Nâng cao hiệu quả đầu tư công trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ QUANG HƢNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

nghiên cứu của tôi; số liệu và kết luận nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này
chƣa hề đƣợc công bố trên các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Thái Nguyên, ngày……tháng…… năm 2014
Tác giả luận văn Lê Quang Hƣng ii
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, tác giả muốn gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Cúc, đã tận tình hƣớng dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả chân thành cảm ơn các thầy giáo Trƣờng Đại học Kinh tế và Quản trị
kinh doanh, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cần thiết để tác giả có thể
triển khai và hoàn thành đề tài đúng tiến độ.

.
Tác giả mong muốn nhận đƣợc sự hƣớng dẫn, đóng góp ý kiến của quý thầy, cô
để hoàn thiện luận văn và rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau này.
Trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày……tháng…… năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Quang Hƣng


2.3.2. Chọn điểm nghiên cứu 32
2.3.3. Thông tin nghiên cứu 32 iv
2.3.4. Phƣơng pháp phân tích thông tin 34
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 35
2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng hoạt động đầu tƣ công trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên 35
2.4.2. Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ công trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên 35
Chƣơng 3. T
38
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hƣởng đến hoạt động đầu tƣ
công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 38
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
3.2. Thực trạng hoạt động đầu tƣ công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 47
3.2.1. Cơ sở pháp lý phân bổ vốn đầu tƣ từ Ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên 47
3.2.2. Diễn biến tổng nguồn vốn đầu tƣ công trong những năm qua 48
3.2.3. Tỷ lệ đầu tƣ công trên GDP 57
3.2.4. Mức độ phân bổ đầu tƣ công theo các ngành và lĩnh vực 59
3.3. Phân tích hiệu quả đầu tƣ công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 62
3.3.1. Hệ số ICOR 62
3.3.2. Hiệu quả đầu tƣ công qua quá trình hình thành và triển khai các
Chƣơng trình dự án 66
3.3.3. Hiệu quả đầu tƣ công thể hiện qua kết quả phiếu điều tra 73
3.3.4. Một số dự án đầu tƣ công thiếu hiệu quả trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
trong những năm gần đây 85

KCN
: Khu công nghiệp
NSNN
: Ngân sách Nhà nƣớc
WB
: Ngân hàng thế giới
vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số liệu thể hiện mẫu điều tra 34
Bảng 3.1: Cơ cấu vốn đầu tƣ toàn xã hội của tỉnh Thái Nguyên theo nguồn
vốn từ năm 2004 đến năm 2013 50
Bảng 3.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ công của Thái Nguyên giai đoạn 2004 - 2013 54
Bảng 3.3: Đầu tƣ công/GDP của Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 57
Bảng 3.4: Vốn đầu tƣ công của Thái Nguyên phân bổ cho các ngành kinh tế
giai đoạn 2001 -2013 59
Bảng 3.5: Hệ số ICOR đầu tƣ công của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 -2013 63
Bảng 4.1: Cơ cấu dân số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 107 viii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các mối quan hệ trong hoạt động đầu tƣ công 18
BIỂU ĐỒ
Biều đồ 3.1: Vốn đầu tƣ xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong 10 năm 2004 - 2013 49
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ toàn xã hội của tỉnh Thái Nguyên theo nguồn

trên góc độ lợi nhuận kinh doanh), khó thu hút đầu tƣ
p, đòi hỏi phải có sự đầu tƣ từ Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, để chắc chắn rằng những đầu tƣ đó có thực sự đem lại hiệu quả
hay chƣa? Những lợi ích thu về có tƣơng xứng với nguồn lực bỏ ra hay không? Có
làm làm gia năng lực cạnh tranh của tỉnh hay không? mức sống của nhân dân có
đƣợc cải thiện hay không thì cần phải có một quá trình đánh giá nghiêm túc, mang
tính khoa học. Mặt khác, trong khi nguồn vốn từ ngân sách có hạn, việc đề ra
nguyên tắc nhằm quản lý chặt chẽ các nguồn lực, đƣa ra sự lựa chọn cơ cấu đầu tƣ
hợp lý giữa các ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả đầu tƣ
công là vấn đề bức thiết đối với Thái Nguyên hiện nay. 2
Với lý do nhƣ vậy, để ứng dụng những kiến thức đã đƣợc trang bị từ nhà
trƣờng vào thực tiễn, tôi chọn Đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư công trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu
tƣ công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên góp phần khai thác tốt các tiềm năng thế
mạnh của địa phƣơng vào phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của
nhân dân.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống lý luận cơ bản về đầu tƣ công, những nhân tố ảnh hƣởng và các
tiêu chí đánh giá về hiệu quả đầu tƣ công. Đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn
một số nƣớc trong công tác quản lý đầu tƣ công có thể áp dụng vào địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
- Phân tích tình hình đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên. Chỉ rõ những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả đầu tƣ công trên địa bàn
tỉnh, kết quả hạn chế và nguyên nhân.

Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động đầu tƣ công
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 4
Chƣơng 1

1.1. Một số vấn đề lý luận về đầu tƣ và đầu tƣ công
1.1.1. Đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư
Đầu tƣ là một khái niệm rộng, ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta
lại có những cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về hoạt động đầu tƣ.
Theo kinh tế học thì đầu tƣ đƣợc hiểu là tăng vốn tƣ bản nhằm tăng cƣờng
sức sản xuất trong tƣơng lai. Có nghĩa là đầu tƣ là việc bỏ tƣ bản, bỏ vốn động nào
đó để đạt đƣợc mục đích kinh tế, là hoạt động mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tƣ.
Đầu tƣ còn đƣợc gọi là hình thành tƣ bản hoặc tích lũy tƣ bản. Chỉ có tăng tƣ bản
làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới đƣợc tính là đầu tƣ, còn tăng tƣ bản trong
lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không đƣợc coi là đầu tƣ.
Theo cách hiểu thông thƣờng nhất trong xã hội, đầu tƣ là việc bỏ vốn ra bằng
các tài sản hữu hình (tiền, nhà xƣởng, máy móc, ) hoặc vô hình (phát minh, sáng
chế, thƣơng hiệu, ) để kinh doanh trong một thời gian tƣơng đối dài nhằm đạt đƣợc
lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã hội nào đó.
Luật Đầu tƣ năm 2005, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tƣ nhằm
mục đích kinh doanh, đã định nghĩa: “Đ
, theo đó hoạt động đầu tƣ đƣợc hiểu là
hoạt động của nhà đầu tƣ trong quá trình đầu tƣ bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tƣ,
thực hiện và quản lí dự án đầu tƣ.

quan, doanh nghiệp Nhà nƣớc. Đối với chủ thể là cá nhân, tổ chức tƣ nhân thì mục
đích cao nhất là để thu về lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí đầu tƣ. Thêm vào đó, những
dự án đầu tƣ có chủ đầu tƣ là các chủ thể này thƣờng có thời gian thực hiện ngắn, thời
gian thu hồi vốn nhanh và tập trung vào các dự án kinh doanh, thƣơng mại. Đối với
chủ thể là Nhà nƣớc, việc đầu tƣ thƣờng tập trung cho các lợi ích xã hội, quốc gia và
môi trƣờng, vấn có lợi ích kinh tế tuy nhiên lợi ích này chỉ là thứ cấp. Các dự án đầu
tƣ đƣợc Nhà nƣớc tiến hành thƣờng là những dự án đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng (điện,
đƣờng, trƣờng, trạm), môi trƣờng và thực hiện mục tiêu chung về phát triển kinh tế,
xã hội của Quốc gia. Cũng chính vì lý do đó mà thời gian và nguồn vốn đầu tƣ cần
thiết cho việc thực hiện các dự án này thƣờng rất lớn. 6
+ Nguồn vốn đầu tƣ thƣờng là sở hữu của chủ thể đầu tƣ. Tuy nhiên, có
trƣờng hợp, nguồn vốn này không thuộc sở hữu của chủ thể đầu tƣ. Đặc biệt nếu
chủ thể đầu là Nhà nƣớc hoặc các cơ quan Nhà nƣớc. Việc đầu tƣ thƣờng đƣợc tiến
hành thông qua một chủ đầu tƣ khác mà không phải là Nhà nƣớc. Nhà nƣớc sẽ nắm
vai trò kiểm soát chung đối với dự án nhƣng lại không trực tiếp tham gia vào quá
trình thực hiện dự án đầu tƣ. Đặc điểm này của hoạt động đầu tƣ ở khu vực Nhà
nƣớc đòi hỏi, giữa chủ sở hữu và chủ thể đầu tƣ phải có quy ƣớc, giao kèo dƣới
hình thức nào đó để việc quản lý nguồn vốn này đảm bảo đúng mục đích.
Xuất phát tƣ những đặc điểm của hoạt động đầu tƣ nói chung, ta có thể phân
loại hoạt động đầu tƣ ra thành đầu tƣ tƣ nhân và đầu tƣ Nhà nƣớc (hay còn gọi là đầu tƣ
công) bởi hai hoạt động này mặc dù đều là hoạt động bỏ vốn ra để thực hiện một hoạt
động thu lại lợi ích nhƣng lại mang những đặc thù riêng. Đầu tƣ tƣ nhân thƣờng sử
dụng nguồn vốn nhỏ, tự túc nhằm có đƣợc lợi nhuận cao trong khi đầu tƣ công lại
hƣớng đến những lợi ích mang tính xã hội, phục vụ cho cộng đồng và việc đánh giá
hiệu quả của hoạt động đầu tƣ công thƣờng phải đƣợc tiến hành trong dài hạn
1.1.2. Đầu tư công
1.1.2.1. Khái niệm đầu tư công

