Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MA VĂN LÂM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN,
HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ
TỈNH TUYÊN QUANG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Mai Ngọc Cƣờng THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Hoàn
thiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh
Tuyên Quang” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Các tài liệu, số liệu trong luận văn do cá nhân tôi thu thập từ số liệu
thống kê, các báo cáo sơ kết, tổng kết của Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang, các
sự giúp đỡ, hƣớng dẫn của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trƣờng, Phòng Đào tạo, các
khoa, phòng, các nhà khoa học, thầy, cô giáo của Trƣờng Đại học kinh tế và
Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về
mọi mặt trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Trân trọng cảm ơn sự hƣớng dẫn tận tình của GS.TS. Mai Ngọc Cƣờng
đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Trân trọng cảm ơn những ý kiến góp ý quý báu của lãnh đạo Cục Thuế,
các phòng thuộc Cục Thuế, các đồng nghiệp tại địa điểm tôi nghiên cứu thực
hiện luận văn. Tuyên Quang, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Ma Văn Lâm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
1.3.1. Kinh nghiệm tổ chức hoạt động tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp
thuế ở một số nƣớc trên thế giới 21
1.3.2. Kinh nghiệm hoàn thiện công tác tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp
thuế ở Việt Nam 26
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Tuyên Quang 29
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 33
2.1. Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 33
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 33
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu 33
2.2.2. Phƣơng pháp xử lý và tổng hợp số liệu 33
2.2.3. Phƣơng pháp phân tích số liệu 34
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
2.4. Khung phân tích của luận văn 34
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ
NGƢỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH TUYÊN QUANG 35
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến công tác tuyên
truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại cục thuế tỉnh tuyên quang 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.2. Dân số và lao động của tỉnh Tuyên Quang 37
3.1.3. Tình hình phát triển kinh tế và phát triển doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh Tuyên Quang 38
3.1.4. Khái quát về tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Cục Thuế tỉnh
Tuyên Quang 39
3.2. Thực trạng công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại Cục
thuế tỉnh Tuyên Quang 47
3.2.1. Thực trạng công tác tuyên truyền NNT 48
3.2.2. Thực trạng công tác hỗ trợ NNT 54
3.2.3. Tác động của công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT của cục thuế
Tuyên Quang 59
4.3. Một số khuyến nghị với các cơ quan quản lý nhà nƣớc 90
4.3.1. Đối với Tổng cục Thuế 90
4.3.2. Đối với tỉnh Tuyên Quang 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii STT
CHỮ
1
BTC
Bộ Tài chính
2
TCT
Tổng cục Thuế
3
CQT
4
CP
Cổ phần
viii
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Tình hình dân số, lao động tỉnh Tuyên Quang năm 2011-2013 38
Bảng 3.2. Số lƣợng cán bộ, công chức qua các năm 2011 - 2013 47
Bảng 3.3: Kết quả công tác tuyên truyền tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang
(2011-2013) 53
Bảng 3.4: Kết quả công tác hỗ trợ NNT tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang
(2011-2013) 57
Bảng 3.5. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuế tại Cục Thuế tỉnh
Tuyên Quang (2011 - 2013) 59
Bảng 3.6: Số thu NSNN trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (2011-2013) 60
Bảng 3.7: Một số các chính sách thuế đƣợc ban hành giai đoạn 2011-2013 64
Bảng 3.8. Quy định của Chính phủ về diện tích làm việc của cán bộ công chức 68
Sơ đồ 2.1: Khung phân tích của luận văn 34
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang 44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
Từ nhận thức về vị trí và tầm quan trọng hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ
ngƣời nộp thuế, qua thời gian công tác tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang tôi đã
chọn đề tài “Hoàn thiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại
Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về
công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế.
- Đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại Cục
Thuế tỉnh Tuyên Quang; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn
chế trong tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ
ngƣời nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là công tác tuyên truyền, hỗ trợ ngƣời
nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang, bao gồm công tác tuyên truyền thuế
và hỗ trợ NNT cùng với các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu tập hợp nghiên cứu từ năm 2011-2013, đề xuất
cho đến năm 2020
- Về không gian: Tại Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác tuyên
truyền, hỗ trợ NNT.
