Nâng cao hiệu quả đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang - Pdf 23

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THẾ ANH NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ CÔNG
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN HIỆP HÒA -
TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã Số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Minh Hằng
THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Hoàng Thế Anh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC HỘP ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ ĐẦU TƢ CÔNG VÀ
HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ CÔNG 5
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư công 5
1.1.1. Một số khái niệm 5
1.1.2. Vai trò của đầu tư công cho phát triển kinh tế 7
1.1.3. Đặc điểm của đầu tư công 10
1.1.4. Phương pháp tiếp cận trong đầu tư công 12
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện . 13

TƢ CÔNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH
BẮC GIANG 84
4.1. Quan điểm đầu tư công 84
4.2. Định hướng phát triển kinh tế huyện Hiệp Hòa đến năm 2020 84
4.2.1. Định hướng tổng quát 84

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
4.2.2. Định hướng phát triển ngành nông - lâm - ngư nghiệp 85
4.2.3. Định hướng phát triển ngành công nghiệp - xây dựng 85
4.2.4. Định hướng phát triển ngành thương mại - dịch vụ 86
4.3. Giải pháp đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện Hiệp Hòa 87
4.3.1. Một số quan điểm về giải pháp đầu tư công ở huyện Hiệp Hòa 87
4.3.2. Giải pháp đầu tư công cho các lĩnh vực kinh tế ở huyện Hiệp Hòa 88
4.4. Một số kiến nghị 95
4.4.1. Đối với nhà nước 95
4.4.2. Đối với tỉnh Bắc Giang 96
4.4.3. Đối với huyện Hiệp Hòa 96
4.4.4. Đối với tổ chức, cá nhân và dân cư trong huyện 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


THPT
Trung học phổ thông
TKKT - TDT
Thiết kế kĩ thuật - tổng dự toán
TM – DV
Thương mại - Dịch vụ
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
UBMT
Uỷ ban mặt trận
UBND
Uỷ ban nhân dân
WB
Ngân hàng thế giới
XDCB
Xây dựng cơ bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Hiệp Hòa năm 2012 41
Bảng 3.2. Tình hình dân số huyện Hiệp Hoà 42
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện năm 2006 - 2012 44
Bảng 3.4. Vốn đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện Hiệp Hòa theo nguồn

đoạn 2008 - 2012 70
Bảng 3.18. So sánh hiệu quả kinh tế nguồn vốn đầu tư công cho các ngành
kinh tế huyện Hiệp Hòa 71
Bảng 3.19. Hiệu quả đầu tư công cho phát triển kinh tế của huyện Hiệp Hòa
giai đoạn 2008 - 2012 72
Bảng 3.20. Kết quả sản xuất kinh doanh và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2008 - 2012 75
Bảng 3.21. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với đầu tư công cho
phát triển kinh tế Hiệp Hòa dưới góc độ người đầu tư 78
Bảng 3.22. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với đầu tư công cho
phát triển kinh tế Hiệp Hòa dưới góc độ người thụ hưởng đầu tư . 80
Bảng 3.23. Những khó khăn chính và nhu cầu đầu tư của các đối tượng
điều tra 82
Bảng 4.1. Mục tiêu phát triển nông nghiệp huyện Hiệp Hòa đến năm 2020 85
Bảng 4.2. Dự báo cơ cấu GTSX và cơ cấu GTSX của ngành Công nghiệp -
Xây dựng 85
Bảng 4.3. Dự báo GTSX DV - TM huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2008 - 2020 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ix
DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1. Quan hệ giữa đầu tư công cộng và đầu tư tư nhân 13
Hình 2.2. Nội dung của đầu tư công 22
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hoà 39