nguồn vốn nhà nƣớc để đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh.
Theo cách hiểu trên thì lĩnh vực đầu tƣ công sẽ bao gồm: Chƣơng trình mục
tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng - kĩ thuật, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; các
dự án đầu tƣ không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,
y tế, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác; Chƣơng trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt
động của các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc
mua sắm, sữa chữa các tài sản cố định của các tổ chức này; Các dự án đầu tƣ của cộng
đồng dân cƣ, tổ chức chính trị - xã hội đƣợc hỗ trợ tƣ vốn nhà nƣớc theo qui định của
pháp luật; Chƣơng trình mục tiêu, dự án đầu tƣ công khác theo quyết định của Chính
phủ; Các hoạt động đầu tƣ kinh doanh bằng vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn tín dụng do
nhà nƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc, vốn đầu tƣ sản xuất
của các DNNN và các vốn khác do nhà nƣớc quản lý.
Nguồn hình thành vốn đầu tƣ công đƣợc lấy từ ngân sách, thu ngân sách bao
gồm các khoản sau:
- Thu nội địa: thu từ các khu vực kinh tế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
doanh nghiệp), thu từ các khu vực khác (thuế nhà đất, thuế nông nghiệp, thuế thu
nhập cá nhân, thu xổ số kiến thiết, thu phí xăng dầu, thu phí, lệ phí…), trái phiếu
chính phủ 8
- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị
gia tăng hàng nhập khẩu, thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu
- Thu viện trợ không hoàn lại.
1.1.2.2. Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Nhƣ đã nói ở trên, đầu tƣ công có nghĩa là nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn thuộc
sở hữu của mình để tiến hành đầu tƣ nhằm đạt đƣợc các mục tiêu nhất định. Vậy một
câu hỏi đƣợc đặt ra là tại sao nhà nƣớc lại phải dùng đến nguồn vốn của mình mà
không để cho khu vực tƣ nhân thực hiện các chƣơng trình, dự án đó. Bởi trong thực

