ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TÁC ĐỘNG LÊN XUẤT NHẬP KHẨU
Họ và tên: TRẦN TRUNG THU
Năm sinh: 1990
Nghề nghiệp: Sinh viên năm 4 – Trường Đại học Kinh tế - luật
Số điện thoại: (+84) 168.994.2447
Địa chỉ email:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TÁC ĐỘNG LÊN XUẤT
NHẬP KHẨU
1.1 Tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái được phân ra hai loại:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này tương ứng với số
lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Trong cuộ
c sống hay phân tích kinh tế, khi nói đến tỷ
giá hối đoái giữa nước này với nước kia là ám chỉ đến tỷ giá hối đoái.
- Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa nước này với hàng hóa nước
khác.
Trong bài tiểu luận này xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và
xuất, nhập khẩu ròng dưới các chính sách của Nhà nước.
1.1.2 Phương pháp biểu thị t
ỷ giá
Xét từ thị trường giao dịch, đồng tiền quốc gia của thị trường này được coi là
chủ thể, thì yết giá được thực hiện bằng hai cách sau:
- Yết giá trực tiếp: là phương pháp lấy ngoại tệ làm đồng tiền yết giá, còn nội tệ là đồng
tiền định giá. Ví dụ:
tại Hà Nội 1USD = 17.620 VND (yết giá kiểu Châu Âu).
- Yết giá gián tiếp: là phương pháp lấy nội tệ làm đồng tiền yết giá, còn ngoại tệ là đồng
tiền định giá. Ví dụ: tại New York 1USD = 0,6235 GBP (yết giá kiểu Mỹ).
Hiện nay hầu hết các quốc gia đều sử dụng cách yết giá trực tiếp, chỉ có một số ít
các quốc gia có đồng tiền mạnh áp dụng yết giá gián tiếp.
Yết giá trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ là những phương pháp nêu tỷ giá tùy thuộc
• Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá
hiện tại, không tính đến bất kì ảnh hưởng nào của lạm phát.
• Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong
một cặp tiền tệ phản ánh giá cả hàng hóa t
ương quan có thể bán ra nước ngoài
và hàng tiêu thụ trong nước. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc
tế của nước đó.
- Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá
thư hối
• Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng. Đó là tỷ giá
chuyển ngoại hối bằng đ
iện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại
tỷ giá khác.
• Tỷ giá thư hối tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Tỷ giá điện hối thường
cao hơn tỷ giá thư hối.
- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối có thể phân biệt tỷ giá mua và tỷ giá bán
của ngân hàng.
• Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào.
• Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra.
Tỷ giá mua bao giờ cũng th
ấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi
nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
Thông thường thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã kí
kết trong môt ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng kí kết cuối cùng trong ngày đó,
người ta gọi đó là tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình
hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm
đó. Tỷ giá được công bố vào đầu giờ của đầu
ngày giao dịch được gọi là tỷ giá mở cửa.
Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hối của ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và
tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt .
dung quan trọng của chính sách tỷ giá.
1.1.6 Các chức năng của tỷ giá
1.1.6.1 Chức năng so sánh sức mua giữ
a các loại tiền tệ với nhau
Tất cả các hoạt động và tính toán trong ngoại thương, như tính toán hiệu quả của
các quan hệ kinh tế với nước ngoài, quyết định tham gia hợp tác kinh tế, phân công lao
đọng với các nước khác, nhận các nguồn đầu tư của nước ngoài hay đầu tư liên doanh
với nước ngoài,… đều thể hiện qua đơn vị tiền tệ, qua việc so sánh giá trị đồng tiền
trong nước với n
ước ngoài. Mà việc đó, tức so sánh giá cả sẽ thể hiện được sự so sánh
về sức mua.
Để đảm bảo được tính ngang giá sức mua thì phải thông qua tỷ giá. Vì thế tỷ giá
phải phản ánh thật khách quan và đúng chức năng thước đo giá trị của tiền tệ.
1.1.6.2 Chức năng kích thích
Tỷ giá hối đoái cao hay tỷ giá hối đoái thấp đều có ảnh hưởng lớn đến doanh thu
và thu nhập của nhà xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái cao tức nội tệ giảm giá và ngoại tệ
tăng giá, nghĩa là nội tệ rẻ một cách tương đối so với ngoại tệ, kích thích người nước
ngoài mua hàng hóa trong nước nên nó kích thích sản xuất nhằm tăng xuất khẩu ra
nước ngoài. Ngược lại, tỷ giá hối đoái thấp tức nội tệ tăng giá và ngoại tệ giảm giá làm
cho hàng hóa trong nước
đắt hơn tương đối so với hàng hóa nước ngoài nên nó kích
thích gia tăng nhập khẩu hàng hóa nước ngoài.
