tiểu luận tình hình lạm phát việt nam giai đoạn 2007-2009 nguyên nhân và giải pháp - Pdf 25

Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

1

Nhận xét của giáo viên
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007-2009: NGUYÊN
NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

[Type the document sub title]

TP.HChíMinh,tháng06năm2011
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ TP.HCM, tháng 06 năm 2011
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

2


2.2.3.1 Tác động đến tình hình kinh tế……………………………….25
2.2.3.2 Tác động đến tình hình xã hội………………………………….26
2.2.4 Giải pháp
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

3

2.2.4.1 Năm 2007 ………………………………………………………………… 27
2.2.4.2 Năm 2008………………………………………………………………… 29
2.2.4.3 Năm 2009 ………………………………………………………………… 35
2.2.5 Đánh giá các giải pháp
2.2.5.1 Năm 2007 ……………………………………………………….39
2.2.5.2 Năm 2008 ……………………………………………………… 41
2.2.5.3 Năm 2009 ……………………………………………………… 44

Phần 3 : Kết luận…………………………………………………………… 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………48

Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt
Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về tác động của nó đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế. Lạm phát là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình
độ phát triển kinh tế của một quốc gia như
ng cũng là một trong những trở ngại
lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước. Lạm phát được coi như là một căn


5

PHẦN 2 – NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Các quan niệm về lạm phát
Đối với vấn đề lạm phát có rất nhiều trường phái với nhiều cách tiếp cận khác
nhau và mỗi trường phái đều có những lý luận khác nhau :
1.1.1. Trường phái lưu thông tiền tệ
Theo trường phái lạm phát "lưu thông tiền tệ" (đại diện là Miltơn Priedman) họ
cho rằng lạm phát tiền tệ là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả
hàng hoá tăng lên. Chúng ta đề
u biết rằng không phải bất cứ số lượng tiền nào
tăng lên trong lưu thông với nhịp điệu nhanh hơn sản xuất cũng đều là lạm phát,
nếu như nhà nước không giảm bớt nội dung vàng hoặc giá trị tượng trưng trong
đồng tiền để bù đắp cho bội chi ngân sách. K.Mazx đã chỉ ra rằng ý nghĩ về lạm
phát của học thuyết này là quá đơn giản. Những người theo họ
c thuyết này đã
dùng logic hình thức để kết hợp một cách máy móc hiện tượng tăng số lượng tiền
với hiện tượng tăng giá để rút ra bản chất kinh tế của lạm phát.
1.1.2. Trường phái cầu kéo
Trường phái lạm phát do cầu kéo mà đại diện là J.Keynes cho rằng. Lạm phát là
"cầu dư thừa tổng quát cho phát hành tiền ra quá mức sản xuất trong thời kỳ toàn
dụng dẫn đến mức giá chung t
ăng. Chúng ta nhận thức được rằng nói lạm phát là
"cầu dư thừa tổng quát" là không chính xác, vì trong giai đoạn khủng hoảng ở
thời kỳ CNTB phát triển mặc dù có khủng hoảng sản xuất thừa mà không có lạm
phát. Còn ở Việt Nam trong năm 1991 có tình trạng cung lớn hơn cầu mà vẫn có
lạm phát giá cả và lạm phát tiền tệ. Tuy Keynes đã tiến sâu hơn trường phái lạm

lạm phát. Tuy nhiên nó có nhược điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh
tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và chưa nêu được ảnh hưởng c
ủa lạm phát
trên phạm vi quốc tế.
Trên đây là các quan điểm của các trường phái kinh tế học chính. Nói chung các
quan điểm đều chưa hoàn chỉnh, nhưng đã nêu được một số mặt của hai thuộc
tính cơ bản của lạm phát. Bàn lạm phát là vấn đề rộng và để định nghĩa được nó
đòi hỏi phải có sự đầu tư sâu và kỹ càng.
Chúng ta có thể dễ chấp nhận quan
điểm của trường phái giá cả, (ở nước ta và
nhiều nước quan niệm này tương đối phổ biến). Sở dĩ như vậy là vì thế kỷ XX là
thế kỷ lạm phát, lạm phát hầu như diễn ra ở tuyệt đại bộ phận các nước mà sự
tăng giá lại là tín hiệu nhạy bén, dễ thấy của lạm phát.
Như vậy chúng ta sẽ hiểu đơn giản là "lạ
m phát là sự tăng giá kéo dài, là sự thừa
các đồng tiền trong lưu thông, là việc nhà nước phát hành thêm tiền nhằm bù đắp
bội chi ngân sách". Hay lạm phát là chính sách đặc biệt nhanh chóng và tối đa
nhất trong các hình thức phân phối lại giá trị vật chất xã hội mà giai cấp cầm
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

