Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công cho xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐINH THỊ NGUYỆT ANH GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐẦU TƢ CÔNG CHO XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
TẠI TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐOÀN QUANG THIỆU

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
nhiều tổ chức, cơ quan, tập thể và cá nhân. Tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm
ơn tới tất cả các tập thể, cơ quan và cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình nghiên cứu.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Đoàn Quang Thiệu,
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo Khoa sau
đại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên,
những người đã truyền thụ những kiến thức quý báu trong thời gian theo học
và nghiên cứu của tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Tài chính, Sở Lao động
Thương binh và Xã hội, Sở kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn,
cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện, xã và các hộ nông dân thuộc 2 huyện
Ba Bể và Chợ Mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập
tài liệu và kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu của đề tài.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn và ghi nhận tất cả sự giúp đỡ
quý báu đó.

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2012
Tác giả

Đinh Thị Nguyệt Anh

1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng tới đầu tƣ công cho XĐGN 18
1.1.3. Đánh giá hiệu quả đầu tƣ công cho XĐGN 20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
1.1.3.1. Quan điểm về việc đánh giá kết quả, hiệu quả đầu tƣ công 20
1.1.3.2. Đánh giá hiệu quả đầu tƣ công cho XĐGN 22
1.1.3.3. Nguyên nhân của việc đầu tƣ công kém hiệu quả 24
1.2. KINH NGHIỆM ĐẦU TƢ CÔNG CHO XĐGN Ở MỘT SỐ NƢỚC TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 24
1.2.1. Kinh nghiệm đầu tƣ công cho XĐGN ở một số nƣớc trên thế giới 24
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc 24
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Malaysia 25
1.2.2. Kinh nghiệm đầu tƣ công cho XĐGN ở một số địa phƣơng Việt Nam 28
1.2.2.1. Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai 28
1.2.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh Tuyên Quang 29
1.2.3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm đầu tƣ công cho XĐGN ở một số
nƣớc trên thế giới và ở Việt Nam 30
1.2.4. Một số vấn đề rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đầu tƣ
công cho xoá đói giảm nghèo 31
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 33
2.1. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1.1. Câu hỏi nghiên cứu và tiếp cận nghiên cứu 33
2.1.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 34
2.1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 34
2.1.3.1 Phƣơng pháp thu thập số liệu 34
2.1.3.2. Phƣơng pháp xử lý số liệu 37
2.1.3.3. Phƣơng pháp phân tích 38
2.2. HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 38
Chƣơng 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ CÔNG CHO XOÁ ĐÓI

3.2.4. Hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong đầu tƣ công cho XĐGN 79
3.2.4.1. Hạn chế 79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
3.2.4.2. Nguyên nhân 81
3.2.4.3. Những vấn đề đặt ra 82
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ CÔNG CHO XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH BẮC KẠN 86
4.1. QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU ĐẦU TƢ CÔNG CHO XĐGN 86
4.1.1. Định hƣớng đầu tƣ công cho xoá đói giảm nghèo của tỉnh 86
4.1.1.1. Quan điểm định hƣớng 86
4.1.1.2. Mục tiêu XĐGN của tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 87
4.1.1.3. Một số quan điểm về giải pháp đầu tƣ công cho XĐGN 88
4.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ CÔNG CHO XĐGN TỈNH
BẮC KẠN 90
4.2.1. Giải pháp chung 90
4.2.1.1. Nhóm các giải pháp về thể chế, chính sách 90
4.2.1.2. Nhóm các giải pháp về thực hiện đầu tƣ công xây dựng cơ sở hạ tầng 94
4.2.1.3. Nhóm các giải pháp về thực hiện đầu tƣ công hỗ trợ sản xuất . 95
4.2.1.4. Nhóm các giải pháp về công tác quản lý đầu tƣ công 100
4.2.2. Giải pháp riêng đối với từng vùng 101
4.2.2.1. Giải pháp đầu tƣ riêng đối với các xã vùng cao 101
4.2.2.2. Giải pháp đầu tƣ riêng đối với các xã vùng thấp 103
4.3. KIẾN NGHỊ 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Xây dựng cơ bản
CSHT
Cơ sở hạ tầng
BQL
Ban quản lý
ATK
An toàn khu
CT
Công trình
UBND
Uỷ ban nhân dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Chuẩn đói nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn 10
Bảng 3.1. Bảng phân bố sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn 41
Bảng 3.2. Cơ cấu lao động tỉnh Bắc Kạn năm 2011 43
Bảng 3.3. Hiện trạng giáo dục tỉnh Bắc Kạn năm 2011 44
Bảng 3.4. Hiện trạng y tế tỉnh Bắc Kạn năm 2011 45
Bảng 3.5. Các chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế tỉnh Bắc Kạn năm 2011 48

