phân tích tình hình lạm phát ở việt nam năm 2011 - Pdf 13

Đại Học Hải Phòng
Khoa Kế Toán – Tài Chính
Khóa học 2009 – 2013
Tiểu Luận Lý Thuyết
Tài Chính- Tiền Tệ
Đề tài : Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam
năm 2011

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Ánh
Lớp : TCNH D-K10
Hải Phòng , năm 2011
1
Lời mở đầu :
Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề của
kinh tế học vĩ mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và
công chúng. Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên
thế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai
trò của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế. Nghiên cứu lạm phát, kiềm
chế và chống lạm phát được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Càng
ngày cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và
nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp. Mỗi giai đoạn khi lạm
phát xuất hiện với hình thức và dáng vẻ khác nhau thì lại có nhiều câu hỏi
tranh luận được đặt ra: bản chất của lạm phát là gì? Các hình thức biểu hiện
biểu hiện của nó ra sao? Nó có tác động nghiêm trọng như thế nào đối với
nền kinh tế? Thực trạng về vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang diễn
biến như nào? Chúng ta cần phải làm gì để điều tiết nền kinh tế và kiềm chế
lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam đặc biệt
trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế
hiện nay. Nhất là cho đến thời điểm này giá cả các mặt hàng thiết yếu trong
và ngoài nước diễn ra rất phức tạp. Giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiết
yếu như: xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, phân bón … đều tăng. Đặc biệt trong

kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng , thu nhập thực tế của người lao động
giảm mạnh.
1.2.2 : Về mặt định tính
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
• Lạm phát cân bằng : tỷ lệ lạm phát tương ứng với thu nhập, không ảnh
hưởng tới đời sống của người lao động.
• Lạm phát không cân bằng : tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với
thu nhập.
- Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường :
• Lạm phát dự đoán trước : là lạm phát xảy ra trong một thời gian tương
đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn , ổn định nên có thể
dự đoán được trước tỷ lệ lạm phát cho những năm sau.
3
• Lạm phát bất thường : lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó
chưa hề xuất hiện. Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nền
kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương
đại.
1.3 :Nguyên nhân gây lạm phát
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó “lạm phát do
cầu kéo” và “ lạm phát do chi phí đẩy” được coi là 2 nguyên nhân chính.
- Lạm phát do cầu kéo : Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “
lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hóa hay dịch vụ ngày
càng kéo giá của hàng hóa hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà
khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là “ quá nhiều tiền đuổi theo
quá ít hàng hóa”.
- Lạm phát do chi phí đẩy : Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền
lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho
công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc một vài yếu tố này tăng lên
thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên. Các xí
nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành

Để duy trì và ổn định sự hoạt động của mình , hệ thống ngân hàng
phải luôn luôn cố gắng duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản có
của mình tức là phải giữ cho lãi suất thực ổn định. Có , Lãi suất thực = lãi
suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát . Do đó, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu
muốn cho lãi suất thực ổn định, lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ
lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả mà nền kinh tế
phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.
1.4.2 : Lạm phát và thu nhập thực tế
Nếu thu nhập danh nghĩa không đổi , lạm phát xảy ra sẽ làm giảm thu
nhập thực tế của người lao động . Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực
của những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài
sản có lãi , tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi , các khoản lợi
tức. Điều đó xảy ra là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sở
của thu nhập danh nghĩa . Khi lạm phát tăng, những người đi vay tăng lãi
suất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng , làm cho số tiền thuế thu nhập
mà người có tiền cho vay phải nộp tăng cao ( thuế suất không tăng ). Kết quả
cuối cùng là thu nhập ròng ( thu nhập sau thuế ), thực ( sau khi đã loại trừ tác
động của lạm phát ) mà người cho vay nhận được suy giảm đi .
1.4.3 : Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng
Trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay , khi lạm
phát tăng cao, người cho vay sẽ là người chịu thiệt và người đi vay sẽ là
người được lợi . Điều này tạo nên sự phân phối thu nhập không bình đẳng
giữa người đi vay và người cho vay . Hơn thế nữa , nó còn thúc đẩy những
người kinh doanh tăng cường thu hút tiền vay để đầu cơ kiếm lợi . Cuối
cùng , những người nghèo càng nghèo hơn , những người giàu càng giàu
lên . Tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập , về mức sống giữa người giàu và
người nghèo .
1.4.4 : Lạm phát và nợ quốc qia
5
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được hưởng lợi do thuế thu nhập

