1
MÔN TRIẾT:
1. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vận dụng để phê phán bệnh chủ quan duy ý chí
và bệnh bảo thủ trì trệ.
Bài làm
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý
thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất . Thế giới vật chất tồn tại
khách quan có trước và độc lập với ý thức con người .
Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản
ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác (Lênin toàn tập 8 ,nhà xuất bản tiến bộ Maxcơva-1980. trang 151).
Định nghĩa trên thể hiện mấy nội dung sau :
Vật chất là một phạm trù triết học : Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các
khái niệm vật chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày .
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là
tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất .
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” . Điều đó khẳng định
“thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước ( tính thứ nhất) . Còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ hai ) . Vật
chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức .
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản
ánh” .Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con
người có thể nhận thức được . Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức ).
Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác
động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới , những thuộc tính mới và
những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại .
Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch
sử xã hội . Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động
thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất .
Y thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan . Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách
Sức mạnh của ý thức con người không phải ở trổ tách rời điều kiện vật chất thoát li điều kiện khách quan mà là biết
dựa vào điều kiện vật chất đã có phản ánh đúng qui luật khách quan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng tạo và có hiệu
quả . “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan” (Lênin).
Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta
phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính
năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức ,tác động cải tạo thế giới .Quan
điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.
Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức , tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ
quan của ý chí ,bất chấp qui luật khách quan ,xa rời hiện thực , phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất
Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới . Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc
xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế ;về việc
sử dụng các thành phần kinh tế ….
Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các
tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản xuất còn nhỏ bé , chưa phát triển , còn chủ yếu là sản xuất nhỏ , lạc hậu , kinh tế hàng hoá
chưa phát triển . Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không
tính đến điều kiện thực tế của đất nước .
Trong bố trí cơ cấu kinh tế ,trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư , thường chỉ xuất phát từ mong muốn đi nhanh ,
không tính đến điều kiện và khả năng thực tế đề ra những chỉ tiêu kế hoạch hoá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất .
Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải
duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian
tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất .
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu ,yếu kém về lý luận ,do tâm lý của người sản xuất
nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp .
Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn
trọng và hành động theo qui luật khách quan . Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiên đảm bảo sự lảnh đạo
đúng đắn của Đảng ” (VKĐH 6, trang 30 ).
Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự
vật hiện tượng ,phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất , của các qui luật tự nhiên và xã hội , không được xuất
phát từ ý muốn chủ quan .
3
Nguồn gốc của sự phát triển ấy nằm ngay trong bản thân sự vật, do việc giải quyết những mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng. Phát
triển là quá trình tự thân của mọi sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm duy vật biện chứng sự phát triển được đặc trưng bởi mấy dấu hiệu
sau:
- Mang tính khách quan vốn có.
- Mang tính phổ biến trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Là quá trình biến đổi không thuận nghịch, không quay trở lại điểm xuất phát.
- Phát triển là quá trình hoàn thiện về cấu trúc, đa dạng về chức năng.
- Sự phát triển dường như lập lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn.
- Sự phát triển mang tính kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ, cải biến nó cho phù hợp với cái mới.
- Phát triển là tiến lên và có sự xuất hiện của cái mới.
Trên cơ sở nguyên lý về sự phát triển theo quan điểm Mácxit, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đòi hỏi chủ thể phải có quan điểm
phát triển.
Quan điểm phát triển có mấy yêu cầu sau:
- Về nhận thức: để nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng đòi hỏi chủ thể phải xem xét nó trong trạng thái vận động và dự đoán
được các xu hướng biến đổi và chuyển hóa của chúng.
-Trong thực tiễn: cần thấy được tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển mà tin tưởng vào cái mới tiến bộ và tạo điều kiện cho
nó chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu.
-Trong tư tưởng: quan điểm phát triển là cơ sở khoa học về phương pháp luận giúp chúng ta củng cố niềm tin vào sự thắng lợi của lý
tưởng của CSCN, mặc dù CNXH hiện thực đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào. Giúp ta vững tin vào thắng lợi của công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước dù phải trải qua nhiều khó khăn thách thức.
Quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn
với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến một chiều và bệnh giáo điều.
Bải thủ trì trệ thực chất là không thấy được sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng và hoạt động sáng tạo của vai trò con người;
Ỷ lại, chờ đợi, dựa dẫm.
Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong hoàn cảnh lịch sử phát triển nhất định, ứng với giai đoạn phát triển của nó
và xem xét nó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm
trọng.
Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong tư duy của chủ thể mang tính máy móc, rập khuôn, thiếu sáng tạo. Thực chất bệnh giáo điều là
sự tuyệt đối hóa tri thức khoa học và coi nó là chân lý tuyệt đối và vận dụng nó một cách máy móc, không tính đến lịch sử cụ thể.
Thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và 2 cuộc kháng chiến
3. Nội dung quy luật mâu thuẫn. Sự vận dụng của đảng ta trong việc phát hiện và giải quyết mâu
thuẫn cơ bản hiện nay.
(anh/chị em bổ sung giúp nhe)
4
Cu 4 : Trình bày nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận. Sự vận dụng của Đảng ta?