lâu dài của mỗi quốc gia trên toàn thế giới.
Ở nƣớc ta, những năm gần đây nhờ chính sách đổi mới, nền kinh tế đã
không ngừng tăng trƣởng. Tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) tăng bình quân
trên 6% năm, tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt 5%. Nhờ đó, công cuộc
XĐGN đã có những thành công rất đáng khích lệ: Tỷ lệ ngƣời nghèo, tính
theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ hơn 60% vào năm 1990, xuống
58% vào năm 1993, 37% vào năm 1998, 32% vào năm 2000, 29% vào năm
2002 và còn 18,1% vào năm 2004. Mặc dù Việt Nam đã trở thành nƣớc đang
phát triển có thu nhập trung bình thấp nhƣng vẫn còn một bộ phận dân cƣ vẫn
sống trong tình trạng nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo đang có chiều
hƣớng gia tăng. Đặc biệt nghèo đói thƣờng diễn ra khá phổ biến ở khu vực
nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế - xã hội, đầu tƣ cho XĐGN ở các tỉnh miền núi đƣợc Đảng và Chính
phủ đặc biệt quan tâm. Trong những năm gần đây tỷ lệ vốn đầu tƣ so với tổng
sản phẩm trong nƣớc (GDP) luôn ở mức tƣơng đối cao, (chiếm gần 40%
GDP, Martin Rama, Quyền Trƣởng ban phát triển đông Á của Ngân hàng Thế
giới). Để đạt đƣợc những thành tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh
của các thành phần kinh tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách
điều hành của chính quyền Nhà nƣớc. Trong những chính sách, công cụ điều
hành này, đầu tƣ công chiếm vai trò rất cần thiết vì đây là “bàn tay hữu hình”
của Nhà nƣớc điều tiết và khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trƣờng, hỗ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
trợ ngƣời nghèo, tạo điều kiện để thúc đẩy đầu tƣ tƣ nhân phát triển đúng
hƣớng, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững, đồng thời còn tập trung vào
các lĩnh vực không hấp dẫn kinh tế tƣ nhân nhƣng là điều kiện cho kinh tế tƣ
nhân và ngƣời nghèo vƣơn lên.
Theo Bộ Kế hoạch đầu tƣ, đầu tƣ công cho XĐGN giai đoạn 2001 -
2005 chiếm 23% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội, con số này tăng lên 24% trong