Nhờ thông qua tỷ giá mà nhà nước có thể kiểm soát, tác động đến cơ cấu xuất
nhập khẩu. Các nước đều dùng tỷ giá để kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng
hóa nước ngoài, nâng năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu nhằm điều tiết cán
cân thanh toán, ngoài ra có thể làm tăng thu nhập ngoại tệ và h
ạn chế chi tiêu ngoại tệ
ra nước ngoài.
1.1.6.3 Chức năng phân phối:
Tỷ giá không chỉ có khả năng phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các ngành
cầu nôi tệ dẫn đến nội tệ lên giá làm cho việc nhâp khẩu gia tăng nhưng xuất khẩu lại
giảm sút.
- Cán cân thanh toán quốc tế:
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến
động của tỷ giá hối đoái. Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác
nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có
thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớ
n hơn cầu ngoại tệ và ngược lại. Sự cân bằng của
cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn cung và cầu ngoại tệ cấu thành
nên cán cân thanh toán quốc tế. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về
hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng
nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế r
ơi vào tình trạng suy thoái thì các hoạt
động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ
giảm đi. Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong ngắn hạn
việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao.
- Chính sách của chính phủ:
Một chính phủ có thể tác động đến tỷ giá hối đoái bằng phươ
ng pháp trực tiếp
hay gián tiếp:
● Can thiệp trực tiếp: Các NHTW có thể tác động đến tỷ giá bằng cách trực tiếp
mua vào ngoại tệ hoặc bán nội tệ ra thị trường. Khi NHTW can thiệp vào thị trường hối
đoái mà có sự điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ, điều này gọi là can thiệp
không vô hiệu hóa. Ngược lại, nếu muốn can thiệp vào thị trường hối đ
oái, trong khi
vẫn duy trì mức cung tiền tệ, NHTW sẽ sử dụng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp
dụng các giao dịch trên thị trường ngoại hối đồng thời với các hoạt động trên thị trường
mở.
● Can thiệp gián tiếp: NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ một cách gián tiếp
bằng cách tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến đồng nội tệ; như lãi suất, các bi
D
+EX
Tổng của 3 thành tố đầu là chi tiêu trong nước để mua hàng hóa và dịch vụ trong
nước. EX là chi tiêu nước ngoài để mua hàng hóa và dịch vụ trong nước. Nhưng vì chi
tiêu để mua hàng hóa nhập khẩu cũng là một bộ phận của chi tiêu trong nước điều này
dẫn đến việc ta có khái niêm xuất khẩu ròng (NX). Từ đó ta có đồng nhất thức thể hiện
mối quan hệ giữa sản lượng và NX:
Y = C + I + G + NX
Hay NX = Y - (C + I + G)
Xuất khẩu ròng = S
ản lượng - Chi tiêu trong nước
Nếu sản lượng vượt quá chi tiêu trong nước, xuất khẩu phần chênh lệch làm cho
xuất khẩu ròng mang giá trị dương.
Nếu sản lượng nhỏ hơn chi tiêu trong nước, nhập khẩu phần chênh lệch làm cho
xuất khẩu ròng mang giá trị âm.
Khác với nền kinh tế đóng, trong nền kinh tế mở xuất, nhập khẩu đóng một vai
trò quan trọng vì nó trực tiếp đóng góp vào sản lượng cả nước. Nếu các yếu tố khác
không đổi xuất khẩu ròng tăng làm cho sản lượng cũng tăng và ngược lại khi xuất khẩu
ròng giảm khiến sản lượng cũng giảm.
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực đến xuất khẩu ròng:
Tỷ giá hối đoái thực tế có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động xuất, nhập
khẩu vì nó thể hiện sự cạnh tranh quốc tế giữa hàng hóa các nước.
Tỷ giá hối đoái thực tế = (Tỷ giá hối đoái danh nghĩa* giá hàng nội)/ giá hàng ngoại
Khi tỷ giá hối đoái thực tế cao là hàng hóa của nước đó sẽ trở nên tương đối đắt
đối với ngườ
i nước ngoài dẫn đến cầu đối vơí hàng hóa nội địa của người nước ngoài sẽ
ít hơn khiến gỉảm xuất khẩu đồng thời hàng ngoại trở nên tương đối rẻ đối với người
nội địa, do đó, gia tăng nhập khẩu làm xuất khẩu ròng giảm.