- Từ thực trạng công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT tại Cục Thuế tỉnh
Tuyên Quang, luận văn đã chỉ ra những điểm bất cập về nội dung tuyên truyền,
hỗ trợ NNT hiện nay, cũng nhƣ các nguyên nhân có liên quan đến môi trƣờng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN,
HỖ TRỢ NGƢỜI NỘP THUẾ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công tác tuyên truyền, hỗ trợ
ngƣời nộp thuế
1.1.1. Thuế và mối quan hệ giữa các chủ thể trong thực hiện nghĩa vụ thuế
1.1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nƣớc, vì
Nhà nƣớc và do Nhà nƣớc. Dƣới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khi
còn Nhà nƣớc là còn thuế. Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà
nƣớc nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Tuy nhiên, cho
đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác nhau và ngƣời ta vẫn chƣa có quan
điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng nhƣ nhìn chung chƣa phản ánh đầy
đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì
thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải
có những sự đóng góp của những ngƣời công dân của Nhà nƣớc đó là thuế
khóa…” (Mác - Ăng ghen).
Ở những góc độ khác nhau thì các nhà kinh tế đƣa ra các quan điểm
khác nhau về thuế.
Ở góc độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nƣớc
sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ
sang khu vực công.
thuế là một quan hệ hợp đồng mà thanh toán tiền thuế là kết quả của việc thực
hiện một bản hợp đồng giữa Nhà nƣớc và các chủ thể khác trong xã hội. Theo
đó, Nhà nƣớc là ngƣời tổ chức điều hành xã hội, cung ứng các tiện ích công
cộng, ban hành các thể chế pháp lý, tạo hành lang pháp lý duy trì sự tồn tại
bình đẳng của các chủ thể cùng sống trong Nhà nƣớc mình. Các chủ thể trong
xã hội hƣởng những lợi ích này do Nhà nƣớc cung ứng, nên phải thực hiện
nghĩa vụ thanh toán cho Nhà nƣớc một khoản giá trị nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Ngƣời nộp thuế thƣờng là chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh hay tiến hành các hoạt động khác để kiếm tìm giá trị mới nhƣ xuất
nhập khẩu, hoặc thụ hƣởng lợi ích vật chất từ quá trình sáng tạo, lao động hay
do nắm giữ những quyền về tài sản nhất định. Họ tác động vào đối tƣợng chịu
thuế của một sắc thuế, chịu sự điều chỉnh của sắc thuế đó và phải thực hiện
nghĩa vụ cụ thể trong tổng thể nghĩa vụ thuế là đăng ký, kê khai, nộp và quyết
toán thuế. Nhƣ vậy, NNT có quyền đƣợc hƣởng các tiện ích và phúc lợi công
cộng do Nhà nƣớc cung cấp. Những lợi ích vật chất hay tinh thần mà Nhà
nƣớc cung cấp là những giá trị đặc biệt mà không chủ thể nào trong xã hội có
khả năng thực hiện nhƣ: xây dựng các công trình công cộng, cung ứng phúc
lợi xã hội, ban hành pháp luật, thành lập các cơ quan quản lý…Các giá trị
đƣợc phân bổ trở lại cho các chủ thể, không chỉ dành riêng cho NNT, mà
đƣợc phân bổ chung trong cộng đồng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của
Nhà nƣớc và thực tiễn kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Vì vậy mà thuế
đƣợc xem là khoản thu không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp. Bởi lẽ,
không phải chủ thể nào trong xã hội cũng phải nộp thuế dù cho họ có thể là
NNT. Họ chỉ phải nộp khi quan hệ xã hội mà họ tham gia chịu sự điều chỉnh
của sắc thuế và quan hệ ấy mang giá trị. Mặt khác, việc NNT thụ hƣởng các
tiện ích Nhà nƣớc cung cấp mang tính trừu tƣợng vì không xác định cụ thể
tin về pháp luật thuế đến với mọi ngƣời dân nhằm giúp cho họ hiểu rõ đƣợc
bản chất và ý nghĩa của việc nộp thuế; quyền và nghĩa vụ của mình trong việc
nộp thuế.
1.1.2.2. Đặc điểm công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Hoạt động TTHT cho NNT, luôn mang những đặc điểm của dịch vụ
công, ngoài ra bản thân nó cũng có những đặc điểm mang tính dịch vụ chuyên
biệt. Từ kết quả quan sát, nghiên cứu và thực tế cho thấy có đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, là những hoạt động có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung
của cả cộng đồng. Hoạt động này do các CQT đại diện cho chủ thể là Nhà
nƣớc đứng ra thực hiện. Đây là những dịch vụ phục vụ các lợi ích tối cần thiết
đảm bảo mọi ngƣời trong xã hội đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
công bằng. Để cung ứng các dịch vụ công này, các CQT đƣợc ủy nhiệm cung
ứng có sự giao tiếp với ngƣời dân ở những mức độ khác nhau khi thực hiện cung
ứng dịch vụ.
Thứ hai, việc trao đổi dịch vụ này thông qua quan hệ thị trƣờng đầy đủ.