7

quyền sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Nhưng nói chung lạm phát là một
hiện tượng của các nền kinh tế thị trường.
1.2. Phân loại lạm phát
1.2.1 Căn cứ vào định lượng
* Lạm phát vừa phải :Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ lạm phát dưới
10% một năm .Lạm phát vừa phải làm cho giá c
ả biến động tương đối. Trong
thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường ,đời sống của người lao

8

• Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng .
- Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động,
tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó
không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền
kinh tế nói chung.
- Lạm phát không cân bằng: T
ăng không tương ứng với thu nhập của người lao
động. Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
• Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
- Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì
tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có thể dự
đoán trước
được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo. Về mặt tâm lý, người dân
đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không gây
ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế.
- Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện. Loại
lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích
nghi. T
ừ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm
tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút.
Đối với các nước đang phát triển lạm phát thường kéo dài, do đó các nhà kinh tế
đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau: lạm phát kinh niên kéo dài trên
3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm, lạm phát nghiêm trọng thường kéo
dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạ
m phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm
với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm .
đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác.
1.3.3 Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ, khi cung tiền tệ tăng
lên kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát. Có thể thấy
ngưỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng. Khi nền kinh tế
chưa toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều, chưa khai thác nhiều.
Có nhiều nhà máy xí nghiệp b
ị đóng cửa chưa đi vào hoạt động. Do đó nhân viên
nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao … Trong trường hợp này, khi tăng cung tiền
thì dẫn đến lãi suất giảm đến một mức độ nào đó, các nhà đầu tư thấy rằng có thể
có lãi và đầu tư tăng nhiều. Từ đó các nhà máy ,xí nghiệp mở cửa để sản xuất,
kinh doanh. Lúc này nguyên nhiên vật liệu bắt đầu đượ
c khai thác, người lao
động có việc làm và sản lượng tăng lên .
Ở nền kinh tế toàn dụng, các nhà máy, xí nghiệp được hoạt động hết công suất,
nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa. Khi đó lực lượng lao động
được sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên
tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu thông. Chẳng hạn khi các
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

10

nhà máy, xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng lượng, thiếu
lao động, nguyên vật liệu dần bị han hiếm …Vai trò của chính phủ và các nhà
quản lý phải xác định được kênh lưu thông nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi
thông nó. Nếu không sẽ gây ra lạm phát. Lúc đó sản lượng không tăng mà giá cả
tăng nhiều thì lạm phát tấ
t yếu sẽ xảy ra .
Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách :
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều kiện kinh


11

tăng mức cung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát. Tuy nhiên khi sự thâm hụt
trầm trọng và kéo dài thì chính phủ phải áp dụng biện pháp in tiền.Việc phát hành
tiền sẽ ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ làm tăng mức cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên
cao và làm tăng thêm tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển,
việc phát hành trái phiếu chính phủ gặp nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị
trường còn hạn chế. Biện pháp in tiền được coi là có hiệu quả nhất. Vì thế mà khi
thâm hụt ngân sách càng nhiều và càng kéo dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ
gây lạm phát càng lớn.
Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành trái
phiếu có lợi hơn.Nhưng việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tă
ng và
lãi xuất tăng cao hơn .Lúc này để giảm lãi xuất trên thị trưòng Ngân hàng Trung
ương lại phải mua vào các trái phiếu đó .Như thế mức cung tiền lại tăng lên và dễ
gây lạm phát.
Tóm lại, nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường hợp vẫn làm
tăng cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá tăng
đồ
ng bản tệ sẽ bị mất giá. Khi đó tâm lý những người sản xuất trong nước muốn
đẩy giá hàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái. Mặt khác khi tỷ giá hối
đoái tăng, chi phí cho các nguyên vật liệu, hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên. Do đó
giá cả của các hàng hoá này tăng lên cao.Đây chính là lạm phát do chi phí đẩy.
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách
thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợ
p lý ,mất cân đối cũng xảy ra lạm phát.
1.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Trong thời gian gần đây một số nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam

và tăng trưởng kinh tế đều biểu diễn bằng hình chữ “U” ngược. Điều đó hàm ý
rằng tồn tại một phạm vi lạm phát an toàn khi mà lạm phát và tăng trưởng quan
hệ cùng chiều. Trong trường hợp đó lạm phát là cái giá phải trả của tăng trưởng
kinh tế.
Nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ có xu hướng tăng lạm phát, mặt khác sẽ có
tác dụng khuyến khích đầu tư, mở rộng tổng cầu và do vậy cho phép sử dụng
hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhiều nước
dã sử dụng chính sách này để tăng trưởng kinh tế. Đây là giải pháp thúc đẩy
nhanh nhưng kém bền vững, nó còn được gọi là giải pháp tăng trưởng “ bong
bóng” . Lạm phát quá cao chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tăng tr
ưởng kinh tế.
Các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó là dựa trên
cơ sở lạm phát ở mức thấp. Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì
hiệu quả của việc dự báo được nâng cao. Điều đó giúp các nhà đầu tư có thể xây
dựng các phương án đầu tư hiệu quả, còn đối với người tiêu dùng thì yên tâm chi
tiêu, không phải cân nh
ắc các mặt hàng khác thay thế do giá tăng. Tất cả các điều
đó góp phần vào tăng trưởng thực chất.
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

13

Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng
trưởng kinh tế còn điều kiện cần phải là vấn đề của chính phủ trong việc phát
triển nguồn lực, vốn, công nghệ kỹ thuật…
Dấu hiệu lạm phát đã xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăng vọt lên
1%, trái hẳn với thông lệ giá cả hơn một thập kỉ qua. Tín hiệu này đã được ghi
nhận và xử lý kịp thời. Tuy nhiên do không phân tích đúng nguyên nhân của lạm
phát, thêm vào đó việc triển khai th
ực hiện không nghiêm túc nên mặc dù tăng
trưởng kinh tế cả năm 2007 ở mức cao trên 8.5%, song lạm phát cũng ở mức kỷ
lục 12.63%.
Nửa đầu năm 2008, lạm phát liên tục leo thang và vượt qua mọi qui luật đã hình
thành hàng chục năm nay, buộc Việt Nam phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên
tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát. Trong bối cảnh lạm phát quá cao, kết
quả tăng trưở
ng đã mất đi khá nhiều ý nghĩa. Nhất là đối với các tầng lớp nghèo
dễ bị tổn thương, thu nhập chủ yếu trông chờ vào đồng lương. Khi vật giá leo
thang số tiền mỗi người có được dường như là nhiều hơn do doanh thu bán hàng,
thu nhập hoặc tiền lương khá hơn trước. Nhưng thực chất họ lại mua ít hàng hóa
và dịch vụ hơn vì sức mua của đồng tiền
đã giảm. Nếu không nhận diện đúng và
có những biện pháp thích hợp thì nguy cơ phải đối mặt với lạm phát phi mã gây
bất ổn kinh tế xã hội là điều khó tránh khỏi.
Chỉ sau 6 tháng, Tổng cục thống kê công bố công bố chỉ số CPI đã lên tới 26.8%
so với tháng 6 năm 2007 và 18.44% so với cuối năm 2007. Riêng nhóm hàng
lương thực thực phẩm tăng tương ứng tới 74.3% và gần 60%. Điều này
đã phá vỡ
mọi dự tính của chúng ta về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Càng
nghiêm trọng hơn khi Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 60% dân số và
lực lượng lao động là nông dân. Sự phụ thuộc của nền kinh tế nói chung và của
giá cả thị trường nói riêng vào những biến động trong khu vực sản xuất lương
thực thực phẩm của nước ta còn rất lớn, m
ặc dù tỷ trọng của nông nghiệp trong
GDP giảm xuống chỉ còn 20%.

lũy được 3 năm qua. Giá vàng có thời điểm lên đến xấp xỉ 20 triệu VND/ lượng,
tỷ giá hối đoái trên thị trường đã từng vượt mốc 19000 VND/ USD….
Nền kinh tế Việt Nam cuối tháng 5 đầu tháng 6 mấp mé bờ vực khủng hoảng với
những “bong bóng” khổng lồ chực chờ nổ tung trên thị trường tài chính tiề
n tệ,
thị trường tín dụng ngân hàng, thị trường bất động sản. Các tháng 6,7,8 chỉ số
CPI đã lên cao chóng mặt lần lượt là 18.4%, 19.8% và 21.7%.
Chỉ sau 3 quý đầu năm, CPI đã vượt mức 20%, đạt được mức kỷ lục từ 17 năm
qua. Điều đó cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ mất giá của đồng tiền: sau 3 năm
(tính đến tháng 9/ 2008) đồng tiền đã mất giá 48.5% so với kỳ
gốc 2005.
9 Giai đoạn giảm lạm phát (3 tháng cuối năm)
Sang tháng 10,11,12 liên tiếp 3 tháng giá nhiều loại hàng hóa đã chững lại và
giảm xuống. CPI cũng giảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế tháng âm: -0.19 (tháng
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