việc làm, tạo thu nhập và cải thiện đời sống.
+ Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cƣờng quốc phòng, an ninh. Các
công trình, dự án về an ninh quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trƣớc
mắt nên khu vực tƣ nhân không thể và cũng không muốn đầu tƣ vào lĩnh vực này.
Nhƣng đó lại là cơ sở quan trọng của đất nƣớc để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập,
chủ quyền quốc gia. Các dự án cho cơ sở vật chất, thiết bị khoa học kỹ thuật và đào
tạo nhân lực phục vụ cho quốc phòng và an ninh là những dự án cần thiết nhằm duy
trì hoạt động và ổn định ở mỗi quốc gia. Chi phí bỏ ra cho hoạt động đầu tƣ này
thƣờng rất lớn nhƣng thời gian thấy đƣợc hiệu quả thì rất lâu nên hầu nhƣ trên thế
giới chỉ có Nhà nƣớc đầu tƣ vào lĩnh vực này
+ Ngoài vai trò đối với kinh tế, xã hội, an ninh-quốc phòng vai trò đầu tƣ từ
ngân sách Nhà nƣớc còn đƣợc thể hiện ở những dự án nhằm gìn giữ, bảo vệ môi
trƣờng, khắc phục ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên, dự báo và hạn chế thiên tai. Con
ngƣời chỉ có thể sinh sống và tồn tại bền vững trong một môi trƣờng bền vững. Do
đó, vai trò này của hoạt động đầu tƣ công đối với sự phát triển chung của một Quốc
Gia là cần thiết và không thể bị xem nhẹ.
1.1.2.3. Nội dung và nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư công
a. Nội dung phân bổ vốn đầu tư công
Theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTgngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ
tƣớng Chính phủ về việc phân bổ vốn đầu tƣ phát triển bằng nguồn ngân sách nhà
nƣớc giai đoạn 2011 - 2015, vốn đầu tƣ phát triển thuộc nguồn ngân sách nhà nƣớc
đƣợc bố trí để chuẩn bị đầu tƣ và thực hiện dự án của các ngành, lĩnh vực dƣới đây:
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản: xây dựng, cải tạo và nâng cấp các công
trình, dự án thủy lợi, đê điều và phòng chống lụt bão; các dự án đầu tƣ cơ sở hạ tầng
sản xuất giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản; cơ sở vật
chất phục vụ quản lý nhà nƣớc về cây trồng, vật nuôi và dịch hại, bảo vệ và phát
triển rừng; hạ tầng nuôi trồng thủy sản, tránh trú bão cho tàu thuyền, cảng cá, các
khu bảo tồn thủy sản biển và bảo tồn thủy sản nội địa.
- Công nghiệp: đầu tƣ trong lĩnh vực khai thác dầu khí (đầu tƣ trở lại cho Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam); các khu kinh tế ven biển và hạ tầng khu công nghiệp;

- Y tế và vệ sinh an toàn thực phẩm: xây dựng và cải tạo các công trình dự án
bệnh viện, trung tâm y tế, phòng kiểm nghiệm của cơ quan quản lý chất lƣợng quốc gia.
- Xã hội: xây dựng và cải tạo các công trình, dự án phục vụ mục tiêu nuôi
dƣỡng, điều dƣỡng ngƣời có công, thƣơng bệnh binh, ngƣời già, ngƣời tàn tật; chăm
sóc, điều dƣỡng sức khỏe; cai nghiện và các công trình trợ giúp xã hội khác. 11
- Tài nguyên và môi trƣờng: xây dựng và cải tạo các công trình, dự án trong
lĩnh vực biển và hải đảo, đo đạc bản đồ, khí tƣợng thủy văn, thăm dò địa chất và
khoáng sản, nguồn nƣớc, các công trình quan trắc cảnh báo môi trƣờng, khắc phục ô
nhiễm môi trƣờng.
- Quản lý nhà nƣớc: xây dựng và cải tạo trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan
Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.
- Quốc phòng, an ninh: xây dựng và cải tạo các công trình, dự án phục vụ
mục tiêu quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
b. Nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư
Việc phân bổ vốn đầu tƣ từ Ngân sách Nhà nƣớc giai đoạn 2011 - 2015 cũng
đƣợc quy định cụ thể trong Quyết định số 60/2010/QĐ-TTgngày 30 tháng 9 năm
2010 của Thủ tƣớng Chính phủ. Cụ thể nhƣ sau:
- Thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nƣớc, các tiêu chí và
định mức phân bổ vốn đầu tƣ phát triển đƣợc xây dựng cho năm 2011, là cơ sở để
xác định tỷ lệ điều tiết và số bổ sung cân đối của ngân sách trung ƣơng cho ngân
sách địa phƣơng, đƣợc ổn định trong 5 năm của giai đoạn 2011 - 2015.
- Bảo đảm tƣơng quan hợp lý giữa việc phát triển các vùng kinh tế trọng
điểm, các địa phƣơng có số thu lớn, có điều tiết cao về ngân sách trung ƣơng, với
việc ƣu tiên hỗ trợ các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc và
các vùng khó khăn khác để góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển
kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cƣ giữa các vùng miền trong cả nƣớc.
- Bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tƣ của ngân sách nhà nƣớc, tạo điều

