêm thu nhập
nhưng cũng vừa giải quyết bớt các tồn đọng trong công việc.
12
13
Đề cương môn học khoa học quản lý
Tuy nhiên theo quy định của Luật lao động thì người lao động chỉ có thể làm ngoài
giờ tối đa là 200 giờ/năm, vì vậy chỉ có thể trả lương cho công nhân viên trong khoảng
200 giờ làm thêm theo quy định, còn lại người quản lý chỉ có sử dụng phương pháp tổ
chức hành chính hoặc biện pháp tâm lý động viên họ hoàn thành công việc theo đúng
thời gian quy định mà không có sự đền bù về vật chất nào. Với cơ chế như vậy rõ ràng là
không giúp cho người công chức, viên chức có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, không
khuyến khích được sự cải tiến trong phương pháp, lề lối giải quyết công việc và cũng
không thể thu hút được những người có tài năng vào trong bộ máy nhà nước của đơn vị.
Sự khó khăn về kinh tế cũng làm cho phát sinh một số tệ nạn : nhũng nhiễu, hạch sách,
nhận hối lộ Về mặt quản lý, người quản lý đương nhiên sẽ áp dụng các biện pháp
phân công lao động quản lý. Quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức quản lý được phân chia thành các
cấp quản lý. Cấp quản lý là một thể thống nhất gồm các khâu quản lý ở cùng 1 bậc trong hệ
thống cấp bậc quản lý như cấp trung ương, cấp địa phương, cấp cơ sở…. ;
13
14
Đề cương môn học khoa học quản lý
-Tiền đề khách quan của cơ cấu tổ chức quản lý:
Tiền đề khách quan của sự hình thành và phát triển cơ cấu tổ chức quản lý là sự phân
công lao động xã hội. Đó là sự thể hiện mối quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa cơ
cấu tổ chức quản lý và cơ cấu các đối tượng quản lý. Chính đối tượng quản lý quyết định cơ
cấu tổ chức quản lý. Cơ cấu KT- XH là 1 hệ thống phân công và hiệp tác lao động trên quy
mô toàn XH nên cơ cấu tổ chức quản lý phải được XD tương ứng với cơ cấu KT- XH. Sự
thống nhất giữa cơ cấu tổ chức quản lý với cơ cấu KT- XH và sự độc lập tương đối của
chúng là ĐK phát triển của cả hệ thống quản lý.
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo những yêu cầu về tính
tối ưu; tính linh hoạt; đảm bảo độ tin cậy trong hoạt động và đảm bảo tính kinh tế của quản
lý.
II. Những loại hình cơ cấu tổ chức quản lý cơ bản:
Trong thực tiễn quản lý, trên thế giới đã xuất hiện nhiều kiểu cơ cấu tổ chức quản lý khác
nhau. Trong đó có 1 số loại hình tiêu biểu sau:
1.Cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến:
Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến là mô hình tổ chức quản lý, trong đó mỗi người
cấp dưới chỉ nhận sự điều hành và chịu trách nhiệm trước 1 người lãnh đạo trực tiếp cấp
trên. Đây là mô hình đơn giản nhất, ra đời sớm nhất (vào khoảng thế kỷ thứ 10).
Đặc điểm của loại hình cơ cấu này là MQH giữa các nhân viên trong tổ chức bộ máy
được thực hiện theo trực tuyến, tức là quy định QH dọc trực tiếp từ người lảnh đạo cao nhất
đến người thấp nhất; người thừa hành chỉ nhận mệnh lệnh từ 1 người phụ trách trực tiếp. (sơ
đồ cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến, trang 90)
Ưu điểm của mô hình này là đề cao vai trò người lãnh đạo quản lý; tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thực hiện chế độ 1 thủ trưởng. Tạo ra sự thống tập trung cao độ, chế độ trách
bộ phận tham mưu (phòng, ban tổ hoặc cá nhân) để giúp người lảnh đạo ra quyết định.
