Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam doc - Pdf 15

Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
1
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm tòi tài liệu trong thư viện trường Đại học Công nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Đa phương tiện, các phương tiện thông tin đại chúng,
sự hướng dẫn của Thầy Đặng Công Triết giảng viên bộ môn Tài chính - Tiền tệ, chúng
em đã hoàn thành xong đề tài tiểu luận: “Lạm phát”. Bài tiểu luận này, thực sự là dấu
ấn quan trọng trong quá trình học tập của mỗi thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên
đều phải vượt qua những hạn chế của bản thân về thời gian, phương tiện đi lại, thi giữa

CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ, BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT 28
3.1 Hậu quả 28
3.1.1. Tích cực 28
3.1.2. Tiêu cực 29
3.2 Biện pháp khắc phục 33
KẾT LUẬN 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 40
3
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
4
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường diễn biến phức tạp và cạnh tranh ngay
càng gay gắt, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới
(WTO). Các công ty đang bị cuốn hút vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt trong tất cả
các lĩnh vực để tồn tại và phát triển. Lạm phát là một trong những vấn đề của kinh tế
học vĩ mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công lý. Lạm
phát đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế.
Để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cần
phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức thấp đó là những
mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Không có gì đáng ngạc nhiên
khi câu hỏi có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm phát và phát triển kinh
tế đã được các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung
tâm của nhiều cuộc tranh luận về chính sách.

• Một số khái niệm liên quan:
Giảm phát: Là hiện tượng mức giá chung của các loại hàng hóa và dịch vụ giảm
xuống trong một thời gian nhất định.
Ví dụ: vào cuối năm 2008,ở VN đã xảy ra tình trạng giảm phát. Chỉ số lạm phát ngày
càng có xu hướng giảm dần, tháng 8 là 1,56%; đến tháng 9 chỉ còn 0,18%; tháng 10 giá
cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm 0,19%); sang tháng 11, chỉ số giá cả giảm với mức
độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng 12/2008 - tháng cuối cùng năm 2008, chỉ số giá cả
vẫn tiếp tục giảm.
6
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Giảm lạm phát: Là hiện tượng xảy ra khi tỉ lệ lạm phát của năm được xét thấp hơn tỉ
lệ lạm phát của năm trước.
Thiểu phát: Là hiện tượng xảy ra khi tỉ lệ lạm phát thực tế nhỏ hơn tỉ lệ lạm phát dự
kiến làm sản lượng thực nhỏ hơn sản lượng dự kiến.
Ví dụ: Một số tình huống thiểu phát ở VN như trong năm ăm 2008 đánh dấu một năm
lạm phát cao, song chỉ đến đầu quý 3, do các biện pháp kiềm chế lạm phát quá mức,
bắt đầu có nỗi lo thiểu phát và "Nhiều người lo ngại Việt Nam cũng đối mặt với nguy
cơ tương tự, nhất là khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 giảm 0,19%. Đây là lần đầu
tiên sau một năm rưỡi trở lại đây, CPI ở mức âm.
1.1.2. Phân loại lạm phát:
Có hai căn cứ: Theo khả năng dự đoán và theo tỷ lệ lạm phát.
1.1.2.1. Theo khả năng dự đoán:
• Lạm phát dự đoán được:
Là lạm phát diễn ra đúng như dự kiến. Mọi người đã tính trước sự tăng giá đều đặn của
nó (ví dụ tăng 1% một tháng)
− Tác động:
Lạm phát này không gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế vì dân chúng sẽ làm giảm thiệt
hại bằng hai cách:
 Thứ nhất: hạch toán thêm tỉ lệ lạm phát (trượt giá) vào những chỉ tiêu có liên

mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch ngắn ngày.
Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hoá, mua bất đọng sản và chuyển sang sử
dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dich có
giá trị lớn và tích luỹ của cải.
8
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Việt Nam và hầu hết cá nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tạp trung sang
nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực
hiện cải cách.
• Siêu lạm phát :
− Khái niệm: Tỷ lệ lạm phát rất lớn, từ 4 con số trở lên (khoảng 1000% trở lên trong
một năm).
Một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát:
 Thứ nhất, các biện pháp này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp
định.
 Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau
chiến tranh, nội chiến, hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính
phủ. Vào những năm 1980, các cú sốc bên ngoài và cuộc khủng hoảng nợ của
thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạm phát ở 1 số
nước Mỹ la-tinh.
− Tác động:
Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung
tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải cài trợ cho thâm hụt ngân sách quá
lớn.
Hơn nữa một khi lạm phát cao đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trở
nên không thể kiểm soát được: lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính
theo phần trăm so với GDP mà điều này đến lượt nó làm tưng thâm hụt ngân sách và
dẫn đến lạm phát cao hơn.
Dựa trên các bằng chứng lịch sử, dường như là thâm hụt ngân sách kéo dài được