Đối với đảng ta, kiên trì, vận dụng sng tạo v pht triển chủ nghĩa Mc–Lênin l vấn đề có tính nguyên
tắc số một. Trung thành với chủ nghĩa Mác–Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học
của chủ nghĩa Mác–Lênin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát
triển chủ nghĩa Mác–Lênin một cách sáng tạo. Nghị Quyết đại hội VIII của Đảng nêu r “Đảng làm giàu trí
tuệ của mình bằng cch không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững và vận dụng sáng tạo những luận
điểm cơ bản và phương pháp luận chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng HCM, đồng thời phải không ngừng
tổng kết kinh nghiệm thực tiển sinh động, từ phong trào CM của quần chúng”. NQ ĐH IX của Đảng tiếp
tục khẳng định “Lấy chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tường HCM làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”. NQ ĐH XI của Đảng
tiếp tục khẳng định “trong bất kỳ điều kiện và tình huống no, phải kin trì thực hiện đường lối v mục tiu đổi
mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng HCM, kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và CNXH.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đ lấy Chủ nghĩa Mc-Lnin lm nền tảng tư tưởng và vận
dụng tư tưởng, lý luận đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để đề ra đường lối, cương lĩnh đúng đắn
nhằm lnh đạo đất nước tiến lên chủ nghĩa x hội. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đến nay,
Đảng đ khởi xướng và lnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên toàn đất nước, trong đó chủ
trương đổi mới của Đảng được Văn kiện Đại hội IX xác định là “Con đường công nghiệp hóa - hiện đại
hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy
vọt”. Chủ trương này thể hiện sự vận dụng đúng đắn quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng
thành những thay đổi về chất và ngược lại của triết học Mác-Lênin (gọi tắt là quy luật lượng - chất) vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Việc tìm hiểu quy luật lượng - chất cũng giúp ta tránh được những khuynh
hướng sai lầm nếu không nhận thức và áp dụng đúng quy luật này trong thực tiễn.
Quy luật Lượng - chất có vị trí là vạch r cch thức của sự vận động và phát triển của SV, Htượng trong
trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có NN pháp quyền
XHCN của ND, do ND, vì ND do ĐCS lđạo; có qhệ hữu nghị và htác với các nước trên thế giới.
Để t/hiện th/công mục tiêu trên, t/iện tốt 8 phchâm c/bản sau:
- Một là, Đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước gắn với phát triển KT tri thức, bảo vệ TN và MT.
- Hai là, phát triển nền KT thị trường định hướng XHCN.
- Ba l, xdựng nền VH tiên tiến, đậm đà bsắc dtộc; xdcon người, nâng cao đời sống nhân dân, t/hiện tiến bộ
và công bằng XH
- Bốn là, bđảm vững chắc QP-AN quốc qia, trật tự an toàn XH.
- Năm là, t/hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hịa bình, hữu nghị, hợp tc v pht triển; chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế.
- Sáu là, xd nền dân chủ XHCN, t/hiện đại đkết dtộc, tăng cường và mở rộng m/trận d/tộc th/nhất.
- Bảy l, xdựng NN ph/quyền XHCN của dn, d/dn v v/dn.
- Tám là, xd đảng trong sạch, vững mạnh.
Tóm lại, việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất cũng như ý
nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do công
cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta đặt ra.
Đối với người Đảng viên, công viên chức nhà nước, việc nắm vững quy luật lượng - chất sẽ giúp
chúng ta trong hoạt động chuyên môn cũng như trong quản lý, chỉ đạo: một mặt phải biết phát huy đúng
mức vai trò của nhân tố chủ quan, có quyết tâm và nghị lực cao trong việc thực hiện đột phá trong công
việc khi có điều kiện chín muồi, một mặt phải biết cách phân tích, xác định đúng quy mô, nhịp điệu của
các sự việc để có những biện pháp giải quyết thích hợp, tránh rơi vào khuynh hướng nôn nóng chủ quan
duy ý chí hoặc bảo thủ.
Câu 5. Mối liên hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Sự vận dụng của đảng ta.
Theo quan điểm triết học Maclê thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của
con người nhằm cải tạo tự nhiên & xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức đầu tiên
của hoạt động thực tiễn tạo cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người là hoạt động sản
xuất vật chất, hoạt động cải tạo xã hội, hay hoạt động thực nghiệm khoa học cũng là dạng cơ bản, dạng hoạt động
đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Trong hững hình thức đó hoạt động sản xuất là hoạt động cơ bản nhất vì nó quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người trong mọi thời kỳ lịch sử. Hơn nửa các hình thức hoạt động khác
Vai trò của thực tiễn còn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức. Để đánh gia kiểm nghiệm được tính đúng đắn
hay sai lầm của những tri thức đã thu nhận, không có con đường nào thay thế hoạt động của thực tiễn. Những kết
quả tư duy trừu tượng phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Một mặt góp phần chỉ đạo thực tiễn, phục vụ thực tiễn, mặt
khác chịu sự kiểm tra, đánh giá của thực tiễn, từ đó khẳng định bổ sung hoàn thiện phát triển những kết quả nhận
được, đó chính là thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Nhận thức của con người là một quá trình trong đó gồm nhiều giai đoạn gồm nhận thức cảm tính và nhận
thức lý tính. Nhận thức cảm tính có 3 hỉnh thức là cảm giác tri giác và biểu tượng, quá trình nhận thức này chỉ cho
ta thấy mối liên hệ bên ngoài, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, thậm chí còn sai lệch, phiến diện.