Khi tỷ giá hối đoái thực tế thấp có nghĩa là hàng nội trở nên tương đối rẻ đố
i với
NX(tỷ giá HĐ thực)
Xuất khẩu ròng
Hình này biểu thị mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và xuất khẩu ròng , tỷ
giá hối đoái thực tế càng thấp, hàng nội càng tương đối rẻ so với hàng ngoại, do đó xuất
khẩu ròng của chúng ta càng cao và ngược lại.
Khi tỷ giá của một quốc gia biến động sẽ gây tác động đầu tiên đến các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu.Khi tỷ giá tăng ( nội tệ gi
ảm giá) gây tác động tiêu cực cho các
doanh nghiệp nhập khẩu và ngược lại khi tỷ giá giảm ( nội tệ lên giá) gây tác động xấu
đến các doanh nghiệp xuất khẩu.
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản(vốn) từ quốc
gia này sang quốc gia khác. Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lợi
nhuận và phòng ngừa rủi ro. Do đó nế
u tỷ giá giảm trong trường hợp người ta dự đoán
tỷ giá đó không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ gia tăng , tư bản xuất khẩu sẽ
giảm.
1.2 Lý thuyết thương mại quốc tế
Trong phần này, các lý thuyết thương mại quốc tế được nghiên cứu và đi đến kết
luận là các quốc gia được hưởng lợi khi tham gia các hoạt độ
ng ngoại thương.
1.2.1 Quy luật lợi thế so sánh và nền tảng của hoạt động thương mại
Vấn đề tại sao các quốc gia phải giao thương với nhau, họ sẽ được lợi ích gì từ
việc giao thương đó cũng như cơ sở về mậu dịch quốc tế là gì đã được đề cập và nghiên
cứu từ nhiều thể kỷ nay. Adam Smith vào giữa thế kỷ th
ứ 18, đã cố giải thích nó bằng
quan điểm Lợi Thế tuyệt đối. Lợi thế tuyệt đối ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn. Theo
ông, nếu quốc gia A có thể sản xuất sản phẩm X với chi phí thấp hơn quốc gia A, thì
quốc gia A sẽ chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm X, quốc gia B sẽ chuyên môn hóa sản
xuất sản phẩm Y và trao đổi với nhau. Bằng cách đó, tài nguyên củ
a mỗi nước sẽ được
Lý thuyết này được Samuelson tiếp tục phát triển thành lý thuyết cân bằng giá cả
yếu tố sản xuất. Bản chất của lý thuyết này là mậu dịch quốc tế sẽ làm cho tiền lương
của các lao động đồng nhất và lợi suất của tư bản đồng nhất giữa các quốc gia tham gia
mậu dịch là như nhau.
Lý thuyết này đưa đến nhi
ều vấn đề quan trọng cho các nước đang phát triển. Nó
giải thích tại sao hầu hết mặt hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển là hàng hóa
sơ cấp hoặc là săn phẩm thâm dụng lao động, bởi vì đa số các nước này đều dư thừa về
lực lượng lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh đó, lsy thuyết còn đưa ra
một gợi ý về việc tăng thu nhập của ngườ
i lao động tại các nước đang phát triển.
1.3 Xuất khẩu
1.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng xuất khẩu
1.3.1.1 Tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái được xem như là công cụ đắc lực trong việc đẩy mạnh xuất khẩu.
Việc phá giá tức làm giảm giá của đồng tiên nội tệ so với đồng ngoại tế, làm cho đồng
nội tệ mất giá trị
ở một mức đáng kể nào đó, tạo ra giá cả hàng hóa, sản phẩm sản xuất
trong nước tính bằng ngoại tệ sẽ rẻ trông thấy nhằm giúp cho các doanh nghiệp sản xuất
và kinh doanh hàng xuất khẩu có khả năng kiếm lợi trên thị trường quốc tế, đồng thời
giúp cho sản xuất hướng ngoại phát triển, việc làm tăng lên, giảm thất nghiệp.