Thông thƣờng, ngƣời sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói
đúng hơn là đã trả tiền dƣới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nƣớc để
Nhà nƣớc tổ chức việc cung ứng một cách đều đặn nhƣ một sự "thỏa thuận
trƣớc". Trong một số chừng mực nào đó ngƣời sử dụng vẫn phải trả thêm một
phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, đối với các loại dịch vụ này, Nhà nƣớc
vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng không nhằm vào mục tiêu thu lợi
nhuận. Mọi ngƣời dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít) đều có quyền hƣởng sự
cung ứng dịch vụ này ở một mức độ tối thiểu, với tƣ cách là đối tƣợng phục vụ
của chính quyền. Lƣợng dịch vụ công mà mỗi ngƣời tiêu dùng không phụ
thuộc vào mức thuế mà ngƣời đó đóng góp.
Thứ ba, khác với những loại dịch vụ thông thƣờng đƣợc hiểu là những
nghề kinh doanh hiện tại, thu nhập hiện có thì phải nộp những khoản thuế gì
và thủ tục cần thực hiện ra sao. Giải quyết các câu hỏi trên là nhiệm vụ của bộ
phận TTHT trong cơ quan thuế. Thông qua các phƣơng tiện thông tin đại
chúng, các phƣơng thức liên lạc cá nhân, cơ quan thuế cần phải truyền tải
đƣợc những thông tin cần thiết đến đúng đối tƣợng pháp luật thuế điều chỉnh.
Lúc này, cơ quan thuế đóng vai trò nhƣ một cầu nối, một kênh cung cấp thông
tin phổ biến pháp luật của Nhà nƣớc đến với mọi ngƣời dân.
Thứ hai, công tác TTHT góp phần giúp cho NNT đơn giản hơn trong
việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nƣớc. Nhờ việc triển khai ứng dụng các thành
quả phát triển của công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan thuế, NNT
có thể thực hiện các hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế…mà không cần trực
tiếp đến cơ quan thuế. Tại một số quốc gia việc kê khai thuế có thể thực hiện
qua hệ thống điện thoại đi động. Máy sẽ tự đọc các chỉ tiêu kê khai còn ngƣời
sử dụng sẽ bấm phím số điện thoại để kê khai các thông tin và số liệu trên tờ
khai. Xu hƣớng phát triển phổ biến của các nƣớc trên thế giới là triển khai dịch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
vụ thuế điện tử. Qua đó, NNT có thể truy cập vào các tài khoản cá nhân của
mình để thực hiện kê khai, nộp thuế, yêu cầu giải đáp vƣớng mắc qua mạng
Internet. Nhờ việc triển khai các ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi
phí đi lại cũng nhƣ sự phiền hà trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Thứ ba, với các dịch vụ tƣ vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải
quyết các vấn đề khó khăn, vƣớng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định
về thuế đối với trƣờng hợp của mình, từ đó có các định hƣớng, chiến lƣợc
kinh doanh cho phù hợp.
Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng
của NNT. Trƣớc hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của ngƣời dân và các
tổ chức, cá nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thông qua các
thông tin cần xây dựng đƣợc hệ thống các cơ sở dữ liệu đồng bộ, tập trung,
hiện đại, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời. Bên cạnh đó, công
tác TTHT giúp cho cơ quan thuế có thể giảm bớt đƣợc chi phí cho hoạt động
quản lý và tập trung cho các nhiệm vụ phát triển khác.
Thứ hai, thực hiện tốt công tác TTHT góp phần cải thiện hình ảnh của
cơ quan thuế. Nếu cơ quan thuế khi đặt nhiệm vụ chỉ tập trung vào số thu thì
các chức năng quản lý, cƣỡng chế thu nợ, thanh tra, kiểm tra để tận thu tiền
thuế. Và nhƣ thế, khoảng cách giữa cơ quan thuế và NNT ngày càng nới
rộng. Khi đó, hình ảnh về cơ quan thuế chỉ còn đƣợc nhắc đến với những
công việc mang tính quản lý hành chính mà không cần biết đến quyền lợi
chính đáng của NNT. Tuy nhiên, việc chủ động cung cấp các dịch vụ TTHT
cho NNT, cơ quan thuế sẽ đóng vai trò là ngƣời bạn đồng hành, ngƣời trợ
giúp cho NNT hiểu về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, hiểu về chính sách thuế
và biết làm thế nào để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nƣớc. Qua đó, nâng cao
vai trò, vị thế và cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế trong con mắt NNT và
cả cộng đồng.