Trong cơ cấu trực tuyến- tham mưu, người lãnh đạo ra quyết định và chịu trách nhiệm
đối với việc thực hiện quyết định của người thừa hành trực tiếp của mình. Bộ phận tham
mưu có nhiệm vụ chuẩn bị các dự án, các quyết định, đảm bảo luận cứ và chất lượng của
quyết định quản lý và theo dõi việc thực hiện. Bộ phận tham mưu không có quyền ra quyết
định. (sơ đồ SGK 92)
Ưu điểm: đảm bảo được nguyên tắc 1 thủ trưởng, thống nhất trong quản lý, đồng thời vẫn
thu hút được đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn cao để tham mưu giúp thủ trưởng
lãnh đạo quản lý; chế độ trách nhiệm rõ ràng; bảo đảm sự thống nhất trong toàn tổ chức
(mang tính tập trung cao, chính xác). Nhưng kiểu cơ cấu này vẫn có nhược điểm là bộ phận
tham mưu phân tán, ít có sự phối hợp chung nên không phát huy sức mạnh tổng hợp của bộ
phận này; MQH giữa những người lãnh đạo các tuyến và những người tham mưu có thể trở
nên căng thẳng đến mức gây bất lợi cho tổ chức (phối hợp không tốt sẽ gây bất lợi cho tham
mưu và lãnh đạo).
b. Cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến- chức năng:
Là kiểu cơ cấu tổ chức phối hợp hữu cơ 2 loại cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng.
Người lãnh đạo tổ chức được sự giúp sức của các phòng ban chức năng để chuẩn bị và ra
quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Những người lãnh đạo các
tuyến chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và được toàn quyền quyết định trong đơn vị
mình phụ trách. Những người lãnh đạo chức năng không có quyền ra quyết định trực tiếp
cho những người ở các tuyến. Mô hình này ra đời năm 1930, hiện nay đang được sử dụng
rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta.
Đặc điểm của kiểu cơ cấu tổ chức qlý trực truyến - chức năng là qhệ giữa cấp trên và cấp
dưới vẫn theo nguyên tắc trực tuyến, nhưng bên cạnh người lãnh đạo chung có bộ phận
chức năng giúp việc, là đội ngũ những chuyên gia giỏi về chuyên môn giúp người lãnh đạo
những luận cứ khoa học trước khi ra các quyết định. Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ
giám sát việc thực hiện quyết định ở cấp dưới. (sơ đồ SGK 93)
Ưu diểm: Tận dụng được hết ưu điểm của 2 kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến và cơ cấu tổ
chức chức năng như: Đảm bảo được nguyên tắc 1 thủ trưởng, tính thống nhất trong quản lý;
song người lãnh đạo vẫn có thể chia sẻ công việc với các bộ phận chức năng để quản lý tốt
trình- mục tiêu (hay theo sản phẩm) để phối hợp hoạt động chung của các đơn vị tuyến và
các bộ phận chức năng để thực hiện 1 chương trình, đề án nào đó. Người lãnh đạo của tổ
chức thực hiện sự phân bổ tài nguyên cho các đề án, các chương trình trên cơ sở bảo đảm
việc thực hiện các chiến lược và mục tiêu khác nhau của tổ chức. Ưu điểm của cơ cấu này
là tính năng động và mục tiêu cao; cùng một lúc có thể thực hiện nhiều dự án, chương trình.
Phạm vi sử dụng của cơ cấu tổ chức ma trận rất rộng rãi, đặc biệt là ở các Viện nghiên cứu,
các trường đại học; trong các công ty, tập đoàn lớn (đa quốc gia, xuyên lục địa). Nhưng có
nhược điểm là dễ xảy ra việc tranh chấp ảnh hưởng giữa những người lãnh đạo đối với các
bộ phận, nhân viên cấp dưới; đòi hỏi phải có những quy định về điều lệ, thể thức, quy tắc rõ
ràng và chặt chẽ.
III. Liên hệ với cơ cấu tổ chức đơn vị đ/c đang công tác
Qua nghiên cứu cơ sở khoa học của cơ cấu tổ chức quản lý và một số loại hình cơ cấu tổ
chức quản lý. Liên hệ thực tiễn cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ở cơ quan đang công tác là
thuộc “cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến”. Theo cơ cấu bộ máy và quy chế hoạt động, thì
cán bộ nhân viên cấp dưới chỉ nhận sự điều hành và chịu trách nhiệm trước một người lãnh
đạo cấp trên trực tiếp của mình, không qua người trung gian nào. Do đó, công việc trong cơ
quan phản ánh sự tập trung và hiệu quả đạt được cao hơn. Không xảy ra tình trạng song
trùng nhiệm vụ và quyền hạn giữa người lãnh đạo bộ phận này với người lãnh đạo bộ phận
khác tác động đến cùng một đối tượng quản lý là nhân viên thực hiện. Tạo điều kiện thuận
lợi để thực hiện nguyên tắc một thủ trưởng, thể hiện sự thống nhất và tập trung cao trong
hoạt động, trách nhiệm rõ ràng.
Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn, cơ cấu tổ chức quản lý này vẫn bộc lộ một số hạn
chế. Đó là, không khai thác và phát huy được hết tính năng động, sáng tạo của đội ngũ
chuyên viên có trình độ chuyên môn và khả năng tổ chức cao ở phòng nghiên cứu - tổng
16
17
Đề cương môn học khoa học quản lý
hợp. Khi cần phối hợp công việc giữa các phòng, phải thông qua sự điều động của các
trưởng phòng liên quan, tức là đi vòng, mất thời gian, công việc giải quyết chậm trễ.
Ví dụ để ban hành hoặc dự thảo hoàn chỉnh một văn bản cho cấp có thẩm quyền ký ban
tượng, giải quyết triệt để ngay từ đầu khi sự việc chưa tiến triển phức tạp.
Vấn đề 1: Phân tích chứng minh sự cần thiết khách quan vận dụng nguyên tắc tập trung
dân chủ. Liên hệ việc vận dụng nguyên tắc trên ?
BÀI LÀM
Trong công tác quản lý, việc nhận thức, nắm vững và vận dụng đúng các nguyên tắc
của quản lý là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công. Các nguyên tắc quản lý là
17
18
Đề cương môn học khoa học quản lý
các quy tắc chuẩn mực, chỉ đạo những người quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý,
những nguyên tắc ấy do con người định ra, vừa phản ánh các quy luật khách quan nhưng
cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Trong thực tiễn quản lý, các nguyên tắc quản lý
có tính chất và thứ bậc khác nhau, do nhiều tổ chức, nhiều cấp đề ra, tuy nhiên trong đó có
những nguyên tắc mang tính chất cơ bản, nó định hướng cho sự hoạt động của người quản
lý và sự vi phạm các nguyên tắc này sẽ gây cho hệ thống một sự tổn thất nặng nề. Một trong
những nguyên tắc cơ bản của quản lý là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức phản ánh mối quan hệ giữa chủ
thể và đối tượng quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản lý, nó quy định sự lãnh
đạo tập trung dựa trên sự tôn trọng và phát huy dân chủ. Về bản chất thì tập trung và dân
chủ là 2 xu hướng diễn ra đồng thời cùng một lúc. Tập trung dân chủ là một nguyên tắc
thống nhất, đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ. Trong
nguyên tắc thống nhất này, tập trung và dân chủ tác động cùng chiều, theo tỷ lệ thuận, đòi
hỏi phải đảm bảo lẫn nhau. Xu hướng tập trung được biểu hiện ở 2 nội dung : thứ nhất,
tập trung là sự thống nhất về tư tưởng và hành động của tất cả các thành viên trong hệ
thống, thứ hai đó là sự tập trung quyền lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ
thống, tức là phải có đủ quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lãnh đạo, quản lý, điều
hành thông suốt, do đó tập trung là một xu hướng cần thiết. Để đảm bảo yêu cầu tập trung
trong quản lý cần có những công cụ sử dụng như: Luật, chính sách, chế độ, quy chế, hệ
thống chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển…và chế độ một người chỉ huy (còn gọi
là chế độ thủ trưởng).
quản lý một cách tốt nhất. Như vậy, các biện pháp dân chủ nhằm bảo đảm cho sự lãnh đạo
tập trung, càng mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, khắc phục tình
trạng dân chủ quá mức đưa đến tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến
chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải được
thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Nhấn mạnh tập trung dẫn đến tập trung quan liêu,
cứng nhắc, độc đoán; trái lại, mở rộng dân chủ mà không tập trung thì có thể đi tới phân tán,
dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật. Trong bản chất của nó, dân chủ không đối lập với tập trung.
Nó chỉ đối lập với quan liêu, chuyên chế, độc tài. Tập trung càng không đối lập với dân chủ.