Nhận thức lý tính bắt ngừon từ nhận thức cảm tính, là giai đoạn cao của nhận thức, nhận thức lý tính biểu
hiện qua các hình thức, khái niệm, phán đoán, suy luận. Nhận thức lý tính phản ánh một cách đầy đủ hơn, phản ánh
các sự vật hiện tượng trong mối liên hệ bản chất mang tính quy luật. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là
những giai đoận khác nhau của cùng một quá trình nhận thức, thống nhất biện chứng với nhau, liên hệ tác động với
nhau, bổ sung hổ trợ cho nhau, không tách rời nhau làm cho con ngưới nhận thức đầy đủ hơn về thế giới khách
quan. Bên cạnh nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, con người còn có nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý
luận, nhận thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ khảo sát và kinh nghiệm, nó tạo thành tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm là những tri thức thu nhận trực tiếp trong quá trình sản xuất lao động của con người.
Tri thức kinh nghệim có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của con người, nhờ có Tri
thức kinh nghệim mà hoạt động của con người hiệu quả hơn.
Tránh được những sai lầm đáng tiếc, Tri thức kinh nghiệm còn cung cấp những tiên đề, những cơ sở đầu
tiên làm dử liệu khái quát nâng lên thành tri thức lý luận.
Tri thức lý luận là những tri thức thu được qua việc đúc kết thực tiễn, khái quát tri thức kinh nghiệm và
nâng lên ở trình độ cao thể hiện qua một hệ thống những khái niệm, những phạm trù, những nguyên lý.
Vai trò của lý luận, là sự khái quát hoá và trình độ hoá, phản ánh được quy luật và bản chất của vấn đề, do
đó phạm vi tác động rất lớn, nó phản ánh hàng loạt các sự vật hiện tượng, thậm chí phán quyết tất cả các sự vật hiện
tượng và nó giúp cho sự hiểu biết của con người đúng đắn hơn, chính xáx và đầy đủ hơn. Tri thức lý luận còn có thể
phản ánh vượt trước nên nó giúp cho con người chỉ trong đề ra những biện pháp những phương hướnghoạt động
của mình ở hiện tại mà ở tương lai hay nói cách khác vai trò của lý luận là là tác động trở lại thực tiễn góp phần
làm biến đỏi thực tiễn thông quahoạt động của con người. Lý luận là kim chỉ nam cho hành động. Soi đường dẫn
dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lênin khẳng định “ không có lý luận CM thì cũng không thể có phong trào CM” .
Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Theo quan điểm Mác-Lênin giữa lý luận và thực tiễn luôn
kết kinh nghiệm đưa đến vi phạm quan điểm thực tiễn. Từ đó dẫn tới nhận thức không đầy đủ rằng thời kỳ quá độ
lên CNXH là quá trình lịch sử tương đối dài, trải qua nhiều chặng đường quanh co, va do tư tưởng chỉ đạo chủ
quan, nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, không chú ý đến điều kiện hoàn cảnh của lịch sử của đất
nước, muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế, nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về TLSX, khong coi trọng
giải quyết các vấn đềtổ chức quản lý và phân phối. Trong chỉ đạo công cuộc cải tạo XHCN, mặt khác đẩy mạnh
quan hệ sản xuất, không chú ý đến sự tồn tại lâu dài của sản xuất nhỏ, lỗi thời lạc hậu và phương tiện sản xuất thấp
kém, phân tán không phù hợp về cơ cấu quản lý tập trung, quan liêu bao cấp kéo dài. Với những sai lầm từ trong
nhận thức cũng như hành động chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn
tại thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất, từ đó dẫn tới khủng hoảng kinh tế ở nước ta ngày càng xa hơn.
- Đến đại hội VII của Đảng ta đã mạnh dạn đưa ra những sai lầm, thiếu sót và đề ra phương hướng khắc phụckhắc
phục những sai lầm đó đồng thời vận dụng đúng tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
quan điểm thực tiễn và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Rút ra từ thực tiễn, Đảng ta đang tiến hành
đổi mới toàn diện, xác định mục tiêu và con đường đi lên CNXH ở nước ta, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Đảng ta
đổi mới tư duy lý luận, phát triển và bổ sung lý luận nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh ở nước ta. Đặc biệt đổi mới về kỹ thuật như đổi mới QHSX phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng SX;
chuyển từ tư duy cũ tuyệt đối hoá sở hữu công cộng , thuần nhất với hai thành phần KT sang tư duy mới phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế mới, cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nuớc theo định hướng XHCN; thay đổi đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sơ vật chất cho CNXH .
- Xác định con đường đi lên CNXH ở nước ta phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài, khó khăn với nhiều hình thức
và bước đi trung gian, là sự quá độ bỏ qua chế độ TBCN. Có nghĩa là bỏ qua thiết lập vị trí thống trị của quan hệ SX
và kiến trúc thượng tầng của TBCN, nhưng kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới thời TBCN,
nhất là những thành tựu về khoa học và công nghệ để phát triển lực lượng SX.
- quá trình thực tiễn đừơng lối đổi mới của Đảng ta đã được Đại hội VII tổng kết dánh giá và bổ sung cho việc đề
ra chủ trương, chiến lược gắn với chủ trương chiến lược phát triển nền KT hàng hoá nhiều thành phần cơ chế chính
sách không ngừng đổi mới.
- Kết quả đổi mới bước đầu đã đạt những thành tựu rất quan trọng : về chính trị ở trạng thái ổn định, về KT liên tục
được phát triển , về lương thực : từ một nước thiếu LT vươn lên đến có dư thừa xuất khẩu, lĩnh vực lưu thông rất
thuận lợi, hàng hoá trên thị trường dồi dào đa dạng
Câu 3: Nội dung quy luật Lượng - chất. Ý nghĩa phương pháp luận, sự vận dụng của đảng ta.