cần thiết khác để thu hút hàng hóa từ nước ngoài vào .
- Thư tư : Đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài .
- Thứ năm : Cải cách tiền tệ
1.6.2 : Những biện pháp chiến lược
Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân . Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế
lâu dài cho đất nước , làm cơ sở cho sự ổn định tiền tệ một cách bền vững .
6
- Thứ nhất : Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thông
hàng hóa. Đây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy
trì sự ổn định tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân .
- Thứ hai : Kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế quản lý hành
chính. Biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường
xuyên của ngân sách nhà nước, trên cơ sở đó giảm bội chi ngân sách nhà
nước .
- Thứ ba : Tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên
cơ sở tăng các khoản thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp
lý ,chống thất thu , đặc biệt là thất thu về thuế , nâng cao hiệu quả của
các khoản chi ngân sách nhà nước .
Chương 2 :
Thực trạng về tình hình lạm phát ở Việt Nam năm
2011.
2.1 :Tình hình kinh tế ở Việt Nam và thế giới trong những năm gần đây.
2.1.1 : Tình hình chung về kinh tế thế giới .
Kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2011 đã phục hồi chậm lại do
những khó khăn từ các đầu tàu kinh tế . Bước sang năm 2011, tuy ảnh hưởng
khủng hoảng kinh tế đã tạm lắng nhưng vẫn còn tiểm ẩn nhiều biến động,
điển hình là khủng hoảng nợ công của Hi Lạp, các nước Châu Âu như Tây
Ban Nha, Ý và Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy cơ tương tự và bong
bóng tài sản ở Trung Quốc. Hiện nay , lạm phát đang trở thành mối lo hàng

để đưa nền kinh tế thế giới đi lên là vô cùng quan trọng.
2.1.2 : Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2011.
Tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10 dưới sự chủ trì của
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam. Bộ trưởng
khẳng định, Chính phủ thống nhất đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng
10 và 10 tháng năm 2011 tiếp tục có những chuyển biến tích cực với những
kết quả rõ nét.
Cụ thể, chỉ số CPI tháng 10/2011 tăng 0,36%, đây là mức tăng thấp
nhất kể từ đầu năm và là tháng thứ 3 liên tiếp mức tăng giá dưới 1%. Xuất
khẩu tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và so với
kế hoạch đã đề ra. 10 tháng ước đạt trên 78 tỷ USD, tăng 34,6% so với cùng
kỳ. Nhập siêu tháng 10 giảm mạnh, bằng 9,6% kim ngạch xuất khẩu; nhập
siêu 10 tháng đầu năm 2011 xấp xỉ 10,8% thấp hơn nhiều so với mức phấn
đấu đề ra.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm 2011 ước
đạt 9,1 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2010 tuy một số dự án và số
vốn đăng ký mới thấp hơn cùng kỳ. Thu ngân sách 10 tháng ước đạt 530
nghìn tỷ, bằng 89,1% dự toán năm; chi ngân sách bằng 79,2%.
Tuy nhiên bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, còn không ít các
khó khăn, thách thức, Chỉ số giá tiêu dùng CPI tuy đã giảm dần nhưng sức
ép về lạm phát và tỷ giá còn rất lớn, lãi suất còn cao. Sản xuất kinh doanh
đang gặp nhiều khó khăn, do thiếu vốn và hàng tồn kho lớn. Bên cạnh đó thì
thiên tai, dịch bệnh gây nhiều thiệt hại, khó khăn cho sản xuất và đời sống
người dân.
8
Nguyên nhân của tình hình trên: Về khách quan, do tác động tiêu cực
của tình hình kinh tế thế giới; về chủ quan là do những hạn chế, yếu kém
vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chậm được
khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải đối phó với tình
trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều hành của
các cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng lạm phát