Nó chỉ đối lập với phân tán, cục bộ, bè phái, tự do vô chính phủ mà thôi. Tập trung đúng
đắn, hợp lý sẽ làm tăng sức mạnh của dân chủ. Dân chủ lành mạnh phải dựa trên cơ sở tập
trung, không tách rời tập trung. Tách rời dân chủ với tập trung, tuyệt đối hóa mặt này để
xem nhẹ mặt kia, đối lập chúng với nhau một cách siêu hình và giả tạo đều làm suy yếu cả
dân chủ lẫn tập trung. Vì thế, Lê-nin nhấn mạnh rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ phải là
một cái gì đó tránh xa tập trung quan liêu và cũng tránh xa được tự do vô chính phủ. Muốn
có tập trung dân chủ thì phải bảo đảm dân chủ thực chất đồng thời đề cao kỷ luật, tăng
cường chế độ trách nhiệm. Đây là nguyên tắc rất quan trọng của quản lý, nó có tính khách
quan, phổ quát, song thực hiện không đơn giản, phụ thuộc vào bản lĩnh, phẩm chất đạo đức
và phong cách của người quản lý
Nguyên tắc tập trung dân chủ là một nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý,
nó có tính khách quan, xuất phát từ vai trò và vị trí của Nhà nước trong quản lý, từ yêu
cầu phải đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống quản lý và từ sự phát triển của
trình độ lực lượng sản xuất mà tương ứng với nó là trình độ phân công lao động và hợp tác
lao động.
Chúng ta biết rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất chủ yếu, chính bản thân nó đã định ra yêu cầu phải quản lý tập trung trong nền
kinh tế bởi lẽ những tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trong tay nhà nước nên nhà nước phải
thực hiện sự quản lý tập trung mới phát huy được tác dụng, hiệu quả đồng thời đảm bảo sự
phát triển nền kinh tế xã hội đúng định hướng và thống nhất. Mặt khác, chế độ công hữu
cũng nảy sinh yêu cầu dân chủ trong quản lý bởi vì tuy nhà nước quản lý nhưng trao quyền
sử dụng những tư liệu sản xuất chủ yếu đó cho các ngành, các địa phương, đơn vị, điều đó
hiện nguyên tắc dân chủ tại cơ sở nên mới có thể phát hiện những sai sót, những vi phạm
trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh mà những sai sót này đôi khi chỉ mới là dấu
hiệu, mầm mống để kịp thời uốn nắn, sửa chữa. Ngoài ra, trong hoạt động quản lý, để có
những quyết định quản lý đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý không thể có đầy đủ
những kiến thức và kinh nghiệm để tự mình quyết định tất cả mà điều đó chỉ có thể thực
hiện được nếu nhà lãnh đạo quản lý biết cách khuyến khích và lắng nghe sự tham gia ý kiến
của các đối tượng quản lý, điều đó chính là thực hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý. Tuy
nhiên, để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống quản lý thì thực hiện dân chủ còn
phải đi đôi với sự lãnh đạo tập trung. Ở đâu có hoạt động của số đông, ở đó cần đến tổ chức,
cần đến sự phân công, phối hợp và cũng cần đến vai trò điều khiển, chỉ huy của người nhạc
trưởng với vai trò lãnh đạo tập trung. Có tập trung mới tạo ra được sức mạnh chung, thống
nhất ý chí và hành động vì mục tiêu chung của hệ thống. Chỉ thông qua sự lãnh đạo tập
trung và thống nhất mới đảm bảo mọi hoạt động trong hệ thống quản lý hướng đến mục
tiêu chung nhất, tránh sai lệch trong định hướng đồng thời mới có thể thực hiện quyền điều
động và phân phối nguồn lực, quyền lợi một cách hài hòa trong quá trình hoạt động. Tập
trung còn cần thiết bởi vì nó là cơ sở để định ra giải pháp và nội dung dân chủ trong quản
lý, tập trung còn là nền tản pháp lý cho nội dung dân chủ, định ra những khuôn khổ, những
giới hạn cần thiết để đảm bảo dân chủ đúng hướng, bản chất quyền tập trung dân chủ xã
hội chủ nghĩa
Như vậy, từ cơ sở khách quan của việc hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ, khi
thực hiện nguyên tắc này chúng ta phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa tập trung và dân
chủ trong quản lý, tức là đảm bảo sự kết hợp giữa nội dung lãnh đạo thống nhất của cơ quan
quản lý với tính chủ động sáng tạo của cơ sở, của tập thể người lao động trong hệ thống
nhằm đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống tổ chức quản lý;
nếu không kết hợp đồng bộ thì việc thực hiện nguyên tắc trên trở nên vô nghĩa.