Bài làm
Ngay từ khi ra đời, ĐCSVN đã lấy CNMLN làm nền tảng và vận dụng tư tưởng, lý luận đó vào
thực tiễn cách mạng VN để từ đó đề ra, đường lối, cương lĩnh đúng đắn nhằm lãnh đạo đất nước tiến lên
CNXH. Từ ĐH Đảng lần VI (tháng 12/1986) đến nay, đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới toàn diện và sâu sắc trên toàn đất nước, trong đó chủ trương đổi mới của đảng được VKĐHĐIX xác
định: “con đường CNH-HDH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa
có những bước nhảy vọt”. chủ trương này thể hiện ở sụ vận dụng đúng đắn quy luật chuyển hóa từ thay
đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại của Tiết học MLNin (họi tắt là quy luật L-C) vào
thực tiễn cách mạnh VN. Việc tìm hiểu quy luật lượng chất cũng giúp ta tránh những khuynh hướng sai
lầm nếu không nhận thức và áp dụng đúng quy luật vào thực tiễn.
Quy luật L-C là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BCDV, nó chỉ rõ cách thức của quá trình
vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.
Lượng là 1 pạm trù TH dùng để chỉ tính quy địng vốn có của sự vật về số lượng, quy mô, trình độ,
nhịp điệu, tốc độ của sự vận động, pát triển của sự vật hiện tượng cũng như các thuộc tính của nó.
Lượng là cái khách quan vốn có của sự vật hiện tượng. lượng có thể được xác định cụ thể, bằng
các công cụ đo lường. tuy nhiên, cũng có những tính quy định về lượng biểu thị dưới dạng trừu tượng và
khái quát. Một sự vật có rất nhiều chất cho nên nó cũng có rất nhiều sự khác nhau về lượng. sự pân biệt
giữa chấtvaf lượng cũng chỉ có tính tương đối.
Chất cũng là 1 pạm trù TH dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có SVHT, là sự thống nhất
hữu cơ của các thuộc tính làm cho nó là nó và phân biệt nó với cái khác.
Chất là cái khách quan vốn có của mọi SVHT, mà mỗ SVHT điều có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc
tính có những đặc trưng riêng về chất. do đó, 1 SVHT không chỉ có 1 chất mà có nhiều chất. chất là tổng
hợp những thuộc tính, khi những thuộc tính cơ bản của sự vật thay đổi thì chất cơ bản của sự vật đó cũng
thay đổi. chất còn pụ thuộc vào những yếu tố cấu thành và phương thức liên kết của các yếu tố đó.
Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
Bất kỳ SVHT nào cũng có chất và lượng. trong quá trình vận động và phát triển thì chất và lượng của sự
vật cũng biến đổi theo., nhưng sự thay đổi đó không diễn ra độc lập mà có sự liên kết chặt chẽ với nhau.
Nhưng k pải bất kỳ sự vật nào của lượng thay đổi thì chất thay đổi theo liền mà có thể đến một giới hạn
nào đó thì chất mới thay đổi theo. Khuôn khổ mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất
nếu tuyệt đối hóa một trong 2 mặt thì chúng ta sẽ rơi vào tư tưởng nóng vội (tả khuynh) hoặc tư tưởng bảo
thủ (hữu khuynh).
Khuynh hướng nôn nóng là khuynh hướng không quan tâm thực hiện quá trình tích lũy về lượng
mà chỉ chú ý thực hiện bước nhảy vọt làm thay đổi về chất mà trong khi đó chưa có đủ điều kiện tích lỹu
về lượng cần thiết. Những người có tư tưởng này trong hoạt động thực tiễn thường nóng vội, chủ quan duy
ý chí, họ cho rằng sự pát triển chỉ toàn những bước nhảy liên tục và có thể đốt cháy giai đoạn.
Ngược lại với khuynh hướng nông nóng giải quyết mọ việc là khuynh hướng bảo thủ chỉ chú ý đến
quáy trình tích lũy về lượng, không phát huy nỗ lực của nhân tố chủ quan, không dám thựuc hiện bước
nhảy vọt về chất khi có sự tích lũy đủ về lượng hoặc kéo dài sự tích lũy, chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi về
lượng.
Cả hai khuynh hướng trên điều dẫn đến những sai lầm quan trọng có thể làm cản trở hoặc kìm hãm sự
phát triển của SVHT đó. Trong thực tiễn VN trước thời kỳ đổi mới, đảng ta cũng có lúc pạm sai lầm của 2
khuynh hướng trên. Văn kiện đại hội VI đã nêu “do chưa nhận thức đầy đủ rằng TKQD lên CNXH là một
quá trình lịch sử tương đối dài, pải trãi qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chỉ đạ chủ quan, nóng vội
muốn bỏ qua những bước đi cần thiết…trên thực té, chúng ta đẩy mạnh CNH trong khi chưa có đủ tiền đề
cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lýkinh tế đã lỗi thời”. văn kiện còn nhận định trong công tác
tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm dổi mới công tác cán bộ. việc lựa chọn, bố trí
cán bộ vào các các cơ quan lãnh đjao và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không
đúng đăn, mang nặng tính hình thức…”chính những sai lầm này là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự khủng hoảng kinh tế XH trầm trọng ở nước ta trước thời kỳ đổi mới.
Từ những thất bại đó, đảng ta đã nhận thức và có tổng kết đánh giá kịp thời những sai lầm trên.