Thứ ba, công tác TTHT NNT là một trong những phƣơng pháp, công
cụ quan trọng nhất để đạt tới mục đích là sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của
NNT. Một trong các biện pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4
nhóm sau:
+ Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân thủ: Đây là nhóm chiếm số lƣợng
lớn nhất trong tổng số NNT. Nhóm này luôn có xu hƣớng chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định, thủ tục về thuế. Do đó, cơ quan thuế cần tạo điều kiện tốt
nhất để NNT thuộc nhóm này hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình.
+ Nhóm NNT có ý thức tuân thủ nhƣng chƣa thực hiện đầy đủ các quy
xã hội, làm cho nhận thức và hiểu biết của ngƣời dân nói chung và của NNT
nói riêng về thuế còn hạn chế.
Bên cạnh đó, chính sách thuế của nƣớc ta cũng tƣơng đối phức tạp: một
luật thuế ra đời, kèm theo cả nghị định và thông tƣ, nhiều luật thuế còn trùng
nhau… Một trong những tiêu thức để đánh giá một hệ thống thuế tốt là tính
hiệu quả của hệ thống đó mà thể hiện rõ nét là tính tự giác tuân thủ tự nguyện
cao trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nƣớc của NNT. Trên cơ
sở các thông tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp, NNT tiết kiệm
đƣợc chi phí, thời gian, công sức dành cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và chấp
hành pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm không cố ý trong quá
trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nƣớc. Sự tự giác chấp hành nghĩa
vụ thuế và chấp hành đúng không những sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ
quan thuế nhƣ chi phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy thu,
cƣỡng chế mà còn giảm tỷ lệ thất thu cho NSNN.
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự gia tăng về số lƣợng
NNT với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn.
Vì vậy, càng cần thiết phải đẩy mạnh công tác TTHT NNT nhằm làm cho các
tổ chức, mọi cá nhân và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế,
hiểu rõ đƣợc bản chất tốt đẹp và ý nghĩa quan trọng của việc nộp thuế, đó là
nghĩa vụ thiêng liêng và quyền lợi chính đáng của bản thân NNT. Mọi hành vi
trốn thuế, tránh thuế, gian lận thuế không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà
còn là hành vi vi phạm đạo đức công dân, dƣ luận xã hội cần phải lên án,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
không khoan nhƣợng. Từ đó, xây dựng ý thức tự giác chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định về pháp luật thuế trong toàn dân, toàn xã hội.
Đứng trƣớc những yêu cầu trên, rõ ràng cƣ quan thuế các địa phƣơng
trong đó có Cục Thuế Tuyên Quang cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
khen thƣởng NNT chấp hành tốt pháp luật về thuế.
1.2.1.2. Nội dung hỗ trợ NNT
Hỗ trợ NNT tức là việc hƣớng dẫn, giải thích, tƣ vấn cho NNT hiểu rõ
các vấn đề liên quan đến chính sách, chế độ thuế đã đƣợc quy định. Khi ngƣời
nộp thuế có vƣớng mắc trong quá trình kê khai, tính thuế, quyết toán thuế
hoặc các vấn đề có liên quan khác, họ có thể đề nghị cán bộ thuế tƣ vấn.
Hoạt động hỗ trợ NNT có thể bao gồm các nội dung:Hƣớng dẫn, tƣ vấn
các nội dung về chính sách thuế; Hƣớng dẫn, tƣ vấn các thủ tục, quy trình
chấp hành nghĩa vụ thuế nhƣ thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, xin
miễn giảm thuế…; Hƣớng dẫn tƣ vấn cách lập các mẫu biểu báo cáo về thuế;
Tƣ vấn các vấn đề liên quan đến thuế nhƣ kế toán, cách quản lý, sử dụng hóa
đơn, chứng từ…; Hƣớng dẫn và cung cấp các thông tin cảnh báo về các
trƣờng hợp trốn thuế, gian lận thuế, các chế tài xử phạt đối với các hành vi vi
phạm pháp luật về thuế. Và giải đáp các vƣớng mắc phát sinh trong quá trình
thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT.
1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Hoạt động TTHT cho NNT là quá trình tiếp nhận, trao đổi thông tin lẫn
nhau giữa CQT và NNT. Chính vì thế, chất lƣợng hoạt động TTHT cho NNT
và sự hài lòng của NNT chịu sự tác động của một số nhân tố cả khách quan
lẫn chủ quan. Có thể nêu ra một số vấn đề cụ thể có ảnh hƣởng đến hoạt động
TTHT cho NNT nhƣ sau:
1.2.2.1. Chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước
Là việc NNT có đƣợc những thông tin quy định về bộ thủ tục hành
chính, tiến trình giải quyết công việc của CQT, khi có những chậm trễ trong
giải quyết công việc; là khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác với
những gì đã cam kết và hứa hẹn với NNT nhƣ: giải quyết công việc kịp thời,