16

10), -0.76 (tháng 11), -0.66 (tháng 12). Tỷ lệ lạm phát từ 21.9% vào thời điểm
tháng 9 chỉ còn 19.89% so với tháng 12 (2007), làm dịu bớt cơn lạm phát của
Việt Nam. Nguyên nhân là do những tháng đầu năm giá mặt hàng lương thực,
thực phẩm tăng nhanh; hàng phi lương thực thực phẩm mặc dù chậm nhưng vẫn
tăng giá. Đến cuối năm hàng lương thực thực phẩ
m dường như không tăng nữa
và đồ thị là một đường nằm ngang. Trong khi đó giá hàng hóa phi lương thực
thực phẩm giảm nhanh nên tốc độ tăng giá chung giảm xuống. Bên cạnh đó là
nhờ những biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ đã phát huy tác dụng
chẳng hạn như Nghị quyết số 10/2008/ NQ- CP ngày 17/4/2008 về các biện pháp
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bả
o đảm an sinh xã hội và tăng trưởng

kinh tế toàn cầu.
Trong 3 tháng đầu năm, mặc dù kinh tế gặp nhiều khó khăn cộng hưởng thêm tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới,
nhưng nền kinh tế Việt Nam đã được nhiều kế
t quả tích cực. Tiêu biểu là tăng
trưởng kinh tế dương ( trong khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều bị suy
giảm), lạm phát tiếp tục được kiềm chế ở mức thấp. Tháng 1 tăng thấp, tháng 2
tăng cao hơn với 1.17%, tháng 3 tăng ít 0.33% nên tính chung cho 3 tháng tăng
chậm hơn cùng kỳ năm trước.

Tháng 2 3 4 5 6 7 8 9
CPI tháng
sau so với
tháng trước
1.17% 0.33% 0.35% 0.44% 0.55% 1.13% 1.56% 0.62%

Bảng 1: CPI tháng sau so với tháng trước trong năm 2009

Các nhóm giải pháp tích cực của Chính phủ đã đem lại kết quả tích cực ở những
tháng quí II. Một số doanh nghiêp nhỏ lẻ đã tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất
tương đối thấp nên hồi sinh trở lại. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 4,5,6 bắt đầu
tăng nhẹ. Theo Tổng cục thống kê so với tháng 5, CPI tháng 6 tính chung cả
nước tă
ng 0.55% , cao hơn mức tăng 0.44% của tháng 5, 0.35% của tháng 4 và
0.33% hồi tháng 3. Nếu so với tháng 12/2008 chỉ số giá tháng 6/2009 tăng
2.68%. Chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2009 so với thời kỳ tương ứng của
năm 2008 đã tăng 10.27%. Tuy chỉ tăng nhẹ nhưng tốc độ tăng tháng sau luôn
cao hơn tháng trước cho thấy chặng đường tăng lên liên tục trong quí 2. CPI
tháng 6 tăng là do giá cả một số mặt hàng thiết yếu như thực phẩ
m, xăng dầu,

và kéo dài sang nhiều tháng đầu năm 2008 làm cho việc cấp tín dụng cho các
hoạt động đầu cơ chứng khoán, đầu cơ bất động sản còn dễ dàng hơn cấp tín
dụng cho các dự
án đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ trong 3 năm từ
năm 2005 đến năm 2007, cung tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%, tốc độ
tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp đôi so với
năm 2006. Tính đến 31/12/2007, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,7% so với
31/12/2006. Tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 57,53% so với

m 2006. Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng là do tổng lượng
ngoại tệ ròng chảy vào nền kinh tế tăng mạnh. Các nguồn vốn ngoại ( đầu tư trực
tiếp và gián tiếp nước ngoài , ODA, kiều hối ) tràn vào khá lớn từ năm 2007 và
tăng đột biến ngay từ đầu năm 2008. Để duy trì tỷ giá USD, ngân hàng nhà nước
đã tăng dự trữ ngoại hối từ 11,5 tỷ USD (năm 2006 ) lên 21,6 tỷ
USD (năm 2007)
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