Đại hội VI của đảng đánh dấu bước đột pá đầu tiên của tư duy lý luận của Đảng trong viejc vận dụng nội
dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa L và C trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Công cuộc đổi mới mà đảng ta khởi xướng từ đại hội VI cho đến nay có ý nghĩa như là một quá
trình cách mạng bởi nó tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực đời sống XH. Trong quá trình
chuyển biến thì đó CNH-HDDH được xem là nhiệm vụ trọng tâm và pấn đấu 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu đề ra đảng ta khảng định tại VKDHD IX “con đường
CNH-HDDH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước
nhảy vọt”.
Tại văn kiện đại hội đảng lần thứ XI cho tháy sự thay đổi nhận thức của Đảng: “pải không ngừng
tồn tại và phát triển. Nhờ vậy, ngun lý này cũng trả lời câu hỏi các sự vật hiện tượng trong thế giới này
cso liên hệ với nhau khơng? Và theo quan điểm của CNDVBC thì các sự vật hiện tượng trong thới giới
này tồn tại bằng cách tác động ràng buộc quy định và chuyển hóa lẫn nhau, khơng có sự vật hiện tượng
nào tồn tại 1 cách cơ lập. Từ nội dung của ngun lý trên cũng đã làm rõ tính chất có mối liên hệ này cho
ta thấy:
Quan điểm duy vật biện chứng khơng chỉ khẳng định ở tính khách quan là mối liên hệ giữa các sự
vật hiện tượng là cái vốn có của các sự vật hiện tượng đó, nó khơng pụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
11
con người. Mà nó còn thể hiện ở tính phổ biến cụ thể là mối liên hệ diễn ra trong và giữa các sự vật hiện
tượng khác nhau, trong tự nhiên trong xh và trong tư duy. Trong tự nhiên mối liên hệ diễn ra giữa cơ thể
với mơi trường, giữa động vật và thực vật,;trong xh mối liên hệ diễn ra giữa các lĩnh vực của đời sống xh,
giữa các cộng đồng dân tộc và giai cấp; còn trong tư duy thì nó thể hiện ở q trình nhạn thức.vv. ngồi ra
no còn thể hiện ở tính phong phú và đa dạng của sự liên hệ đó cụ thể: có mối liên hệ bên ngồi và mối liên
hệ bên trong, có chủ yếu và thứ yếu, có mối liên hệ chung qt tồn bộ thế giới, có mối liên hệ chỉ bao
qt một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực rêng biệt của thế giới đó., mối liên hệ trực tiếp hay mối liên hệ
gián tiếp
Từ việc nghiên cứu ngun lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng chúng ta rút ra
quan điểm tồn diện trong việc nhận thứ, xem xét các sự vật và hiện tượng cũng như trong hoạt động thực
tiễn. với tư cách là một ngun tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan
điểm tồn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật chúng ta phải xem nó: một là, trong mối
liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó: hai là, xem
xét các sự vật hiện tượng phải xem mối liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng đó với sự vật hiện
tượng khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp).
Như vậy, quan điểm tồn diện khơng đồng nhất với các xem xét dàn trãi,liệt kê những thuộc tính
khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cáci quan trọng nhất của
sự vật hiện tượng đó.
Để xem xét các sự vật hiện tượng đó chúng ta cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét
giải quyết các ván đề mà thực tiễn đặt ra. u cầu của quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng
mức tới hồn cảnh lịch sử cụ thẻ đã làm phát sinh ra vấn đề đó. Qn triệt quan điểm tồn diện, quan
điểm lịch sử cụ thể chúng ta cần khắc phục và nghiêm khắc phê phán quan điểm phiến diện, và giáo điều.
phát triển CN nặng mà không chú ý phát triển phát triển công nghiệp nhẹ…
- Để khắc phục bệnh giáo điều cần từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện, thuần túy chỉ biết giải
thích bằng kinh nghiệm, chứng minh lý luận bằng lý luận cần chống đối lối tư duy bắt chước, sao chép
rập khuôn, thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm, truyền thống và điề kiện lòch sử cụ thể của đất
nước, của dân tộc tăng cường tổng kết thực tiễn bổ sung phát triển lý luận.
Từ những điều vưa trình bày ở trên có thể liên hệ trực tiếp tới tình hình đất nước ta, trong q trình
lãnh đjao cách mạng việt nam đảng ta ln tơn trọng qn triệt quan đierm tồn diện, trong kháng chiến
chống pháp đó là đường lối tồn diện chống thực dân pháp xâm lược. trong kháng chiến chống mỹ là đó là
đường lối của sự kết hợp giữa sức mạnh trong nước với sức mạnh thời đại, sức mạnh qn sự với sức
mạnh KT-CT-VH-ngoại giao…sức mjanh của 3 vùng chiến lược( rừng – núi; nơng thơn- đồng bằng – đơ
thị) và 3 mũi giáp cơng (chính trị - qn sự- binh vận). trong cơng cuộc đổi mới Đảng ta chủ trương dổi
mới tồn diện đồng bộ và triệt để song vẫn lấy quan điểm đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới tư duy là
khâu đột phá và xây dựng đảng là then chốt mà theo Văn kiện đại hội đảng lần thứ 7 chỉ đạo; trong văn
kiện Đại hội đảng tồn quốc lần thứ VIII cũng khẳng định ‘xét trên tổng thể, đảng ta bắt đầu cơng cuộc
đổi mới từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoặch định đường lối chính sách đối nội ,….xây dựng và
cũng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội”…Trong
VKDDH lần thứ X của Đảng đã tiếp tục khẳng định: “đổi mới tồn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi,
hình thức và cách làm phù hợp”
Bên cạnh ngun lý về mối liên hệ phổ biến thì cũng cần làm sáng tỏ nội dung của ngun lý về sự
phát triển thi mới nói lên được các vấn đề một cách sâu sắc nhất
Theo quan điểm duy vật biện chứng thì phát triển là một phạm trù TH dùng để khái qt q trình
vận động có định hướng từ tháp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hồn thiện đến hồn thiện hơn.