nhiều. Để phát triển những địa phương thuộc các khu vực này, một trong
những yếu tố quyết định chính là chính sách đầu tư của Nhà nước. Đầu tư
công là một trong hai lĩnh vực đầu tư trong nền kinh tế. ở các vùng khó khăn,
các đơn vị tư nhân thường e ngại trong đầu tư do lo sợ rủi ro, đặc biệt trong
giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế hiện nay, vì vậy, ở những vùng này,
đầu tư của chính phủ, tỉnh và huyện là yếu tố căn bản tiền đề cho sự phát triển
“cất cánh”. Đầu tư công sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, khuyến khích các thành
phần kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân phát huy hết khả năng của mình,
cùng tham gia vào quá trình phát triển chung của cộng đồng.
Hiệp Hòa là một huyện trung du, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc
Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km, có tổng diện tích tự nhiên là
20.305,98 ha, chiếm 5,26 diện tích toàn tỉnh với dân số là 215.988 người.
Trong những năm qua, huyện đã được sự quan tâm hỗ trợ, đầu tư của Nhà
nước, các cấp chính quyền bằng nhiều hình thức, nhiều chương trình. Đến hết
năm 2011, các nguồn đầu tư, hỗ trợ đã mang lại nhiều đổi thay cho miền đất
này, đặc biệt là sự cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển - kinh
tế xã hội và cuộc sống nhân dân ở đây, tỷ lệ hộ nghèo của Hiệp Hòa đã giảm
từ 26,98% (năm 2006) xuống còn 10,48%. Với những nguồn đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội của huyện, ngày 18/01/2012, Bộ Xây dựng đã
có Quyết định số 63/QĐ-BXD về việc công nhận Thị trấn Thắng mở rộng,
huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV. Tuy nhiên, đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
hết năm 2011, huyện Hiệp Hòa vẫn là một trong những địa phương nhận
nhiều trợ cấp từ ngân sách cấp trên (271,013 tỷ đồng), như vậy những kết quả
nhìn thấy được, đầu tư công ở đây thực sự đã đạt được gì và còn gì bất cập?
Thực trạng đầu tư công cho phát triển kinh tế của huyện Hiệp Hòa trong
những năm qua như thế nào? Giải pháp nào để tăng cường tính hiệu quả của

công cho phát triển kinh tế, đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của đầu tư
công cho phát triển kinh tế ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng khảo sát chủ yếu là các đơn vị cung cấp và đơn vị tiếp nhận,
thực hiện nguồn đầu tư công cho phát triển kinh tế trên địa bàn huyện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.
- Về nội dung: Nghiên cứu hiệu quả của đầu tư công cho phát triển kinh
tế huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả đầu
tư dưới hình thức đầu tư bằng vốn. Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài không
phân tích độ trễ của đầu tư.
Nghiên cứu hiệu quả của đầu tư công cho phát triển kinh tế của huyện dưới
góc độ lĩnh vực (ngành) mà nguồn vốn đầu tư tác động, trong đó, với ngành công
nghiệp, chỉ tính đầu tư cho những lĩnh vực, đối tượng mà giá trị sản xuất của lĩnh
vực, đối tượng đó được tính vào giá trị sản xuất công nghiệp của huyện.
Số liệu bao gồm những thông tin cập nhật ở các tài liệu đã công bố qua
các năm, tập trung chủ yếu trong các năm từ 2008-2012, các số liệu điều tra
trực tiếp từ các cơ quan đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư.
Đề xuất định hướng giải pháp nâng cao tính hiệu quả của đầu tư công
đến năm 2017.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết
thực, là tài liệu giúp hoàn thiện thực hiện chính sách đầu tư công huyện
Hiệp Hòa, đến năm 2017 có cơ sở khoa học.
Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện
Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới, có ý nghĩa thiết thực nhằm phát
triển kinh tế trên địa bàn huyện Hiệp Hòa và đối với các địa phương có điều
kiện tương tự.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng
cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành
tư bản hoặc tích luỹ tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực
sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền
tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ. Việc gia tăng tư bản tư nhân (Tăng
thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã hội được
gọi là đầu tư công cộng.
Theo cách hiểu của kinh tế đầu tư, đầu tư là sự từ bỏ các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để đạt kết quả đó (Nguyễn Bạch
Nguyệt, Từ Quang Phương, 2007). Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền,
là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, trí tuệ
Các hoạt động bỏ tiền ra xây dựng công trình giao thông, thông tin
làm tăng tài sản cho nền kinh tế. Các hoạt động này gọi là đầu tư phát triển
hay đầu tư trên giác độ nền kinh tế. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều nguồn
lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn.
Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy
móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ
Như vậy, có thể hiểu rằng đầu tư bao gồm những hoạt động sử dụng
các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt kết quả đó.
b. Khái niệm đầu tư công
Khái niệm đầu tư công được xây dựng theo các tính chất của quan hệ
sở hữu vốn, khu vực đầu tư, hiệu quả đầu tư và đối tượng đầu tư.
Cách thứ nhất: Theo đối tương sở hữu vốn, hoạt động đầu tư sử dụng
vốn thuộc sở hữu nhà nước được gọi là đầu tư công, thuộc sở hữu tư nhân gọi