2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân những tồn tại, yếu kém
trong đầu tƣ công cho XĐGN, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả đầu tƣ công trong công tác XĐGN ở tỉnh Bắc Kạn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đói
nghèo và đầu tƣ công cho XĐGN.
- Phân tích thực trạng đầu tƣ công cho XĐGN tại Bắc Kạn.
- Đánh giá hiệu quả đầu tƣ công cho XĐGN tại Bắc Kạn.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
vốn trong đầu tƣ công cho XĐGN tại tỉnh Bắc Kạn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là các chủ đầu tƣ, nhà đầu tƣ, cơ quan quản lý
đầu tƣ và các hộ dân đƣợc hƣởng lợi từ việc đầu tƣ xóa đói, giảm nghèo.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi về thời gian:
+ Nghiên cứu thực trạng về đầu tƣ công cho XĐGN tại tỉnh Bắc Kạn từ
năm 2006 đến năm 2011
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tƣ công cho XĐGN ở Bắc
Kạn từ nay đến 2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
4. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc
đầu tƣ công cho đầu tƣ XĐGN.
Đánh giá thực trạng và xác định nguyên nhân những thành tựu và những
tồn tại của đầu tƣ công cho đầu tƣ XĐGN ở một địa phƣơng (tỉnh Bắc Kạn).
Đề tài đƣa ra định hƣớng và đề xuất những giải pháp chính sách nhằm
nâng cao hiệu quả đầu tƣ công trong công tác XĐGN tại tỉnh Bắc Kạn.

giới vẫn đang sống trong tình trạng nghèo đói. Chính bởi vậy, nghèo đói luôn
là vấn đề thách thức, là mối quan tâm hàng đầu của rất nhiều quốc gia và
đƣợc Liên hiệp quốc xác định là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ quan
trọng nhất đƣợc ƣu tiên giải quyết.
Nghèo đói là một khái niệm mang tính tƣơng đối, phụ thuộc vào điều
kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia, vùng miền, và khu
vực trên thế giới. Theo cách hiểu truyền thống khi nói đến nghèo đói tức là
nói đến việc không đáp ứng đƣợc những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống
nhƣ lƣơng thực, quần áo…Tuy nhiên, trong xã hội phát triển nhƣ ngày nay,
nhận thức về nghèo đói đã có những thay đổi nhất định. Cụ thể, khi đánh giá
về nghèo đói ngƣời ta không chỉ quan tâm đến vấn đề nghèo lƣơng thực mà
khía cạnh nghèo phi lƣơng thực nhƣ các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, sự
bình đẳng trong việc tiếp cận các thành tựu phát triển xã hội và tăng trƣởng
kinh tế… cũng đƣợc xem xét. Theo đó, khi đƣa ra chuẩn nghèo hiện nay
nhiều quốc gia trên thế giới bên cạnh việc sử dụng phƣơng pháp tính toán nhu
cầu chi tiêu còn xem xét cả yếu tố tài sản nhƣ nhà ở, đất đai, công cụ sản
xuất Cách tiếp cận mới này cho phép nhìn nhận sâu sắc hơn mối quan hệ
nhân quả giữa các tiêu chí xác định nghèo, từ đó có thể đề ra chiến lƣợc giảm
nghèo toàn diện hơn trên cơ sở đầu tƣ vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, mạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
lƣới an sinh xã hội cho những ngƣời không có khả năng tham gia vào tăng
trƣởng Dƣới đây là một số quan niệm về nghèo đói đƣợc đƣa ra trong thời
gian qua.
* Quan niệm về đói nghèo trên thế giới
Thứ nhất, định nghĩa về nghèo đói đƣợc đƣa ra tại Hội nghị chống nghèo
đói khu vực châu Á- Thái Bình Dƣơng, tại Băng Cốc, Thái Lan do ESCAP tổ
chức vào tháng 3 năm 1993: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu

Trên cơ sở những nghiên cứu mới về nghèo đói trong thập niên 90,
Báo cáo phát triển thế giới 2000-2001 đã mở rộng ra hơn nữa khái niệm về
nghèo đói. Theo quan niệm này, nghèo đói đƣợc xem xét cả trên những
phƣơng diện nhƣ thiếu cơ hội, năng lực thấp, dễ bị tổn thƣơng, không có tiếng
nói và quyền lực…
Cũng theo những thay đổi về mặt nhận thức khi đánh giá ngheo đói, tới
đây chỉ số nghèo khổ đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) sẽ
đƣợc sử dụng rộng rãi. Đặc biệt chỉ số ngày đã đƣợc sử dụng chi tiết trong
Báo cáo phát triển con ngƣời năm 2010. Chỉ số phát triển đa chiều phản ánh
tất cả các phạm vi tác động đến nghèo đói bao gồm một loạt các yếu tố quyết
định hay tình trạng túng thiếu ở cấp độ gia đình từ giáo dục, y tế, tài sản và
dịch vụ nhƣ nƣớc sạch, vệ sinh và năng lƣợng… khi đánh giá nghèo đói. Điều
đó cho thấy chỉ số này sẽ phản ánh tình trạng nghèo khổ một cách sâu sắc đa
chiều hơn chứ không đơn thuần chỉ dựa vào thu nhập. Nếu theo cách tính toán
của chỉ số MPI hiện nay thế giới vẫn còn khoảng 1,7 tỷ ngƣời chiếm 21% dân
số thế giới sống trong nghèo khổ. Trong đó 1/2 ngƣời nghèo sống ở Nam Á
(51% tƣơng đƣơng với 844 triệu ngƣời) và 1/4 ngƣời nghèo sống ở châu Mỹ
(28%- tƣơng đƣơng 458 triệu ngƣời)…
Bên cạnh đó, quan niệm nghèo bền vững cũng là một vấn đề đƣợc quan
tâm đặc biệt trong công cuộc giảm nghèo hiện nay. Tỷ lệ tái nghèo, tỷ lệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
những hộ cận nghèo còn khá cao, những giải pháp giảm nghèo nhìn chung
vẫn mang tính ngắn hạn, tạm thời…Vì thế quan niệm giảm nghèo bền vững
nhằm hƣớng đến mục tiêu và những giải pháp giảm nghèo mang tính bền
vững, duy trì kết quả lâu dài.
* Quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam
Nhìn chung, quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam khá tƣơng đồng với
những định nghĩa về nghèo đói đƣợc thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới.

nhiên, khi áp dụng thực tế mỗi nƣớc sẽ có những mức điều chỉnh phù hợp.
Chẳng hạn mức kalo tối thiểu của 1 ngƣời/ngày ở Trung Quốc là
2150kalo/ngày/ngƣời, ở Thái Lan là 1978 kalo/ngƣời/ngày và Việt Nam la
2100 kalo/ngƣời/ngày…
Thứ ba là tiêu chí đánh giá nghèo theo mức chi tiêu tối thiểu cho các
nhu cầu cơ bản của con ngƣời. Trong Chƣơng trình phát triển Liên hiệp quốc
năm 1997, Ngân hàng thế giới đã đƣa ra mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính
theo sức mua tƣơng đƣơng của địa phƣơng so với đôla thế giới để thỏa mãn
nhu cầu sống tổng quát cho nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD; và mức 2 USD/
ngƣời/ngày trở xuống là nghèo cho các nƣớc châu Mỹ la tinh và Carribean; 4
USD /ngƣời/ngày trở xuống cho những nƣớc Đông Âu và 14-40
USD/ngƣời/ngày cho các nƣớc công nghiệp phát triển.
Từ năm 2005, chuẩn nghèo mới mà Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF) áp dụng đối với các nƣớc đang phát triển là 1,25 USD/ngƣời/ngày
cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tƣơng đƣơng (PPPs) thay cho
đƣờng chuẩn nghèo trƣớc đó vẫn dùng là mức 1USD/ngƣời/ngày theo mức giá
năm 1993.
Thứ tƣ là tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời.
Tại Đại hội lần thứ II của Ngân hàng thế giới đƣa ra chuẩn nghèo chung cho
thế giới là mức thu nhập bình quân dƣới 370USD/ngƣời/năm. Bên cạnh đó
khi sử dụng chỉ tiêu này các quốc gia thƣờng xác định thu nhập bình quân của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
hộ gia đình so sánh với thu nhập bình quân đầu ngƣời của quốc gia. Ngƣời có
thu nhâp bình quân đầu ngƣời ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân của
quốc gia đƣợc coi là nghèo.
Trên thực tế nhiều quốc gia thƣờng áp dụng kết hợp 1 hay nhiều chỉ
tiêu để đánh giá nghèo đói nhằm mang lại kết quả chính xác và khách quan
hơn. Chẳng hạn nhƣ ở Việt Nam thời gian qua cũng kết hợp cả hai tiêu chí là