Như vậy, phát triển là trường hợp đặc biệt của sự vận động.trong q trình phát trển sẽ nẩy sinh những
tính quy định mới cao hơn về chất, làm tăng cường tính phức tạp của sự vật và sự liên hệ, làm cho cơ cấu
tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cùng chức năng vốn có của nó ngày càng hồn thiện
hơn.
Từ quan điểm tren cho thấy nguồn gốc của sự phát triển là nằm ngay trong bản thân của sự vật, do
mâu thuẩn củ sự vật hiện tượng quy định, phát triển là q trình tự thân của mọi sự vật hiện tượng. bên
cạnh nguồn gốc thì nó cũng cho ta thấy cách thức của sự phát triển là tích lỹ dần về lượng dẫn đến sự biến
đổi về chất và ngược lại và được diễn ra theo đường xoắn ốc trong đó phát triển là khuynh hướng chung
là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn mà đất nước đang đứng trước những thử thách lớn lao của
14
thời đại, hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải không ngừng đổi mới và không cho
phép mắc phải những sai lầm như đã có trước đây .
Vật chất theo quan điểm triết học Mác Lênin “là một phạm trù triết học đúng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Thực tại khách quan (tồn tại khách quan) là sự tồn tại có thật,
không phải do ý muốn của thần linh, thượng đế hoặc do ý thức chức quan của con người sản sinh ra, mà
đó là sự tồn tại, vận động, chuyển hóa và phát triển theo những quy luật vốn có của bản thân các sự vật,
hiện tượng, dù con người có muốn, có biết hay chưa biết về sự tồn tại đó thì chúng vẫn tồn tại.
Ý thức là pạm trù TH dùng để chỉ những hiện tượng, tinh thần, tư tưởng tâm lý diễn ra trong bộ óc
con ngươi là kết quả của óc người pản ánh hiện thực khách quan thông qua lao động và được hiện thực
hóa bằng ngôn ngữ.
Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan trong óc con người, có nghĩa
là:
+ ý thức pản ánh hiện thực khách quan thông qua quá trình lao động cải tạo thế giới.
+ Ý thức không chỉ pản ánh bề ngoài sự vật mà còn đi vào những mối liên hệ bên trong bản chất
quy luật vận động phát triển của sự vật.
+ ý thức có thể pản ánh trực tiếp hoặc gián tiêp sự vật thông qua các vỏ vật chất là ngôn ngữ bằng
phương pháp trừu tương hóa, khái quát hóa.
+ ý thức trên cơ sở pản ánh sự vật có thể tái tạo lại sự vật và thông qua thực tiễn để hiện thực hóa ý
thữ.
+ trên cơ sở ý thức đã có con người có thể tạo ra tri thức mới, tiên đoán, dự báo tưởng tượng ra cái
không có, ảo tưởng, huyền thoại…
Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện qua vai trò quyết định của
vật chất đối với ý thức.
Theo quan điểm của TH Mác thì vật chất là cơ sở cội nguồn sinh ra ý thức, quyết định nội dung và
khuynh hướng pát triển của ý thức bởi vì: ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan hay ý
thức có được hiện thực hóa hay không pải thông qua hoạt động vật chất. do đó, TH Mác khẳng định vật
chất quyết định ý thức.
ảo tưởng, chủquan.
- Khuynh hướng sùng bái sức mạnh của quy luật hạ thấp vai trò nhân tố chủ quan. Khuynh hướng này
sẽ dẫn đến bệnh bảo thủ trì trệ, ngại gian khổ, khó khăn, không có tinh thần cầu tiến. sai lầm của căn
bệnh này sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới, thậm trí cản trở cái mới, thỏa
mãnh với cái đã có. Bệnh bảo thủ trì trệ bao giờ cũng gắn với bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh
nghiệm, bệnh giáo điều và có nghĩa là bạn đồng hành với quan liêu, chủ nghĩa cá nhan, gia trưởng và
độc đoán. Đó là những nguyên nhân làm cản trở và thậm chí kéo lùi sự pát triển.
Từ những nhận thức về lý luận sau sắc trên thì chúng ta thấy thực tế căn bệnh chủ quan duy ý trí đã
tồn tại ở nước ta khá dài thời kỳ trước đổi mới, làm cho nước ta roi vào tình trạng khủng hoảng kinh
tế xã hội trầm trọng. Nhận thấy những khuyết điểm sai lầm tồn tại đó đảng ta đx chỉ rõ nguyên nhân
của mọi nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là bắt nguồn từ những sai lầm khuyết điểm trong sự lãnh
đjao và quản lý của nhà nước. khuynh hướng tư tưởng chủ quan duy ý chí với lối suy nghĩ và hành
động đơn giản nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan mà theo VKĐHĐ VI và VI đã xác định và
rút ra: “ những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách
lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.”.