Thời gian qua, việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và
thực hiện quy chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, Nghị quyết của Uỷ
20
21
Đề cương môn học khoa học quản lý
trên, đồng thời cũng không phải mọi ý kiến của quần chúng nhân dân đều được phản ánh tới
các cấp lãnh đạo. Về mặt này, cần phải nhìn nhận rằng tình trạng dân trí, trình độ còn thấp
cũng chính là nguyên nhân làm hạn chế mức độ dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên, cũng có
trường hợp ý thức tự giác về dân chủ của người dân, kể cả cán bộ công nhân viên chưa cao,
đôi khi vì quá bận những công việc khác nhưng cũng có khi xem nhẹ nên không tham gia
đóng góp ý kiến. Thực tế một số trường hợp ý kiến của người lãnh đạo vẫn dường như có
"sức nặng" quyết định cuối cùng; ý kiến thuộc thiểu số rất ít khi được đặt lại để xem xét.
Thực tế cũng cho thấy rằng, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ dễ có sai
phạm về phía này hay về phía khác. Lãnh đạo của Ðảng, nhà nước là lãnh đạo tập thể, tập
thể giao cho cá nhân phụ trách một số công tác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì
nguyên tắc này thiếu rõ ràng trong ranh giới giữa "lãnh đạo" và "phụ trách". Khi công việc
thành công thì thành tích thường được quy về cá nhân một số người lãnh đạo, còn khi thất
bại trách nhiệm đổ cho tập thể. Chế độ lãnh đạo tập thể - trên thực tế - chưa thật sự thúc ép
21
22
Đề cương môn học khoa học quản lý
người lãnh đạo phải năng động, sáng tạo, thật sự dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách
nhiệm.
Một trong những khâu phức tạp và khó khăn nhất trong thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ là trong công tác tổ chức - cán bộ. Chúng ta biết rằng để thực hiện tốt nguyên
tắc tập trung trong quản lý, Ðảng phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội
ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị, đồng thời phải đề cao trách nhiệm của các tổ chức và
người đứng đầu tổ chức. Việc chọn lựa người lãnh đạo đứng đầu rất quan trọng và quyết
định rất lớn đến sự vận hành của cả hệ thống tổ chức, cơ quan đó. Tuy nhiên, đây cũng là
khâu còn còn nhiều hạn chế. Nguyên tắc dân chủ, tập thể đòi hỏi phải lấy phiếu tín nhiệm
của cán bộ, đảng viên về cán bộ dự kiến bổ nhiệm và chỉ xem xét người được đa số phiếu
tín nhiệm. Đa số trường hợp thì việc này diễn ra thuận lợi nhưng ở nơi bè phái, cục bộ thì
kết quả bỏ phiếu tín nhiệm không phản ánh đúng đánh giá và tín nhiệm đối với cán bộ,
người được đa số phiếu chưa hẳn đã xứng đáng.
Mặt khác, một số người lợi dụng “dân chủ” để thực hiện những yêu sách vượt quá
23
Đề cương môn học khoa học quản lý
tổ chức thực hiện quyết định một cách khoa học. Bằng những kiến thức về khoa học quản lý, chúng ta hãy
phân tích làm rõ các nội dung trên.
Quyết định quản lý là hành vi có tính chất chỉ thị do một cơ quan hay một người đưa ra nhằm định
hướng, tổ chức hoạt động của tập thể lao động thực hiện mục tiêu quản lý. Ra quyết định là việc lựa chọn
các mục tiêu cũng như nguồn lực và đề ra các phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó.
Quyết định quản lý ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý bởi vì một quyết định đúng đắn, kịp thời sẽ
đem lại sự giàu có, phát triển ngược lại nếu quyết định sai và không đúng lúc có thể gây trì trệ, ách tắt và
nhiều khi dẫn đến phá sản. Mặt khác chu kỳ sống của một quyết định quản lý thường trải qua 5 giai đoạn,
để phát huy tối đa hiệu quả của quyết định, người lãnh đạo quản lý phải lựa chọn và ra quyết định kịp thời
ngay tại điểm quyết định phát huy tác dụng ở mức cao nhất và phải thay đổi quyết định khi quyết định thể
hiện sự trì trệ, kìm hãm sự phát triển.