Tuy nhiên, chỉ có tỷ giá hối đoái thực mới xác định được sức cạnh tranh thương
mại quốc tế của một quốc gia, ảnh hưởng mạnh mẽ đến xuất khẩu bởi vì nó quyết đị
nh
phần lớn lợi nhuận xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái thực tế được xác định bởi công thức RER = R*P/P
Một sự tăng lên tỷ giá hối đoái thực thì sẽ làm cho giá cả bị giảm đi một phần
giá trị và ngược lại. Lý thuyết mậu dịch quốc tế đã cho rằng một sự giảm giá trị của
TGHĐ làm tăng lợi nhuậ
n xuất khẩu, do đó thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và ngược
trên thị trường thế giới, theo đó nhu cầu của các sản phẩm này sẽ tăng và dẫn đến mở
rộng xuất khẩu. Hơn nưa, tiến bộ công nghệ còn giúp cho việc phân bổ lại nguồ
n lực
vào việc sản xuất một cách hợp lý hơn.
1.3.1.4 Nhu cầu thế giới
Hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia phụ thuộc mạnh mẽ vào nhu cầu của thể
giới về loại hàng đó. Sự tăng nhu cầu của thể giới về một loại hàng hóa nào đó sẽ
khuyển khích mở rộng khả năng sản xuất từ đó xuất khẩ
u được đẩy mạnh. Ngoài ta, sự
tăng nhu cầu của thế giới về một loại hàng hóa thường đi kèm với sự tăng giá cả quốc tế
về loại hàng đó và dẫn đến sự xuất khẩu sẽ đem lại nhiều lợi nhuận. Điều này lại tiếp
tục khuyến khích tăng cường việc sản xuất xuất khẩu.
1.4 Phá giá
Phá giá là việ
c nâng cao hay giảm thấp sức mua của đồng tiền đối với các ngoại
tệ và có thể xem là một sự điều chỉnh tỷ giá mạnh, cực đoan (khác với điều chỉnh tỷ giá
bình thường ở điểm cơ bản là điều chỉnh tỷ giá bình thường là một việc làm thường
xuyên với mức độ nhỏ về thay đổi tỷ giá, không gây ra sự biến độ
ng lớn cho sự phát
triển kinh tế - xã hội). Về nguyên lý, mục đích của phá giá là để tăng khả năng cạnh
trnah quốc tế và cải thiện tình hình cán cân thương mại trong tài khoản vãng lai. Lập
luận được nêu ra là phá giá sẽ giúp tăng giá hàng nhập khẩu và giảm giá hàng xuất
khẩu. Tuy nhiên, để thực hiện việc phá giá thành công cũng cần phải có hàng loạt các
điều kiện đi kèm.
1.5 mối quan hệ giữa tỷ giá và hoạ
t động xuất nhập khẩu
1.5.1 Ý nghĩa của tăng trưởng xuất khẩu và các biện pháp để đánh giá
Các nước đang phát triển cần mở rộng xuất khẩu đẻ gia tăng khả năng nhập khẩu
máy móc thiết bị và các nguyên liệu để hiện đại hóa đất nước. Tăng trưởng xuất khẩu
có thể đo được bởi sự thay đổi tỷ trọng xuất kh
chống lạm phát. Khi có các biến động mạnh về tiền tệ trong nước, TGHĐ thương được
chốt lại để duy trì ổn đinh kinh tế vĩ mô. Vì thế các nhà tiền tệ thương không thích phá
giá. Vì giá trị thực của đồng nội tệ sẽ giảm và dẫn đến mở rộng cung tiền mà điều này
cũng với sự gia tăng trong giá nhập khẩu sẽ đẩy mặt bằng giá cả chung lên. Đồng thời
chi phí sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng cùng một tỷ lệ với mức phá giá. Cuối cùng
không có sự thay đổi nào trong giá nội tệ của hàng xuất khẩu và đôi khi hoạt động xuất
khẩu còn bị tổn thương từ sự bất ổn của kinh tế vĩ mô.
Giá trị đồng nội tệ giảm có thể làm mất đi niềm tin của các nhà đầu tư nước
ngoài và làm giảm đi lợi tức thực. Những điều này dẫn đến giảm đầu tư cho toàn bộ
nền
kinh tế kể cả xuất khẩu. Phá giá cũng làm gia tăng nợ và chi phí trả nợ nước ngoài bằng
đồng nội tệ mà điều này có thể tác động đến khu vực xuất khẩu.