trong cơ cấu kinh tế, phối hợp thực hiện chính sách, kể cả có những yếu tố
quản lý, tâm lý, đầu cơ thị trường
9
Tính chung, mức lạm phát cuối năm so cùng kỳ năm trước sẽ có nhiều
khả năng đạt tới trên 15%, tức cao hơn khoảng ¼ mức tương ứng năm 2010
và cao gấp đôi mức kế hoạch đặt ra đầu năm. Đồng thời, mức tăng trưởng
GDP cả năm 2011 có thể sẽ thấp hơn năm ngoái do thu hẹp nguồn đầu tư
công (theo tinh thần Nghị quyết số 11 của Chính phủ) và dòng vốn đầu tư xã
hội (bởi lãi suất tín dụng cao) làm hạn chế động lực tăng trưởng .
Lạm phát các tháng đầu năm 2011 có các nguyên nhân chủ yếu như
sau :
- Thứ nhất doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2
và ngày 29/3), mỗi lít xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38%
đã tác động trực tiếp tăng chỉ số giá nhóm giao thông vận tải và gián
tiếp nhiều vòng đến hoạt động sản xuất của các lĩnh vực khác.
- Thứ hai là giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh
tăng khoảng 15,3% áp dụng từ 1/3.
- Thứ ba là ảnh hưởng của tỷ giá giữa VND và USD, đồng Việt Nam
mất giá mạnh trong 3 tháng đầu năm đã làm tăng giá nguyên, nhiên
vật liệu nhập khẩu (trong điều kiện nước ta còn phụ thuộc quá nhiều
vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài để sản xuất hàng
xuất khẩu và tiêu dùng trong nước). Đây là nguyên nhân chúng ta bị
tăng giá kép từ giá thế giới và thay đổi tỷ giá .
- Thứ tư là ảnh hưởng từ những tháng cuối năm 2010 chi đầu tư từ ngân
sách và của các doanh nghiệp tăng khá nhanh làm cho lượng tiền
trong lưu thông lớn.
- Thứ năm là yếu tố tâm lý (cả người tiêu dùng và người bán lẻ) từ việc
nhà nước điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh
nghiệp nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp từ 1/1 và 1/5/2011.
2.2.2 : Một số nguyên nhân gây lạm phát năm 2011.

của VN đồng giảm sút nhanh càng khiến cho người dân hướng tới vàng và
đô la như một phương tiện cất trữ tài sản. Tâm lý tích trữ vàng và đô la của
một bộ phận lớn dân cư đã góp phần đẩy giá vàng và đô la lên cao, đồng thời
ngày càng làm mất giá trị của VN đồng. Vòng luẩn quẩn ấy đã khiến cho
tình hình lạm phát ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Chỉ trong 3
tháng đầu năm 2011, Việt Nam đồng đã mất giá 8.5%. Đặc biệt, ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quyết định phá giá thêm tiền đồng, một đôla nay đổi
được 20.900 VND, theo tỷ giá hối đoái chính thức trong khi giá chợ đen lên
tới khoảng 21.500 VND. Và giá vàng thì liên tiếp lên cao đột biến .
- Thứ ba : Sự tăng giá một số mặt hàng thiết yếu đã đẩy tình hình lạm
phát ở Việt Nam đi xa hơn . Mở màn cho việc tăng giá đó là ngày
24/02/2011, giá xăng trên thị trường nội địa Việt Nam tăng lên mức 19300
đồng/lít_ mức tăng mạnh nhất từ trước tới nay. Thực sự, việc tăng giá xăng
lần này chịu ảnh hưởng đáng kể của sự bất ổn trên thị trường thế giới. Đầu
tiên, nền kinh tế Mĩ phục hồi chậm chạp sau khủng hoảng, đồng đô la vẫn
chưa tìm lại được vị thế vốn có của nó. Do đó, việc đô la mất giá cũng là
nguyên nhân đẩy giá dầu thế giới lên cao. Và một vấn đề còn nghiêm trọng
hơn đó chính là bất ổn chính trị tại quốc gia Bắc Phi_Libya. Xung đột vũ
trang rồi biến thành một cuộc chiến tranh thực sự tại một trong những quốc
gia xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất thế giới đã dẫn đến tình trạng một lượng
lớn dầu bị tồn đọng. Chính sự kết hợp của hai nguyên nhân trên đã đẩy giá
dầu trên các sàn giao dịch vượt ngưỡng 100$/ thùng. Sau cú huých tăng giá
xăng thì thị trường Việt Nam còn phải chịu thêm gánh nặng của việc ngành
điện quyết định tăng giá trong tháng 3/2011. Theo đánh giá của giới chuyên
11
môn lần tăng giá này là cần thiết và hợp lí vì lâu nay ngành điện luôn phải
bù lỗ để có một mức giá ưu đãi cho nhân dân. Tuy nhiên, trong tình trạng giá
cả leo thang, các công trình thủy điện đang xây dựng dang dở cần huy động
thêm vốn thì việc tiếp tục bù lỗ trở thành điều không thể đối với ngành điện.
Với việc hai nguồn nguyên liệu chủ yếu của xã hội là xăng và điện cùng