chung của xã hội, cộng đồng.
Điều 70, chương VII, Luật đầu tư (2005) của nước ta quy định: Tổ
chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳng tham gia sản
xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, trừ trường hợp đặc biệt do Chính
phủ quy định. Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ các hoạt động công ích
và danh mục sản phẩm, dịch vụ công ích” . Điều này có nghĩa là Nhà nước
không độc quyền trong lĩnh vực đầu tư cung cấp hàng hoá dịch vụ công, Nhà
nước có thể xã hội hoá hoạt động này bằng việc trao một phần đầu tư cung
cấp hàng hoá công cho khu vực phi Nhà nước thực hiện.
Có thể thấy rằng, dù tiếp cận ở góc độ khác nhau thì đầu tư công đều
hướng đến mục tiêu chung là đầu tư phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã
hội, của cộng đồng, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo, quản lý, điều tiết và
giám sát các hoạt động đầu tư này. Trong đề tài này, khái niệm đầu tư công
được nhìn nhận theo phương thức thứ tư.
Như vậy, đầu tư công có thể hiểu như sau: Đầu tư công là những hoạt
động đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng
đồng, do nhà nước trực tiếp đảm nhân hay uỷ quyền và tạo điều kiện cho khu
vực tư nhân thực hiện.
1.1.2. Vai trò của đầu tư công cho phát triển kinh tế
Kinh tế học từ cổ điển đến hiện đại đều coi đầu tư là yếu tố quan trọng
để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Đầu tư công bao gồm
vai trò của đầu tư nói chung và đầu tư cho công cộng nói riêng.
1.1.2.1. Vai trò của đầu tư nói chung
- Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Học thuyết kinh tế hiện đại đã nghiên cứu và giải đáp thành công quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển kinh tế. Học thuyết khẳng định đầu tư là


9
hoàn hảo (hạn chế độc quyền; vấn đề cung cấp hàng hoá công cộng cho xã hội
điều hành các yếu tố ngoại ứng; khắc phục những thất bại về thông tin thị
trường, điều tiết thị trường bảo hiểm, thị trường vốn, thị trường phụ trợ do thị
trường cạnh tranh không hoàn hảo; điều chỉnh tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp và
sự mất cân bằng nền kinh tế). Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân
thường không muốn tham gia vào việc cung cấp các hàng hoá công do khó
thu lợi. Những hàng hoá công này thường là các công trình hạ tầng phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội như: Đường xá, cầu cống, trường học, bệnh
viện … Vai trò của những hàng hoá công này là vô cùng quan trọng vì nếu
không có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được,
không có hệ thống công trình trường học, bệnh viên, nhà văn hoá phục vụ
phát triển con người thì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng.
Hoạt động đầu tư công của nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hoá công
nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thể
phủ nhận được.
- Phân phối lại thu nhập và hàng hoá khuyến dụng
Đầu tư công còn có tác dụng phân phối lại thu nhập và hàng hoá khuyến
dụng dưới các hình thức đầu tư như trợ giúp trực tiếp dành cho những người
có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp
gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí
để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ
đồng bào bão lụt.
Thông qua hoạt động đầu tư, Chính phủ, cơ quan Nhà nước các cấp sẽ
hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo đã hoạch
định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển ổn định và bền vững.
Đầu tư công cho phát triển kinh tế của huyện giúp huyện định hướng
phát triển sản xuất, định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát

1.1.3.2. Đầu tư công trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá dịch vụ công
Hàng hóa dịch vụ công là loại hàng hoá dịch vụ đặc biệt do Nhà nước
cung ứng hoặc uỷ nhiệm cho tổ chức cá nhân thực hiện, đáp ứng yêu cầu xã
hội, sản phẩm của đầu tư công không mang tính loại trừ và tính cạnh tranh.
Mọi đối tượng đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận hàng hoá công.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Việc trao đổi sử dụng hàng hoá công không thông quan hệ thị trường đầy đủ.
Thông thường, người sử dụng hàng hoá công không trực tiếp trả tiền, đúng
hơn là họ đã trả tiền dưới hình thức nộp thuế vào ngân sách Nhà nước. Cũng
có những hàng hoá dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần chi
phí, song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các hàng hoá công
này không vì mục tiêu lợi nhuận.
1.1.3.3. Đối tượng sử dụng nguồn đầu tư công:
Các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư
phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp kinh tế, quản lý nhà
nước, nghiên cứu khoa học và công nghệ, các tổ chức chính trị - xã hội, dự án
văn hoá xã hội, cơ sở công cộng không có điều kiện xã hội hoá; hỗ trợ đầu tư
dự án đầu tư của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã
hội - nghề nghiệp, dự án đầu tư công khác theo quy định của Chính phủ.
1.1.3.4. Nguồn vốn của đầu tư công:
Chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước, bên cạnh đó, đầu tư công còn huy
động nguồn vốn từ sự đóng góp của cộng đồng, từ các tổ chức, cá nhân trong
nước và ngoài nước. Đầu tư công chủ yếu do Nhà nước thực hiện, cấp vốn. Mục
đích sâu xa của đầu tư công là sự phát triển đồng đều cho các vùng miền, cho
các ngành kinh tế, tăng cường năng lực quản lý và tự phát triển của cộng đồng,
thực hiện công bằng trong phân phối như Hiến pháp đã đề ra. Hiện nay, các

vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp
đảm nhận. Trong từng lĩnh vực định rõ những công việc mà Nhà nước phải
đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần phải chuyển để các tổ chức
xã hội đảm nhiệm. Nhà nước có các chính sách, cơ chế tạo điều kiện để doanh
nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ sản xuất và đời
sống dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành
chính nhà nước”. Ngày nay, sự phát triển đa dạng của thị trường tài chính và
các hình thức đầu tư, sở hữu hỗn hợp, hợp tác đa phương liên doanh, liên kết,
BOT… gắn kết khu vực công cộng và khu vực tư nhân, làm cho ranh giới
giữa hai khu vực này ngày càng mờ nhạt. Trên thực tế, dù lớn hay nhỏ, khu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
vực công cộng luôn tồn tại gắn liền với khu vực tư nhân.
Trong đề tài này, nghiên cứu phát triển kinh tế của huyện, tác giả chỉ
xem xét tới sự can thiệp của khu vực kinh tế công vào nền kinh tế của huyện,
đồng thời xem xét sự can thiệp này sẽ tạo điều kiện như thế nào cho các khu
vực kinh tế tư nhân và tập thể phát triển.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
sách nhà nước. Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều
khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí
cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ và phát huy hiệu quả là vô cùng
quan trọng.
b. Năng lực và phẩm chất đạo đức của người đầu tư
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của đầu tư. Để các
chương trình, dự án đầu tư công đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực
hiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm đáp ứng được nguồn
nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực).
Phẩm chất đạo đức của cán bộ, nhân viên thực hiện đầu tư công ảnh
hưởng lớn tới hiệu quả đầu tư. Nguồn đầu tư công thường là vốn ngân sách
cấp, nguồn tài trợ từ tổ chức cá nhân vì mục đích phục vụ cộng đồng. Nếu
người đầu tư không có phẩm chất đạo đức trong sạch, tham nhũng, cửa quyền
thì nguồn đầu tư sẽ không được đưa vào thực hiện như kế hoạch do thất
thoát, sử dụng sai mục đích từ đó dẫn tới hiệu quả đầu tư thấp.
c. Sự giám sát quản lý của cơ quan các cấp
Sự giám sát quản lý để đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư được sử dụng
đúng mục đích, sử dụng đủ, không thất thoát, lãng phí gây ra tình trạng hiệu
quả thấp trong đầu tư.
d. Năng lực và khả năng sử dụng nguồn đầu tư của đối tượng được
đầu tư
Năng lực và khả năng sử dụng nguồn đầu tư của đối tượng được đầu tư
là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả cuối cùng của nguồn đầu tư.
Giống như việc đầu tư cho sản xuất, việc một cỗ máy vận hành tốt hay không
không chỉ do sự đầu tư ban đầu cho chính cỗ máy đó mà còn phụ thuộc vào
người vận hành cỗ máy hoạt động. Nguồn vốn đầu tư khi được đưa đến với

huyện. Các vùng khác nhau thì chính sách đầu tư khác nhau. Với những vùng
khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhà nước luôn
quan tâm đầu tư phát triển.
Về đặc điểm tự nhiên, nếu diện tích đất canh tác ở địa phương mamh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status