1.6.2 Phương pháp tiến cận của trường phái mục tiêu thực
Chính sách tỷ giá phải ủng hộ cán cân thanh toán và mở rộng xuất khẩu. Có
nghĩa là, đồng nội tệ nên duy trì ở mức giảm giá. Sự lên giá của đồng nội tệ sẽ càng
ngày càng thu hẹp sức cung của hàng hóa xuất khẩu cũng như hàng hóa thay thế giá của
TGHĐ còn có thể đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu bởi vì hàng hóa phi mậu dịch có
thể được phát triển để xuất khẩu. Nền kinh tế nên duy trì TGH
Đ hiện hành khi có bất cứ
thay đổi có lợi nào trong giá thế giới. Phá giá đồng nội tệ phối hợp tự do hóa thương
mại, các chính sách giảm và chuyển đổi chi tiêu và các chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ
giảm đi áp lực lạm phát, vẫn duy trì được mức đầu tư cho khu vực xuất khẩu, không
làm giảm đầu tư nước ngoài và tăng khả năng trả nợ nền kinh tế.
Hàng hóa xuất khẩu có thể thay th
ế cao trong các nước đang phát triển. Nếu sự
lên giá kéo dài của đồng nội tệ, thị trường thế giới có thể thay thế xuất khẩu của nước
nhà và các xí nghiệp trong nước sẽ có khuynh hướng thay thế nguyên liệu nhập cho
nguyên liệu và lao động trong nước. Cán cân thương mại có thể được cải tiến sau năm
đầu tiên phá giá.
1.7 Thị trường nhỏ và mở cửa
Năm 2010, theo tình hình thế giới, việc phá giá VND có thể dự đoán trước.
Tháng 2/2010 VND bị phá 3,4% giá đồng tiền. Rồi đến tháng 8-2010 lại tiếp tụ
c phá
giá thêm một lần nữa với tỷ lệ 2,9%. Việc phá giá đồng tiền theo lý thuyết sẽ làm giá
hàng hóa trong nước có vẻ rẻ hơn và tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu; đồng thời các
nhà đầu tư sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam.
Song ở Việt Nam, năm 2010 tình hình không cải thiện nhiều. Điều này xuất phát
từ nhiều lý do như về tình trạng sản xuất và khả
năng cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu,
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, …
Cũng như các quốc gia đang phát triển cùng giai đoạn, nền kinh tế Việt Nam có
nhu cầu về nhập khẩu thiết bị máy móc để đổi mới công nghệ và nhập khẩu các nguyên,
vật liệu sản xuất các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà theo số liệu của
Tổng cục Thống kê là khoả
ng 90% tổng giá trị hàng nhập khẩu. Nhiều mặt hàng sản
xuất trong nước lại cần nhiều nguyên vật liệu nhập khẩu, bị phụ thuộc vào nhà cung
ứng nước ngoài. Do đó, khi giá nhiên, nguyên liệu thế giới tăng đều ảnh hưởng trực tiếp
để việc sản xuất.
Nói về xuất khẩu, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng nông
thủy sản, sả
n phẩm tài nguyên, như cao su, dầu thô,… trong các mặt hàng xuất khẩu thì
tỷ trọng nguyên liệu nhập khẩu lại chiếm 70%, chưa kể các yếu tố khác như: thuế xuất
khẩu, năng suất lao động của ngành hàng xuất khẩu, chất lượng và mức độ đa dạng hóa
chủng loại, tiếp thị, xúc tiến thương mại Giá trị xuất khẩu của các mặt hàng này dựa
phần nhiều vào ho
ạt động sản xuất và chiếm lấy thị trường hơn là tỷ giá hối đoái. Trong
thực tế việc giảm giá VND đã không làm xuất khẩu của Việt Nam tăng lên, mà cán cân
vẫn thâm hụt.
Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ
- Nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu
- Coi tỷ giá thực tế hiệu quả là trung tâm để điều hành chính sách tỷ giá hối đoái.
- Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
- Ổn định tỷ giá trong mối tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường xuất khẩu kích
thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quố
c tế và tăng dự trữ
ngoại tệ.
- Từng bước nâng cao uy tín của VNĐ, tạo điều kiện VNĐ trở thành đồng tiền tự do
chuyển đổi.
- Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hóa.
- Xác định giỏ các đồng ngoại tệ, thay đổi tập quán thanh toán xuất khẩu bằng đồng Đô
la Mỹ bằng các đồng ngoại t
ệ mạnh khác.
- Kiềm chế lạm phát - ổn định kinh tế vĩ mô.