Do quyết định quản lý là sản phẩm của chủ thể quản lý nên nội dung của nó thường chứa đựng ý chí chủ
quan của người quản lý chi phối như : cá tính, quan điểm, trình độ năng lực nhận thức và vận dụng quy luật
của người lãnh đạo quản lý. Cho nên, để đảm bảo cho các quyết định quản lý có chất lượng thì khi đề ra
các quyết định phải dựa trên các cơ sở khách quan. Đó là : yêu cầu của quy luật khách quan tác động tới
đối tượng quản lý; đặc điểm và xu thế phát triển của đối tượng quản lý và điều kiện vật chất và thời gian có
thể thực hiện quyết định. Quyết định quản lý cũng mang những đặc điểm khác như : do chủ thể quản lý
ban hành và chỉ đề ra khi các vận đề đã chín muồi, quyết định hướng trực tiếp vào tổ chức, hoạt động của
đối tượng quản lý và có liên quan trực tiếp tới quá trình thu nhận, xứ lý thông tin, lựa chọn phương tiện
hoạt động và cuối cùng là phải được hình thành trên cơ sở hiểu biết quy luật và sự vận động của hệ thống
quản lý, ra quyết định.
Vì tính chất quan trọng của quyết định quản lý nên nội dung của quyết định quản lý phải đảm bảo các
yêu cầu như phải mang : tính khoa học, tính toàn diện, tính khả thi, tính thống nhất, tính kịp thời, tính hiệu
quả, tính linh hoạt và tính hợp pháp. Một quyết định khoa học là quyết định phù hợp với định hướng, mục
tiêu của tổ chức, phù hợp với quy luật, nguyên tắc, nguyên lý khoa học và xu thế khách quan, phù hợp với
điều kiện cụ thể, với tình huống cần đưa ra quyết định và được xây dựng dựa trên cơ sở vận dụng các
phương pháp khoa học. Một quyết định toàn diện là quyết định có nội dung bao quát được nhiều vấn đề,
thỏa mãn cao các mục tiêu, phù hợp với những ràng buộc nhất định, được sự ủng hộ của số đông. Quyết
dân chủ thực sự và tập trung đúng nghĩa. Mặt khác, trong thực tế khi ban hành một quyết định quản lý, ít
khi gặp những trường hợp vấn đề đặt ra hoàn toàn mới, do đó, người lãnh đạo trước khi ra quyết định mới
cần phải đánh giá lại nội dung và kết quả thực hiện của các quyết định cũ trên cả 2 mặt : cái được và cái
chưa được, phân tích nguyên nhân và những kinh nghiệm rút ra từ đó, những yếu tố hợp lý nào cần phải
được giữ lại. Kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy rằng một quyết định đúng đắn là quyết định có căn cứ và
sự phân tích tình hình một cách cụ thể, không chỉ phân tích tình huống mà còn phân tích xu hướng phát
triển của vấn đề. Đối với những quyết định mà đối tượng thực hiện và chịu sự tác động là lực lượng đông
đảo trong xã hội thì khi chuẩn bị ra quyết định quản lý, nhà quản lý phải quan tâm tới nhân tố xã hội ảnh
hưởng tới quá trình tổ chức thực hiện quyết định như: điều kiện thực hiện, trình độ nhận thức và phản ứng,
thái độ của người thực hiện, chính sách của Nhà nước, phát triển công nghệ, mục tiêu, thị trường… Trong
trường hợp ở phạm vi nhỏ, tính chất công việc đơn giản có thể cho phép người lãnh đạo bỏ qua một số
bước nào đó trong các bước kể trên.
Quá trình tổ chức thực hiện quyết định được bắt đầu kể từ khi quyết định được cấp thẩm quyền phê
duyệt. Bước đầu tiên trong quá trình này là lập kế hoạch triển khai thực hiện quyết định, sau đó tổ chức
tuyên truyền giải thích nội dung, mục đích, ý nghĩa của quyết định đến những đối tượng thực hiện quyết
định. Quá trình triển khai nội dung quyết định cần làm rõ các vấn đề : thực hiện cái gì ? tại sao thực hiện ?
ai thực hiện ? Thực hiện ở đâu ? thời gian thực hiện ? và thực hiện bằng cách nào ? Việc tuyên truyền giải
thích phải được thực hiện sâu rộng và hướng dẫn thực hiện thống nhất, nhất là đối với những quyết định
bao hàm nhiều nội dung và phức tạp. Tiếp theo đó là khâu tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra thực hiện
quyết định. Việc kiểm tra việc thực hiện quyết định phải được thường xuyên để kịp thời điều chỉnh quyết
định cho phù hợp với tình hình thực tế nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Khâu cuối cùng là việc tiến hành tổng
kết, đánh giá kết quả thực hiện quyết định : tìm ra những sai lệch, nguyên nhân sai lệch ấy, phát hiện những
nguồn lực chưa khai thác, sử dụng hiệu quả để rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý ngày càng
tốt hơn, hoàn thiện hơn.