Những nguyên nhân nào dẫn đến căn bệnh chủ ưuan duy ý chí, bro thủ trì trệ, kinh nghiệm và giáo
điều …là do: Nguyên nhân về mặt nhận thức đó là do sự yếu kếm lạc hậu về tư duy lý luận, theo VK
VI đã chỉ rõ “hoạt động tư tưởng về tổ chức củ đảng k theo kịp yêu cầu cách mạng”; nguyên nhân về
mặt lịch sử xã hội là do: xuất phát điểm thấp, nền sản xuất nhỏ với trình độ LLSX nhỏ, chế độ phong
kiến tồn tại lâu, trình độ học vấn còn hạn chế do điều kiện chiến tranh kéo dài…bên cạnh 2 nguyên
nhân trên thì còn có nguyên nhân mà Lê Nin và Chủ tịch HCM đã từng cảnh báo đó là “ kiêu ngạo
cộng sản”
Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từ những sai
lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm và đề ra
phương hướng, biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ, trì trệ nhằm từng bước sửa
chữa những sai lầm. Những phương hướng và nội dung trọng tâm là :
- tiếp tục kiên định đổi mới toàn diện và đồng bộ với những hình thức bước đi và cách làm phù hợp, lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Đại hội Đảng làn VI đã chỉ: “ đảng pảo luôn xuất pát từ thực tế, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều
kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”. và Đại họi đảng lần X cũng khẳng định tính nguyên
ta hiện nay.
Bài làm
Như chúng ta biết bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cĩng có những mặt thống nhất và những mặt
đối lập với nhau gọi chung là quy lậut mâu thuẩn. sự tồn tại của một quốc gia, một xã hội, một dân tộc nào
17
cũng sẽ có những mau thuẩn nhất định. Tại nước ta cũng đang tồn tại những mâu thuẩn mà theo các nhà lý
luận chính trị chỉ ra như sau:
- Mâu thuẫn giữa u cầu tăng trưởng phát triển kinh tế với sự bất cập của cơ chế, chính sách
khai thác nguồn lực (con người, tự nhiên, khkt) hiện nay.
- Mâu thuẫn giữ tính ưu việt của nền KTTT định hướng xhcn với những hạn chế trong việc tìm
ra các quyết sách khác phục mặt trái của KTTT.
- Mâu thuẫn giữ tính tất yếu khách quan phải nâng cao sự đồng thuận xã hội trong đổi mới đất
nước với sự tấn cơng nhằm phá hoại khối đại đồn kết dân tộc của các thế lực thù địch trong và ngồi
nước.
- Mâu thuẫn giữa q trình phát triển dân chủ với tình hình thiếu “giá đỡ” về lý luận cho q
trình đó.
- mâu thuẫn giữ tính tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với khả năng giữa vững độc lập,
tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội nhập.
- Hay tại VKDHD11 cũng chỉ ra: “ tình trạng suy thối về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống
của một bộ pận khơng nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng pí là nghiêm
trọng”
- Cũng trong VKDHD11 cũng chỉ ra: “các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn
biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các hiêu bài “dân chủ”,”nhân quyền” hòng làm thay đổi chê
độ chính trị ở nước ta.
Với những mâu thuẩn tồn tại như vậy và để hiểu vấn đề một cách sâu sắc chúng ta đi sâu vào
phân tích cơ sở lý luận của quy luật mâu thuẫn này, qua đó làm rõ lên bản chất của sự vật.
Trước tiên tìm hiểu về bản chất đặc trưng của quy luật mâu thuẩn chính là quy luật thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập, là 1 trong 3 quy luật cơ bản của pép biện chứng duy vật.
Để nắm rõ được nội dung cơ brn của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì
cần pải làm rõ các phạm trù: “mặt đối lập”; “sự thống nhất” và đấu tranh của cá mặt đối lập”
cách tùy tiện, nóng vội…
Theo văn kiện DHD11 trên thế giới vẫn tồn tại 4 mâu thuẩn cơ bản: mâu thuẩn giữa CNXH và
CNTB; giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản; giữa dân tộc với các nước đế quốc; giữa các nước trong hệ
thống tư bản.
Như đã nêu ở trên thật chất nước ta vẫn còn tồn tại các mâu thuẩn hiện có để giải quyết tốt các mâu
thuẩn đó thì chúng ta cần pải định hướng triệt để con đường đi lên CNSH, vừa tập trung pát triển kinh tế,
nhưng pải giải quyết các vấn đề xh như vấn đề môi trường, an sinh xh, bệnh viện,trường học…; giải quyết
sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa người ngèo và nguời giàu…
Để kết cho những nội dung trên tôi xin trích trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ở nước ta có đoạn viết: “để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường XHCN,
diều quan trọng nhất là pải biết cải biến căn bản tình trạng kt-xh kém pát triển, chiến thắng những lực
lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.”./.
Nếu có thời gian thì pân tích những tồn tại đã nêu ở trên một cách chi tiết.
19
Câu 5: mối quan hệ biện chứng giữa lý luạn và thực tiễn? sự vận dụng của đảng ta…
Bài làm
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin “thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính
lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên & xã hội”. Có 3 hình thức cơ bản của hoạt động thực
tiễn bao gồm:
- Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản đầu tiên của thực tiễn, nó đóng vai trò
quyết định đối với các h động khác vì nó tạo ra của cải vật chất.
- Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau trong xh
nhằm cải biến những mối quan hệ xh thúc đẩy xh pát triển.
- Thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn là h đọng nhân tạo của con người.
Theo quan điểm của TH Mac- Lênin, thì thực tiễn chính là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức
và còn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức con người.