2001 - 2005 80.000 đ
100.000 đ
150.000 đ
2005 - 2010 < 200.000 đ
<200.000 đ
<260.000 đ
2011 - 2015 <400.000 đ
<400.000 đ
<500.000 đ
(Nguồn : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2012)
Chuẩn cận nghèo giai đoạn 2011-2015: Hộ cận nghèo là hộ có mức thu
nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/ngƣời/tháng ở nông thôn
và từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/ngƣời/tháng ở thành thị (Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg của thủ tƣớng CP ngày 30/01/2011)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Việt Nam cũng áp dụng tiêu chí do Tổng cục Thống kê tính toán đánh
giá nghèo dựa trên cả tiêu chí thu nhập và chi tiêu cho đầu ngƣời. Theo đó
dựa vào điều tra mức sống dân cƣ áp dụng tiêu chí đƣờng nghèo đói của Ngân
hàng thế giới đƣa ra cho các nƣớc đang phát triển.

Thứ hai, xoá đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của
toàn xã hội, mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào
sự vận động tự giác của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo.
XĐGN phải đƣợc coi là sự nghiệp của bản thân ngƣời nghèo, cộng
đồng nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vƣơn lên để thoát nghèo chính là động lực, là
điều kiện cần cho sự thành công của mục tiêu chống đói nghèo ở các nƣớc.
Nhà nƣớc sẽ trợ giúp ngƣời nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo
khi gặp rủi ro. Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc tạo việc làm
cho ngƣời nghèo bằng cách hƣớng dẫn ngƣời nghèo sản xuất, kinh doanh phát
triển kinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện xoá đói giảm
nghèo thành công nhanh và bền vững.
Thứ ba, triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm
nghèo bằng các nguồn tài chính trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức trong
và ngoài nước.
Trong những năm qua, Nhà nƣớc đã giành nhiều kinh phí cho các
chƣơng trình xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh những thành tựu đáng kể của xoá
đói giảm nghèo còn có vấn đề nổi cộm đó là tình trạng tham nhũng, cắt bớt
phần tài chính từ các dự án, chƣơng trình mà lẽ ra ngƣời nghèo đƣợc hỗ trợ để
giúp họ thoát nghèo đói. Quan điểm này có tác dụng hạn chế tình trạng tiêu
cực đang diễn ra trong triển khai hiện nay, tạo cơ sở để đƣa ra các biện pháp
phòng ngừa và xử lý nghiêm theo pháp luật các trƣờng hợp tiêu cực.
Thứ tư, việc hỗ trợ và cho vay vốn hộ nghèo phải đi liền với công tác tư
vấn, hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của
từng hộ gia đình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Thời gian qua, việc cho vay vốn hộ nghèo đói chƣa thật hiệu quả, phần
nhiều còn thiên về số lƣợng lƣợt hộ vay vốn nên khoản vay còn nhỏ bé, chƣa
thực sự giúp các hộ nghèo tạo đƣợc đà bứt phá, việc sử dụng vốn không đúng