phát triển ở Việt Nam vẫn cần được tiếp tục cải thiện. Đây là nguyên nhân sâu xa khiến
cho lạm phát luôn ở trong tình trạng chực chờ, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ
mô.
10
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Ngoài nguyên nhân tiền tệ kể trên, chúng ta xem xét những nguyên nhân còn lại
xuất phát từ phía cầu và phía cung hàng hóa (lạm phát chi phí đẩy (cost push) và cầu
kéo (demand pull). Đây là những nguyên nhân trực tiếp và dễ thấy nhất.
• Nguyên nhân khách quan: như thiên tai, động đất, sóng thần là những nguyên
nhân bất khả kháng hoặc nguyên nhân nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh,
tình hình biến động của thị trường nguyên liệu, vàng, ngoại tệ trên thế giới.
Cụ thể:
− Lạm phát do cầu kéo – Demand pull inflation: Nguyên nhân này xảy ra khi tổng
cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng cung trong cùng thời điểm đó. Trường hợp này xuất
hiện có thể là do tổng cầu tăng nhưng tổng cung không đổi, hoặc tổng cung cũng tăng
nhưng tăng không bằng tổng cầu.
Tổng cầu trong nền kinh tế bao gồm chi tiêu của hộ gia đình - C, chi tiêu của
chính phủ - G, Đầu tư trong nền kinh tế - I, Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu - X, lượng
hàng hóa nhập khẩu - M, hàng hóa nhập khẩu làm phong phú thêm hàng hóa trong
nước làm giảm căng thẳng của tổng cầu nên được biểu diễn bằng dấu âm (-) trong biểu
thức cộng các yếu tố của tổng cầu.
11
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Lạm phát do cầu kéo
Nếu gọi tổng cầu là AD thì: AD = C + I + G + X – M. Tổng cầu tăng có thể do
một hoặc một số các yếu trong vế bên phải của biểu thức tăng lên.
− Lạm phát do chi phí đẩy – Cost push inflation: Lạm phát loại này xuất hiện khi
chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm sút.


Lạm phát do chi phí đẩy
− Lạm phát ỳ của nền kinh tế:
Đây là loại lạm phát hoàn toàn được dự tính trước. Mọi người đã biết trước và
tính đến khi thoả thuận về các biến tỷ lệ lạm phát cân bằng trong ngắn hạn và nó sẽ
được duy trì cho đến khi có các cú sốc tác động đến nền kinh tế.
13
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Lạm phát ỳ của nền kinh tế - Đồ thị AD-AS
Trong đồ thị AD-AS, cả đường AD, AS cùng dịch chuyển lên trên với tốc độ như
nhau. Sản lượng luôn được duy trì ở mức tự nhiên, trong khi mức giá tăng với một tỷ lệ
ổn định theo thời gian
1.3. Đo lường lạm phát
1.3.1. Đo lường lạm phát:
1.3.1.1. Chỉ số lạm phát:
• Chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Là chỉ số dùng để đo lường biến động mức giá trung bình của những hàng hóa và
dịch vụ thông thường mà một gia đình tiêu dùng ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc.
Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát: CPI đo lường lạm phát được trải qua bởi người
tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng ngày của họ.
Sự gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm
phát”. Nó được sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương lai,
bởi các ông chủ để tính tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng cho quỹ bảo
trợ xã hội.
CPI được thu thập và tính toán:
Trong đó:
• P
it
: giá sản phẩm i ở kì hiện hành.

liệu, và tạo ra những sự điều chỉnh cần thiết.
CPI ảnh hưởng đồng tiền của quốc gia: Dấu hiệu của lạm phát có nghĩa là
NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo lạm phát là chỉ số CPI. Nếu CPI
tăng, thì nó sẽ cho các NHTW các dữ liệu hỗ trợ cho việc tăng lãi suất, lãi suất tăng thì
đồng tiền của quốc gia tăng.
• Chỉ số giá sản xuất( PPI):
Công thức tính: PPI =
15
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính
đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi
nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là
không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán.
Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng
phát sinh nào bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự
đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát
PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những
sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
• Chỉ số giá bán buôn:
Đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán
có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống với PPI.
Chỉ số giá hàng hóa:
Đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn. Trong trường
hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng. Khi nước Mỹ sử dụng
bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc.
• Chỉ số giá sinh hoạt (CLI):
Là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong
đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học
tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với

phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có
thể đem đi tiêu).
 NX: "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nền
kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sản xuất) -
17
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm và dịch vụ
do nền kinh tế khác sản xuất).
• Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI):
Trong "Báo cáo chính sách tiền tệ cho Quốc hội" sáu tháng một lần ("Báo cáo
Humphrey-Hawkins") ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee
(FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI
sang "chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân".
1.3.1.2. Cách đo lường lạm phát:
Có 2 cách tính tỉ lệ lạm phát:
Cách 1:
Π = x 100%
Trong đó:
• Π: tỉ lệ lạm phát thời kì t.
• P(t): mức giá thời kì t.
• P(t-1): mức giá thời kì trước.
Muốn tính được ∏ trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử dụng chỉ số giá
nào để phản ánh mức giá. Người ta thường dùng GDP và CPI để đo lường mức giá
chung. Tuynhiên mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống thì CPI tỏ
ra thích hợphơn. Trong thực tế các số liệu công bố chính thức về lạm phát thường được
tính trên cơ sở CPI.
Cách 2:
18
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam

cố tình tăng lãi suất huy động vốn quá cao vượt quá ngưỡng an toàn, đưa những chi phí
bất hợp lý vào giá của khoản vay, để làm lành mạnh môi trường đầu tư, cho vay của
chính các ngân hàng.
• Tác động của lạm phát tới khối lượng tiền trong nền kinh tế:
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa,
thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát, nhưng
lại khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có
khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân
hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu
thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển
của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín
dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp
thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly ngoài hoạt động
Vì vậy, NHNN phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu
thông, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng
đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do
lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi
trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt
Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở
lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài
hạn đối với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và
dài hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng
đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là
điều khó tránh khỏi.
20
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
Để giải quyết vấn đề này, cần phải phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, khi sử dụng cách này chúng ta vừa có điều
kiện tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa thu hút khách hàng đến với ngân hàng để tăng

kịp mức tăng của giá cả, đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố định như là
những người hưởng lương hưu hay công chức. Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị giảm
đi.
• Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm.
Trong điều kiện lạm phát vừa phải sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển vì nó có tác
dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất
kinh doanh, kích thích sự tiêu dung của chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có quan hệ nghịch biến.Nhà kinh tế đoạt giải Nobel
James Tobin nhận định rằng lạm phát vừa phải sẽ là “ dầu bôi trơn” cho kinh tế Lạm
phát khuyến khích nhà đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm. Tỉ lệ thất
nghiệp giảm. Có thể nhận thấy qua mô hình đường Phillips.
Mô hình đường cong Phillip
• Tác động của lạm phát đến chi phí xã hội:
− Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và
lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho
người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên đến
22
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
ngân hàng để rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ
những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải
hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.
− Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp
sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm.
− Giá cả tương đối biến đổi mạnh hơn: Làm thay đổi giá tương đối một cách
không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương
nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không
muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên
rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá. Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn
lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên

Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu hiện nay, tái cơ cấu nền kinh tế là
điều kiện cần thiết để tồn tại và phát triển. Thực hiện được tái cơ cấu nền kinh tế
sẽ giảm bớt áp lực của lạm phát (đặc biệt là lạm phát cơ cấu, lạm phát chi phí
đẩy tới nền kinh tế.
24
Tiểu luận: Tình hình lạm phát ở Việt Nam
GVHD: Thầy Đặng Công Triết
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
2.1. Lạm phát năm 1986
Gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là năm có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm phát
thực sự đã xuất hiện từ nhiều năm trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985
lần lượt tăng là: 70%, 95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận
có lạm phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám đưa vấn đề ra để phân
tích, bàn luận công khai. Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một thời
gian dài cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm 1985.
Có lẽ có quan niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam
và lạm phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định “Sức mua của đồng tiền mới bằng 10 lần
sức mua của đồng tiền cũ” (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985). Nhưng sau đổi
tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%, nền kinh tế bước vào thời
kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp theo.
Phải đến cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm
soát lạm phát mới được đưa ra. Một trong những quyết định quan trọng ghi nhận được
lúc đó là việc lần đầu tiên mạnh tay nới lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và
tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá
từ năm 1992.
Trước tháng 12/1988, tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường thấp hơn
thị trường tự do hàng chục lần. Các công ty xuất khẩu lẩn tránh việc đưa ngoại tệ vào
ngân hàng bằng cách nhập khẩu hàng hóa quay vòng. Vào tháng 12/1987,
Vietcombank công bố tỷ giá ngoại tệ là 3.000 đồng/USD. Đây là bước tăng vọt so với
tỷ giá 368,2 đồng công bố từ đầu năm, tuy vẫn còn thấp hơn mức giá 4.300 đồng ở thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status