Nam cho biết hoạt động bán lẻ đang ở thời kỳ được gọi là “u ám” vì ảnh
hưởng của lạm phát. Với tình trạng leo thang của giá nguyên liệu, chi phí
sản xuất, vận chuyển, giá hoàng hóa… mức tăng trưởng thực chất của của
doanh nghiệp phân phối, bán lẻ thấp chưa từng có (7,6%). Bà Loan dự báo,
12
tình hình kinh doanh những tháng còn lại của năm sẽ còn đối mặt với khó
khăn nhiều hơn hơn. Mức tăng trưởng của hoạt động bán lẻ dự báo có thể
xuống tới 6%.
- Lạm phát ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán :
Tình hình lạm phát ở nước ta được thể hiện rất rõ qua diễn biến ảm
đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2011,
chỉ số Vnindex đã có lúc giảm xuống mức 371 điểm ngày 26/5/2011và
Hnindex cũng đã thiết lập mức đáy mới trong lịch sử của mình với 69 điểm
ngày 25/5/2011.Chỉ số P/E toàn thị trường chỉ còn khoảng 8.5, mức khá thấp so với
các thị trường chứng khoán các nước trên thế giới .
Nhà đầu tư trong nước gần như mất hết niềm tin vào thị trường, một
bộ phận tỏ ra bức xúc trước cách hành xử của những người có trách nhiệm
khi không có một động thái đáng kể nào giúp hỗ trợ nhà đầu tư và nâng cao
tính thanh khoản của thị trường như cho phép thanh toán T+2, miễn thuế thu
nhập chứng khoán Nhà đầu tư nước ngoài vẫn liên tục mua ròng tuy nhiên
giá trị mua ròng đã giảm khoảng một nửa so với cùng kỳ năm 2010 đạt mức
3,620 tỷ đồng, tập trung vào các mã truyền thống như VNM, CTG, DPM,
VCB, PVD, HAG trên sàn Hose và PVS, VCG, PVX… trên sàn Hax.
- Lạm phát ảnh hưởng tới lãi suất :
Khi lạm phát tăng thì mức lãi suất huy động trên thị trường sẽ tăng
theo để khuyến khích người dân tăng gửi tiền vào ngân hàng. Đều này sẽ
đẩy lãi suất cho vay lên mức cao, khiến cho các doanh nghiệp khó tiếp cận
vốn vay hoặc có thể khiến cho vốn ngân hàng không chảy vào lĩnh vực sản
xuất mà thay vào đó chảy vào kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản hay
luẩn quẩn trong chính hệ thống giữa các ngân hàng. Ngày 8/3/2011, Ngân