Hiện tại "đầu tƣ công" vẫn đƣợc quan niệm là bao gồm tất cả các khoản
đầu tƣ do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nƣớc tiến
hành. Trong quan niệm này, đầu tƣ công đƣợc xét không phải từ góc độ mục
đích (có sản xuất hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh doanh hay
là phi lợi nhuận) mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tƣ. Cụ
thể là đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp
luật hiện hành, bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước
bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển
của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý. Trong
nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm đầu tƣ công trên vì đó là cách hiểu phổ
biến và cũng là đối tƣợng của chính sách đầu tƣ của Nhà nƣớc hiện nay.
Đầu tƣ công là các khoản đầu tƣ từ NSNN, nó là hạt nhân của tất cả các
hoạt động đầu tƣ trong nền kinh tế và đóng một vai trò quan trọng trong việc
hƣớng dẫn và thu hút đầu tƣ của các nguồn vốn khác nhau nhằm đạt mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo. Thông qua đầu tƣ công, Chính
phủ có thể thực hiện các ƣu tiên cho các ngành quan trọng đƣợc xem là có
quan hệ mật thiết tới giảm nghèo; ƣu tiên đầu tƣ cho các vùng kém phát triển để
thúc đẩy vùng phát triển, tiến kịp hoà nhập với các vùng khác trong cả nƣớc.
Đầu tƣ công thúc đẩy cho tăng trƣởng và nếu đƣợc thực hiện lâu dài sẽ mang lại
nhiều lợi ích cho ngƣời nghèo.Vì thế nâng cao hiệu quả vốn đầu tƣ sẽ tạo ra các
tác động mạnh đến tăng trƣởng và xoá đói giảm nghèo. Theo thống kê hiện nay,
đầu tƣ công (hay đầu tƣ của Nhà nƣớc) bao gồm các nguồn:
- Đầu tƣ từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ƣơng và phân cho
các địa phƣơng).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
- Đầu tƣ theo các chƣơng trình hỗ trợ có mục tiêu (thƣờng là các
chƣơng trình mục tiêu trung và dài hạn) cũng đƣợc thông qua trong kế hoạch
ngân sách hàng năm, nhƣng về chủ trƣơng lại thƣờng đƣợc quyết định cho

kiếm việc làm của họ. Vì thế ngân sách nhà nƣớc thƣờng dành một khoản
kinh phí đáng kể để tạo đạo nghề cho ngƣời nghèo giúp họ tự tìm việc làm cải
thiện thu nhập và vƣơn lên thoát nghèo. Đây là giải pháp thoát nghèo bền
vững, lâu dài.
Thứ tƣ, chi ngân sách đầu tƣ cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn.
Việc đầu tƣ cơ sở hạ tầng nhƣ điện, hệ thống đƣờng, cầu cống, nƣớc
sạch…một mặt nhằm cải thiện điều kiện sống cho ngƣời nghèo ở những vùng
đó nhƣng mặt khác cũng để nhằm cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, thu hút các nhà
đầu tƣ đến những vùng đó. Đây là một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của chi
ngân sách cho XĐGN vì đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng ở những vùng khó khăn
thƣờng đòi hỏi huy động vốn lớn trong khi đó khả năng thu hồi vốn rất thấp.
Thứ năm, chi ngân sách nhằm thành lập các Quỹ tín dung, các chƣơng
trình tín dụng đối với ngƣời nghèo. Thiếu vốn là một trong những khó khăn
lớn đối với ngƣời nghèo vì họ thƣờng không có tài sản có giá trị để thế chấp
vay vốn ở ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Vì vậy hàng năm ngân
sách nhà nƣớc thƣờng dành một khoản cho vay để ngƣời nghèo đầu tƣ mở
rộng sản xuất vƣơn lên thoát nghèo. Tóm lại, ngân sách nhà nƣớc là động lực
cho sự nghiệp XĐGN, tạo việc làm ở các quốc gia. Thông qua việc phân phối
lại các nguồn lực cho các vùng nghèo cũng nhƣ việc phân phối sử dụng vốn
ngân sách nhà nƣớc qua nhiều kênh, nhiều mục tiêu chƣơng trình quốc gia,
ngân sách nhà nƣớc thực sự là nguồn chủ đạo thu hút nhân lực, các nguồn tài
chính và các thành phần kinh tế vào sự nghiệp XĐGN.
1.1.2.3. Phương thức, cơ chế và nguồn đầu tư công cho XĐGN.
* Phương thức đầu tư
Việc thực hiện đầu tƣ công cho XĐGN đƣợc thực hiện chủ yếu bằng 2
phƣơng thức:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status