Tóm lại, vấn đề ra quyết định quản lý và tổ chức thực hiện quyết định là một quá trình không hề đơn
giản, nó bao gồm nhiều bước phức tạp và gắn với nó là sự sáng tạo, nhạy bén của tư duy nhà lãnh đạo quản
lý trên cơ sở thực tiển kết hợp với các phương pháp khoa học và các quy luật khách quan
* Liên hệ phân tích một quyết định cụ thể .
Trong thực tiễn cho thấy có những quyết định quản lý khi ban hành được triển khai rộng rãi và được rất
nhiều người đồng tình ủng hộ, tham gia thực hiện nhưng cũng có những quyết định quản lý rất khó tổ chức
học và tính thống nhất.
Về tính khả thi, tính toàn diện và tính linh hoạt thì thực tế cho thấy rằng phương án tổ chức thực hiện mà
Nghị định đưa ra là phải có sự phối hợp của cả hai cơ quan xây dựng và địa chính cùng thực hiện, quản lý
hồ sơ lưu và bản lưu giấy chứng nhận cũng ở cả hai đơn vị, điều này trên thực tế gây rất nhiều phiền hà cho
người dân vì khi có thay đổi nội dung trên giấy chứng nhận thì phải đến cả 2 cơ quan để xác nhận. Mặt
khác, do mỗi cơ quan chức năng quản lý khác nhau nên cơ quan nào cũng muốn giấy chứng nhận phải thể
hiện đầy đủ những thông tin mình cần quản lý, điều đó càng làm cho quy trình thực hiện khó khăn hơn
nhiều. Lực lượng thực hiện của 2 bên cũng không đồng nhất nên cùng một nhà và đất ấy phải đo vẽ nhà đất
2 lần. Ngoài ra, có rất nhiều hồ sơ nhà đất chưa đủ điều kiện cấp giấy nên để được hợp thức hóa cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì người dân phải cùng một lúc phải nộp một
khoản tiền khá lớn vừa nhà, vừa đất. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng có khi chủ nhà hợp pháp về đất
nhưng do nhà xây dựng lấn chiếm không gian hoặc xây dựng trái phép và không phù hợp với quy hoạch
nên không được cấp quyền sở hữu nhà, do đó người chủ nhà này cũng không được cấp GCN. Từ những
vướng mắc trên cho thấy rằng tính khả thi và tính toàn diện của Nghị định là rất thấp và sau 10 năm ban
hành cả nước cũng chỉ mới cấp được không quá 50% số trường hợp phải cấp, không thỏa mãn những mục
tiêu đã đề ra cũng như không đáp ứng được những vấn đề mà thực tế diễn ra.
Ví dụ thứ 2 là việc ban hành Quyết định 19/2000/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ
ngày 03/02/2000 về việc bãi bỏ các loại giấy phép trái quy định của Luật doanh nghiệp. Nội
dung chính của quyết định là bãi bỏ các loại giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ
điều kiện kinh doanh, giấy phép hành nghề, chứng chỉ hành nghề và giấy phép dưới hình
thức khác trái với Luật doanh nghiệp, kể cả những loại giấy phép kinh doanh khác do các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương ban hành mà không căn cứ vào luật, pháp lệnh, nghị định, nhưng
chưa được liệt kê vào Danh mục kèm theo Quyết định 19. Đối với điều kiện kinh doanh xét
thấy cần thiết phải có giấy phép thì các cơ quan hữu quan phải trình Chính phủ ban hành
nghị định để thực hiện đúng quy định tại Điều 6 Luật Doanh nghiệp.
Đây là quyết định ban hành hợp pháp do được ban hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức. Quyết định
này cũng mang tính khoa học và mang tính hiệu quả cao bởi vì nó phù hợp với xu hướng cải cách hành
chính, giảm bớt những thủ tục phiền hà và gây trở ngại cho doanh nghiệp, nhờ đó có tác động tích cực thúc
đẩy sự tăng trưởng phát triển kinh tế. Quyết định này mang tính toàn diện vì những vấn đề mà quyết định