- Thực tiễn là cơ sở và là động lực của lý luận vì trong hoạt động thực tiễn con người tác động vào
các sự vật, hiện tượng làm cho chúng bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính để con người nhận thức. Những
lý luận mà con người đạt được dù trực tiếp hay gián tiếp ở thế hệ này hay thế hệ khác xét đến cùng điều
Vậy vai trò của lý luận đối với thực tiễn ra sao, nó được thể hiện ở 3 mặt: lý luận là “kim chỉ nam”
cho hoạt động thực tiễn đó chính là hệ tư tưởng để định hướng; bằng lý luận khoa học có thể thúc đẩy
hoặc lý luận pản khoa học có thể kìm hãm thực tiễn; và dùng lý luận có thể sự kiến dự báo được sự vận
động pát triển của thực tiễn trong tương lai.
20
Khi nói đến thực tiễn và lý luận thì cần pải nắm rõ được nguyên tắc thống nhất của chúng. Thực tiễn
và lý luận không thể tách rời nhau mà giữa chúng có sự liên hệ, xâm nhập vào điều kiện cho nhau cùng
phát triển. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của TH MLN. Theo HCM: “
Thống nhất lý luận với thực tiễn là 1 nguyên tắc căn bản của CNMLN. Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” hoặc “ có kinh
nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”.
Việc quán triệt nguyên tắc thống nhất gữa LL và TT có ý nghĩa quan trọng, giúp ta tránh được bệnh
kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều và rút ra được những quan điểm đúng đắn trong nhận thức vào cuộc
sống.
Yêu cầu của quan điểm thực tiễn là nhận thức, lý luận pải luôn xuất pát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở
thực tiễn và bám sát thực tiễn. Thực tiễn đổi mới ở nước ta là cơ sở là động lực thôi thúc nhận thức, lý
luận pát triển không ngừng nâng cao lý luận lên tầm cao mới. Đại hội Đảng lần X đã chỉ ra biện páp: “
Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận , giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc
sống đặt ra”.
Năm được quan điểm của thực tiển thì cần pải phát huy vai trò của lý luận. Yêu cầu của vai trò lý
luận là pải nâng cao trình độ tưu duy lý luận, đổi mới phương pháp tư duy cho phù hợp, đổi mới công tác
lý luận hướng công tác lý luận vào trong những vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Lý luận đổi mới ở nước ta
ngày càng có vai trò quan trọng tác động trở lại thực tiễn, làm sáng tỏ vai trò dẫn đường soi lối định
hướng của Đảng ta. Đại hội Đảng X đã chỉ ra: “ Thường xuyên tổng kết thực tiễn để pát triển lý luận, dự
báo tình hình và xu thế pát triển của tế giới, khu vực và trong nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc
hoặch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước.”
Tuy nhiên, tren thực tế ở nước ta công tác lý luận vẫn còn nhiều bất cập, vẫn còn tình trạng lý luận
tách rời với thực tiễn, chưa sâu sắc và nhạy cảm pát hiện các vấn đề mâu thuẩn. Nghị quyết Đại hội Đảng
lần X chỉ ra: “ công tác lý luận chưa làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới”.
Chính vì vậy chưa bao giờ mà lý luận lại cần thiết và có tầm quan trọng như hiện nay. Nó ảnh hưởng lớn
nguyên xi kinh nghiệm địa pương khác, người khác làm kinh nghiệm của địa puuwong mình, bản thân
mình )
Biểu hiện của hai căn bệnh trên là do nguyên nhân
- không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa LL và TT. Hoặc tuyệt đối hóa thực tiễn,kinh nghiệm
hoặc tuyệt đối hóa LL.
- Yếu kém về LL chẳng những dẫn đến bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáo điều.
- Ngoài nguyên nhân lịch sử thì xã hội cũng góp pần gây nên căn bệnh trên do nền xs nhỏ, ảnh
hưởng của tư tưởng pong kiến, chiến tranh kéo dài, cơ chế quản lý bao cấp quá lâu )
Khi đã tìm ra được những nguyên nhân cụ thể thì Đảng ta cũng đã đề ra nhưng pương hướng khắc
phục để hạn chế 2 căn bệnh trên đó là:
- Lý luận pải xuất pát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, tổ chức hoạt động thực tiễn, thường xuyên tổng
kết thực tiễn để bổ sung, pát triển lý luận.
- Phải coi trọng lý luận, nâng cao trình độ tư duy lý luận, trình độ trí tuệ của Đảng. Đó là phương
hướng quan trọng và cấp bách để khắc phụ hai căn bệnh trên.
Với những thành tựu mà nước ta đạt được sau đổi mới, điều đó cũng đủ chứng minh cho luận điểm,
phương hướng đúng đắn của Đảng ta: “chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công
cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và sáng tạo, mới tránh được những sai lầm, những
bước đi quanh co phức tạp”.
Nói tóm lại, đạt được những thành tựu nói trên là do Đảng ta quán triệt quan điểm thực tiễn của chủ
nghĩa Mác - Lê nin vào nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận vận dụng đúng qui luật, với bản
chất chính trị vững vàng. Thường xuyên nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận bổ sung lý
luận, đề ra chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất
nước. Trên tinh thần đó Nhà nước có cố gắng hơn trong việc điều hành, quản lý; toàn dân, toàn quân phát
huy lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết nhất trí, cần cù sáng tạo, năng động, tiếp tục thực hiện
đổi mới, ra sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.