của xã hội ngày càng giàu lên thì những người có thu nhập thấp trong xã hội
cần được nhà nước bảo vệ qua chính sách lương tối thiểu lại ngày càng
nghèo đi.
2.4 : Tổng Kết
Hiện nay Việt Nam ở vào tình trạng tứ bề thọ địch về phương diện
kinh tế. Những nhà hoạch định kinh tế phải đương đầu với các mục tiêu
khác nhau mà những biện pháp áp dụng sẽ tạo ra những ảnh hưởng trái
ngược nhau: giảm lạm phát, duy trì phát triển, giảm đầu tư công, duy trì khu
vực DNNN, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu, cân bằng ngân sách và cán cân
thương mại. Qua những chỉ thị về ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện
một số dự án đầu tư của nhà nước cho 2011, Nghị quyết 11 cho thấy nhà
nước đã không tiên đoán được tình trạng lạm phát nói riêng và kinh tế vĩ mô
khó khăn nói chung hiện nay.
Chương 3:
Các giải pháp khắc phục tình hình lạm phát ở Việt Nam năm
2011.
3.1: Định hướng
Chúng ta thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011 trong
bối cảnh kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng chậm hơn, giá cả hàng hóa
tăng cao hơn năm 2010, khủng hoảng nợ công trong khu vực đồng Euro có
nguy cơ lan rộng, đồng USD - đồng tiền chủ yếu trong thanh toán quốc tế bị
giảm giá, giá vàng tăng, làm thay đổi các kênh đầu tư, gây biến động lớn thị
trường tài chính quốc tế. Nói như vậy có nghĩa là việc thực hiện các biện
14
pháp ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát sẽ trở thành một trong những
chính sách lớn trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta.
Trên cơ sở tình hình thực tiễn và dự báo xu hướng biến động kinh tế
trong nước và thế giới , định hướng chỉ đạo điều hành một số chỉ tiêu cơ bản
của cả năm 2011 như sau :
- Sáu tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng đạt mức 5,57%, thấp hơn chỉ tiêu

vào lĩnh vực phi sản xuất, bất động sản, chứng khoán giảm so với hiện nay;
tập trung vốn cho vay lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn,
sản xuất những sản phẩm thiết yếu với đời sống nhân dân, doanh nghiệp nhỏ
15
và vừa, công nghiệp hỗ trợ. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về
bảo đảm an toàn tài chính của các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư, công ty tài
chính; xác định tiêu chí và thực hiện phân loại các tổ chức tín dụng để có
biện pháp giám sát và xử lý kịp thời.
Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, hợp lý để bình ổn thị trường và
tăng dự trữ ngoại hối; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định
về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị
đồng tiền là mục tiêu trung và dài hạn của chính sách tiền tệ, tạo tiền đề cho
việc kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
3.2.2 : Về chính sách tài khoá
Thực hiện nhất quán chính sách tài khóa thắt chặt, phối hợp hài hoà
với việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng nhằm giảm tổng
cầu, giảm sức ép lạm phát năm 2011 và năm 2012. Tập trung thực hiện các
giải pháp tăng thu, phấn đấu vượt 7 - 8% dự toán thu năm 2011; tiết kiệm
chi để giảm bội chi ngân sách thấp hơn mức Quốc hội quyết định; tiếp tục rà
soát, cắt giảm vốn đầu tư của Nhà nước vào những công trình, dự án không
hiệu quả, chưa thật sự cần thiết, tiến độ chậm, kéo dài, tập trung vốn cho các
công trình sắp hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2011, công trình an
sinh xã hội, giảm nghèo, phòng tránh thiên tai; kiểm soát chặt chẽ đầu tư của
doanh nghiệp nhà nước.
Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn dự phòng ngân sách, nguồn tăng
thu năm 2011 và nguồn tiết kiệm chi thường xuyên năm 2011; ưu tiên dùng
các nguồn này cho phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,
thực hiện chính sách an sinh xã hội. Các Bộ, ngành và địa phương chủ động
sắp xếp, bố trí trong phạm vi dự toán được giao để xử lý các nhiệm vụ đột
xuất phát sinh trong năm. Tăng cường quản lý, giám sát nợ nước ngoài của

chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng
Thực hiện các biện pháp tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong
sản xuất kinh doanh, trong tiếp cận vốn đối với dự án hiệu quả, có đầu ra của
sản phẩm; khuyến khích tiết giảm chi phí, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cung
ứng dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Tập trung nguồn lực đẩy mạnh
phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn để bảo đảm an ninh lương thực và
tăng xuất khẩu nông sản, bảo đảm đời sống nông dân; có giải pháp cụ thể
giúp nông dân qua hỗ trợ về kỹ thuật, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp
như phân bón, thuốc trừ sâu và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tiếp tục đầu
tư phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn. Phát triển mạnh, ổn định các
ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, logistics và các dịch vụ có giá trị gia
tăng cao; phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng cao. Có
biện pháp phù hợp để khuyến khích, tăng cường vai trò của khu vực kinh tế
ngoài nhà nước trong định hướng phát triển các ngành kinh tế và các lĩnh
vực dịch vụ. Bảo đảm đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân đi đôi
với tiết kiệm điện.
Xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể thúc đẩy xuất
khẩu, sử dụng hàng sản xuất trong nước và kiểm soát nhập khẩu đối với từng
loại mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu có kim ngạch lớn. Kiểm soát chặt chẽ
nhập khẩu hàng tiêu dùng, đặc biệt là hàng ảnh hưởng đến sức khoẻ, môi
17
trường, hàng xa xỉ, hàng không thiết yếu, hàng không khuyến khích nhập
khẩu; hạn chế xuất khẩu tài nguyên, nguyên liệu thô.
Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gắn với yêu cầu bình ổn giá cả, thị
trường trong nước. Điều chỉnh, bổ sung chính sách thuế theo hướng tạo động
lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng trong nước có khả năng thay thế
nhập khẩu và hạn chế nhập khẩu, nhất là đối với các mặt hàng xa xỉ, hàng
không thiết yếu. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại cấp cao,
thúc đẩy hợp tác, đầu tư và buôn bán giữa Việt Nam với các nước. Nghiên

đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khó khăn trong xã hội; tiếp tục
18
đẩy mạnh thực hiện các chương trình: xây dựng nông thôn mới; phát triển
nhanh và bền vững các huyện nghèo; bảo vệ và phát triển rừng nhằm tăng độ
che phủ rừng và giải quyết việc làm cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, đồng
bào dân tộc thiểu số; xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu
công nghiệp thuê; xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp tại khu vực đô
thị; hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà vùng ngập
lũ đồng bằng sông Cửu Long (giai đoạn 2); xây dựng ký túc xá sinh viên
3.3: Đề xuất , kiến nghị .
Ngoài các giải pháp nêu trên chúng ta cần đẩy mạnh công tác thông
tin, tuyên truyền về chủ trương biện pháp bình ổn giá, kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội,
giảm thiểu các yếu tố tâm lý, kỳ vọng tăng giá trên thị trường. Cùng với nó
là kiên định thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm khống chế tổng cầu của
nền kinh tế mà Nghị quyết 11/NQ-CP đã đề ra.
Trong cuộc chiến chống lạm phát Chính phủ đóng vai trò quan trọng,
vì vậy, các giải pháp của Chính phủ cần cụ thể, rõ ràng và bám sát với thực
tiễn của nền kinh tế Việt Nam.
Kết Luận :
Để hội phập kinh tế thế giới Việt Nam đã phải thay đổi rất nhiều: điều
chỉnh và ban hành thêm những điều luật mới, thay đổi chính sách tiền lương,
điều chỉnh lại giá cả Sự thay đổi kinh tế quá nhanh cùng với những biến
động của thị trường thế giới đã đưa đến tình trạng bong bóng đầu tư, giá cả
hàng hoá tăng nhanh, lạm phát trong khi đó thì năng lực quản lý cũng như
các công cụ điều tiết nền kinh tế của Chính Phủ còn chưa theo kịp và chưa
thực sự phát huy hiệu quả, dẫn đến hậu quả là lạm phát ngày càng cao, gây
khó khăn cho đời sống của nhiều tầng lớp dân cư đặc biệt là người nghèo.
Lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế vì nó làm giảm năng suất
lao động, lạm phát bóp méo mức độ khan hiếm tương đối (phản ánh qua giá

Chương 3 : Các giải pháp khắc phục tình hình lạm phát ở Việt Nam năm
2011
3.1: Định hướng
3.2: Các giải pháp cụ thể
3.3: Đề xuất, kiến nghị
Kết luận:
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status