hƣởng dự án…
+ Chỉ tiêu định lƣợng: Hệ số ICOR, mô hình VECM và phƣơng pháp Hàm
sản xuất Cobb-Douglas là những chỉ tiêu định lƣợng đƣợc sử dụng phổ biến để đánh
giá hiệu quả của hoạt động đầu tƣ công. Cụ thể nhƣ sau:
Hệ số ICOR
ICOR là một đại lƣợng đƣợc dùng rất phổ biến trong việc đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn đầu tƣ. Hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) thể hiện để
tăng một đồng GDP cần đầu tƣ bao nhiêu đồng vốn đầu tƣ. Hệ số ICOR càng cao
thì hiệu quả đầu tƣ càng thấp và ngƣợc lại. Về mặt ý nghĩa kinh tế, hệ số ICOR tính
cho một giai đoạn sẽ phản ánh chính xác hơn việc tính ICOR cho hàng năm, vì
trong một thời gian ngắn (một năm) có một lƣợng đầu tƣ chƣa phát huy tác dụng và
cũng không phản ảnh đƣợc nếu đầu tƣ dàn trải (đầu tƣ xây dựng xong thì bỏ đấy). 13
Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và đầu tƣ (mô hình
Harrod - Domar). Tính hệ số này dựa trên các giả định chủ yếu sau:
- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dƣới sản lƣợng tiềm năng. Để có thể huy động
đƣợc các nguồn lực dƣ thừa cần phải đầu tƣ để mở rộng quy mô sản xuất.
- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động đƣợc thực hiện theo
một hệ số cố định.
Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tƣ, nó đƣợc xác
định theo công thức:

Trong đó:
K mức thay đổi vốn sản xuất
( K = Kt - Kt-1)
Y là mức thay đổi về kết quả sản xuất và Y = Yt - Yt-1, ở đây t chỉ năm
nghiên cứu và t - 1 chỉ năm trƣớc năm nghiên cứu.
ý nghĩa của k là để tạo thêm đƣợc một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăng

năm rất khó đặc biệt là phần tài sản đƣa vào sản xuất hoặc hƣ hỏng, cho nên ngƣời
ta thay K bằng chỉ tiêu vốn đầu tƣ phát triển đƣợc xem đó là số vốn tăng lên trong
năm (chỉ tiêu vốn đầu tƣ phát triển trong năm có trong hệ thống số liệu thống kê
hàng năm).
Mặc dù ICOR đƣợc áp dụng nhiều để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tƣ
công ở nhiều Quốc gia, song trên thực tế việc sử dụng hệ số này cũng tồn tài những
nhƣợc điểm làm hạn chế tính chính xác của kết quả nghiên cứu:
+ ICOR không tính đến sự tác động của các nhân tố khác đến tăng trƣởng
+ Khó sử dụng để so sánh hiệu quả đầu tƣ giữa các khu vực do khác nhau về
tỷ trọng vốn đầu tƣ và thời gian thu hồi vốn
+ Không tính đƣợc hiệu quả xã hội của dự án
Mô hình VECM
Cũng giống nhƣ hệ số ICOR, mô hình VECM là mô hình kinh tế thƣờng
đƣợc dùng để đánh giá hiệu quả đầu tƣ công ở Việt Nam. Mô hình này giúp xác
định đƣợc mối quan hệ dài hạn giữa các biến nhƣ: GDP, PI…
Công thức tính: 15 Trong đó: GDP - Tổng sản phẩm quốc nội; PI- đầu tƣ của khu vực nhà nƣớc;
ECT - phần hiệu chỉnh sai số;
Phƣơng pháp mô hình VECM thƣờng đƣợc áp dụng đối với giai đoạn đầu
tƣ dài. Đối với những nghiên cứu có số năm nhỏ nhƣ nghiên cứu này, việc áp
dụng mô hình VECM sẽ có thể tạo ra sai số lớn, dẫn đến việc đánh giá không
đúng về hiệu quả của hoạt động đầu tƣ.
Phƣơng pháp hàm sản xuất Cobb-Douglas (MP)
Đây là phƣơng pháp mới đang dần đƣợc ứng dụng để đánh giá hiệu quả hoạt
động đầu tƣ công. Phƣơng pháp hàm sản xuất đã đƣợc sử dụng phổ biến tại nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status