Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
1
TIỂU LUẬN Thị trường tín dụng nông thôn
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
Lãi suất thực âm sẽ khuyến khích sự dịch chuyển chi phí giao dịch từ các ĐcTDNT
đến người mượn và ảnh hưởng đến phong cách phục vụ của các định chế.
1.2.2 Huy động tiết kiệm
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
3
Von Pischke giải thích nguyên nhân chủ yếu của sự thất bại của ĐCTDNT trong việc
huy động tiết kiệm là do thiếu dịch vụ huy động tiết kiệm tiện lợi ở nông thôn và
nhiều ĐCTDNT tiến hành nâng cao lãi suất nhưng cũng thất bại vì lãi suất danh nghĩa
tăng nhưng lãi suất thực âm
Theo Seibel, nguyên lý của huy động tiết kiệm chứa đựng hai tiên đề: sự hiện hữu của
tiế
t kiệm, cơ chế kích thích đối với huy động tiết kiệm (lãi suất thực dương, khả năng
sinh lãi). Khả năng tiết kiệm ở vùng NT là có tiềm năng nhưng lại thiếu cơ chế kích
thích đối với huy động tiết kiệm
1.2.3 Cấu trúc tổ chức của ĐCTDNT
Cấu trúc tổ chức thích hợp sẽ đóng góp vào sự thành công của các định chế hơn là
lãi suất. Mộ
t tổ chức thích hợp nên tiến hành như sau:
- Đa dạng hóa loại hình sở hữu đối với hệ thống ĐCTDNT
- Mỗi loại định chế cần thiết lập theo hệ thống hội nhập dọc
- Mật độ của các chi nhánh cơ sở của một ĐCTDNT là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động
- Đ
a dạng hóa chức năng dịch vụ của ĐCTDNT
1.2.4 Cơ chế khắc phục vấn đề thông tin không hoàn hảo
- Phương pháp trực tiếp: mở rộng nguồn lực đối với việc sàng lọc, kích thích và cưỡng
chế người mượn nhằm giảm tỉ lệ nợ quá hạn bằng cách: thu hồi nợ thường xuyên, kích
thích trả lại nợ, khuyến khích tiết kiệm
có sự khác biệt so với chủ thể cung- cầu ở các thị trường tài chính khác.
Chủ thể cung vốn tín dụng là trung gian tài chính, bao gồm phần lớn các tổ chức
tín dụng có mặt hầu hết khu vực nông thôn, song chủ lực cung vốn tín dụng ở địa bàn
nông thôn vẫn là ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng chính sách xã
hội, quỹ tín dụng nông dân. Đó chính là những chủ thể gắn bó chặt chẽ với nông dân,
nông nghiệp, nông thôn; có bề dày kinh nghiệm trong huy động và cho vay tín dụng phát
triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn.
Chủ thể cầu vốn tín dụng chủ yếu là nông dân, một phần là các nhà sản xuất, kinh
doanh ngành nghề phi nông nghiệp. Ch
ủ thể cầu vốn tín dụng ở nông thôn đa số là những
người nghèo, không có tài sản thế chấp để vay vốn tín dụng. Trình độ lập dự án kinh
doanh cũng như hạch toán kinh doanh còn hạn chế, thiếu sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống
tổ chức, nguyên tắc hoạt động của tổ chức tín dụng, tâm lý bảo thủ, trì trệ của người sản
xuấ
t nhỏ…đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc sự dụng hiệu quả vốn tín dụng của các chủ
thể cầu vốn.
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
5
- Lãi suất trên thị trường tín dụng nông thôn thường đa dạng, phong phú; vừa
tuân thủ lãi suất kinh doanh vừa tuân thủ lãi suất ưu đãi dẫn tới cơ chế điều hành lãi suất
tín dụng trên thị trường nông thôn không đồng nhất.
- Đối tượng vay vốn trên thị trường tín dụng nông thôn đa số là hộ gia đình sản
suất nông nghiệp, được phân theo nhiều vùng miền khác nhau…dẫn đến số l
ượng vốn
cho vay không lớn, thủ tục cho vay phức tạp, khoản vốn cho vay phức tạp, rườm rà và
nhiều tầng nấc trung gian, lãi suất áp dụng cho từng đối tượng trên địa bàn rộng lớn…tạo
nên sự trì trệ trong toàn hệ thống thị trường tín dụng nông thôn.
- Hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn không tách rời hoạt động của thị
hộ nông dân và nông thôn có quan hệ tín dụng với Agribank.
- Đa dạng hóa đối tượng cho vay, tạo điều kiện cho hộ nông dân thỏa mãn các nhu
cầu về vốn. Ngoài sản xuất kinh doanh, hộ nông dân còn được Agribank cho vay khi có
nhu cầu vốn để đầu tư vào các lĩnh vực phi nông nghiệp như: Xuất khẩu lao động; Mua xe
ô tô, xe máy để phục vụ sản xuất đời sống, xây dựng, sửa chữa nhà; Khắc phục khó khăn
trong sản xuất, đời sống (như thiên tai, dịch bệnh gia súc, gia cầm…)
- Đa dạng hóa phương thức cho vay giúp hộ nông dân thuận lợi, dễ dàng khi vay
vốn.