19

và đẩy một lượng tiền lớn ra thị trường. Trong khi đó, một mặt khả năng tiêu hóa
nội địa còn thấp kém, năng lực sản xuất trong nước không theo kịp làm xảy ra
tình trạng dư thừa tiền trong lưu thông. Mặt khác, công tác điều hành của nhà
nước không theo kịp nhịp độ, không thu hồi kịp thời lượng thiền tung ra mua
ngoạ
i tệ dự trữ khi các dòng ngoại tệ tràn vào đã làm cho các nghiệp vụ thị
trường mở không đủ khả năng trung hòa các “ phản ứng phụ” của dòng ngoại tệ.
Trong lưu thông, cung tiền qua mức cần thiết trong khi cung đứng yên thì tất yếu
dẫn đến lạm phát. Nếu phản ứng không kịp, để kéo dài sẽ sinh ra lạm phát cao,
điều đó không thể tránh khỏi.
2.2.2 Lạm phát cầu kéo

20 năm nay do hiệu quả cũng như năng suất lao động thấp, khả năng tiêu hóa các
luồng vốn lớn từ bên ngoài còn kém…. Tình trạng nhập siêu còn nghiêm trọng
hơn vào đầu năm 2008, từ đó tạo điều kiện cho lạm phát chi phí đẩy bùng phát.
Nền kinh tế bị phụ thuộc vào bên ngoài, nhập siêu quá lớn sẽ làm loạn giá cả
trong nước, nhấ
t là khi gía cả trên thị trường thể giới biến động mạnh. Điều này
đặt biệt rõ khi giá dầu thô và nhiều nguyên vật liệu chính, sắt thép, phân bón,
xăng dầu… trên thị trường thế giới tăng đột biến đầu năm 2008 và sau đó giảm
mạnh từ quý IV-2008 đã làm cho giá cả trong nước biến động theo một cách thất
thường. Gía dầu lửa đã tăng từ 53,4 USD/thùng tháng 1/2007 lên 89,4 USD/
thùng tháng 12/2007 và đạt đỉnh mớ
i 125,96 USD /thùng vào ngày 9/5/2008.
2.2.4 Nguyên nhân khác
Ngoài ra, lạm phát ở nước ta còn xuất phát từ một số nguyên nhân sau
Tâm lý dám đông bị kích động bởi các tin đồn thất thiệt và tình trạng đầu cơ trục
lợi. Thêm vào đó, thiên tai, dịch bệnh lây lan đã đẩy giá lương thực, thực phẩm
tăng cao, gây náo loạn thị trường. Thậm chí có cả nguyên nhân đã tích tụ từ lâu
do đầu tư kém hiệu quả ( hệ số ICOR tăng ), cuối cùng thể hiệ
n ở chênh lệch tăng
trưởng GDP và tăng cung tiền đã ngày một giãn rộng trong vòng 3 năm qua.
Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến tháng 6/2006,
GDP tăng 25% trong khi mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng
đã tăng đến 110 %.
2.3. Tác động của lạm phát
2.3.1 Tác động đến tình hình kinh tế
* Lĩnh vực tiền tệ, tín dụng: Đối với các Ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ, l
ạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm xuống, đã ảnh hưởng xấu đến
hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
- Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của

hóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, nhưng lại khan hiếm tiền mặt.
Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng
tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trong
đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông
ngoài ngân hàng lớn, Ngân hàng Nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát
chu chuyển của luồ
ng tiền này, các Ngân hàng thương mại cũng khó khăn trong
việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng. Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn,
ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM. Sự không ổn định của giá cả, bao
gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây
khó khăn cho sự lựa ch
ọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài
chính – tín dụng.
* Lĩnh vực sản xuất: Lạm phát tăng cao đã làm giá đầu vào và đầu ra của các
nguyên vật liệu, sản phẩm biến động không ngừng tạo nên sự mất ổn định trong
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

22

thị trường, gây khó khăn không nhỏ đối với các Doanh nghiệp Việt Nam. Hơn
nữa giá cả tăng cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp của Việt
Nam hiện nay, khoảng 95% là Doanh nghiệ
p nhỏ và vừa.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 20% doanh nghiệp khó có thể
tiếp tục hoạt động. Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động
của khó khăn kinh tế, nên sản xuất sút kém. Lạm phát đang làm các công ty
không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản

ngân hàng không tăng lãi suất tiền gửãi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân
hàng mà tìm cách đầu c
ơ vào đất đai khiến giá cả đất đai tăng cao ). Chính
những hoạt động đầu cơ này lại càng làm cho thị trường trở nên khan hiếm hàng
hóa, dẫn đến mất cân bằng cung-cầu.
Năm 2007, giá lương thực-thực phẩm trên thị trường Việt Nam tăng cao đạt mức
18,9%, cao hơn nhiều so với mức lạm phát 12,63%, trong đó nhóm lương thực
tăng 15,5% và thực phẩm tăng 21,16%. Những mặt hàng nh
ư thiết bị và đồ dùng
gia đình tăng giá 8,36% so với năm 2007, giá mặt hàng may mặc tăng 9,81%, đặc
biệt trong lĩnh vực nhà ở và vật liệu xây dựng, giá tăng lên đến 22,39% so với
năm 2007. Tình hình này làm cho sức tiêu thụ hàng hóa trong nước có dấu hiệu
yếu dần.
Đối với những mặt hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tâm lý như chứng khoán
và bất động sản thì giá cả của chúng l
ại giảm xuống rõ rệt. Xét thị trường chứng
khoán năm 2008: Liên tục những phiên giảm giá của thị trường trong những
tháng đầu năm 2008. Trong quý II năm 2008 thị trường chứng khoán vừa khép
lại một tuần giảm mạnh cả về điểm số, giá chứng khoán và khối lượng giao dịch.
Tại sàn Tp.HCM, chỉ còn 3,5 triệu đơn vị, bằng phân nửa khối lượng những
phiên gần đây và có giá tr
ị 148 tỷ đồng. Chỉ số VN-Index qua phiên này chính
thức về mốc 500 điểm, giảm 7,61 điểm, còn 500,33 điểm. HASTC-Index chỉ còn
154,23 điểm, giảm 3,19 điểm. Đúng như dự đoán, thị trường chứng khoán đã
xuống mức “đáy” 366 điểm vào ngày 20/6.
Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007-2009: Nguyên nhân và giải pháp

24
nhiều khó khăn khi lạm phát tăng cao.
• Những người gửi tiết kiệm bằng tiền: Khi lạm phát tăng cao, giá trị của
đồng tiền ngày càng giảm, mọi người c
ố gắng tiêu thụ càng nhanh số tiền
mình có càng tốt, hoặc đổi nó sang ngoại tệ hay vàng, … những thứ có giá
trị cất giữ lâu hơn. Còn đối với những người gửi tiết kiệm bằng tiền, nhất
là gửi dài hạn thì đồng tiền mất giá là một thiệt hại lớn đối với tài sản tiền
của họ.
• Người nghèo: Đây chính là đối tượng bị ảnh h
ưởng nặng nề nhất trong cuộc
lạm phát tăng cao do giá tăng, lương thực tế giảm xuống, tỉ lệ thất nghiệp tăng
cao… Trong khi các chính sách hỗ trợ của Chính phủ thì chưa sâu rộng để có
thể hỗ trợ giúp đỡ người nghèo tự thoát khỏi khó khăn.
2.3. Giải pháp
2.4.1 Năm 2007
Trong bối cảnh lạm phát đặc biệt tăng nhanh vào tháng 6 năm 2007 ( chỉ số giá CPI vọt
lên mức x
ấp xỉ 1% , trái với thông lệ giá cả hơn một thập kỷ qua ) . Tín hiệu về lạm phát
này đã được chính phủ thu nhận kịp thời và xử lý thông qua các chỉ thị :
* Ngày 01/8/2008 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 18/2007/CT-TTg về một số
biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng hị trường.
Thủ tướng yêu cầu: rà soát các chính sách điều hành tiền tệ để có biệ
n pháp thích hợp
kiểm soát được mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và mức huy động tín
dụng; thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền trong lưu
thông ở mức hợp lý; giữ bình ổn tỷ giá hối đoái, các lãi suất chủ đạo của đồng tiền Việt
Nam, không để xảy ra những đột biến trên thị tr
ường tiền tệ… Rà soát, tập trung vốn
đầu tư cho các dự án quan trọng; kiên quyết thực hiện việc điều chỉnh vốn của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status