- Chất lượng tín dụng được bảo đả
m, tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng thấp, đến nay là
dưới 2%. Hộ nông dân trả nợ tốt, ngay cả khi do có khó khăn được Ngân hàng gia hạn,
khoanh nợ, sau đó khi khôi phục và phát triển trở lại, người vay luôn cố gắng trả nợ sòng
phẳng như các trường hợp đối với hộ vay trồng cà phê, cao su, dập dịch cúm gà trong
những năm qua.
Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXHVN)
Thành lập vào ngày 04/10/ 2002, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam hoạt
động không vì mục đích lợi nhuận, là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của chính
phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi
với người nghèo đã hỗ trợ vốn cho 10 triệu hộ nghèo, số khách hàng còn dư nợ với
NHCSXHVN là 8 triệu, dư nợ bình quân cho vay hộ nghèo tăng từ 2,5 triệu đồng/năm
vào 2002 đã lên đến 10 triệu đồng năm 2010. Đặc biệt, th
ực hiện Nghị quyết 30a của
Chính phủ về giảm nghèo nhanh, bền vững tại 62 huyện nghèo trong cả nước, đã có
144.000 hộ nghèo được vay vốn, dư nợ gần 700 tỷ đồng với lãi suất cho vay bằng 0%.
Đến hết năm 2011, tổng dư nợ cho các chương trình tín dụng đạt trên 103 nghìn tỷ
đồng, trong đó: Chương trình hộ nghèo, GQVL, HSSV, hỗ trợ hộ nghèo làm nhà ở theo
Quyết định 167, có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả về số tuyệt đối và tương đối. Do đặc
điểm riêng có của từng chương trình và đối tượng thụ hưởng, đồng vốn tín dụng của
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
hoạt động của mỗi QTDND cơ sở khoảng 30 tỷ đồng, phục vụ trung bình gần 1.700 thành
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
8
viên đại diện hộ gia đình. Thực tế ở nhiều nơi, nhiều vùng nhờ có QTDND nên thành viên,
các hộ gia đình có điều kiện xóa đói, giảm nghèo hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho địa phương
chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng trong nông nghiệp Mặt khác, với tư cách là một
doanh nghiệp, QTDND đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hằng năm cho ngân
sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở xã,
phường hỗ trợ các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra
nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Có thể nói, thời gian qua, hoạt động thị trường tài chính nông thôn Việt Nam đã
phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát
triển của khu vực này, khu vực tài chính nông thôn Việt Nam vẫn chưa phát huy tối đa
tiềm năng của các tổ chức Tài chính nông thôn, hiệu quả hoạt động còn thấp, đặc biệt
chưa có hệ
thống cảnh báo rủi ro sớm đối với khách hàng ở khu vực nông thôn. Sự phối,
kết hợp hoạt động giữa các tổ chức tài chính nông thôn trong nước với hệ thống các tổ
chức tài chính nông thôn quốc tế còn hạn chế. Việc phân bổ nguồn vốn của khu vực này
chưa thực sự trọng tâm, trọng điểm, chưa cân đối với nhu cầu và khả năng tạo ra hàng
hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu của từng vùng, miền. Trong khi sự cạnh tranh giữa
các tổ chức tài chính vi mô nông thôn đang ngày càng mạnh mẽ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1 Đặc điểm nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long
2.1.1 Đặc điểm nền nông nghiệp Việt Nam
Với các đặc điểm của khí hậu tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đã cho phép
chúng ta phát triển một nền nông nghi
trung rất gần bờ và dễ nuôi nên đánh bắt rất thuận tiện.
Đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới
sông ngòi, kênh rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thuỷ vào bậc nhất so với
các vùng ở nước ta. Như nền nông nghiệp chung của cả nước nền nông nghiệp đồng bằng
sông Cửu Long cũ
ng mang những đặc điểm chung ấy. Tuy nhiên, do sự trải dài từ Bắc
đến Nam của đất nước cũng như sự phân bố địa hình , nền nông nghiệp đồng bằng sông
Cửu Long có những đặc điểm riêng được khí hậu, nguồn nước, tài nguyên đất, hệ sinh
thái, hệ động vật mang lại.
2.1.2.1 Khí hậu
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
10
Đồng bằng sông Cửu Long có một nền nhiệt độ cao và ổn định trong toàn vùng.
Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi ít xảy ra thiên tai do khí hậu đặc biệt là bão.
Những đặc điểm khí hậu này đã tạo ra một nguồn lực rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát
của sinh vật đạt được năng suất sinh học cao, tạo ra một thảm thực vật và một quần thể
động vật phong phú đa dạng, nhưng có tính đồng nhất tương đối trong toàn vùng.
2.1.2.2 Nguồn nước
Đồng bằng sông Cửu Long lấy nước ngọt từ sông Mêkông và nước mưa. Cả hai
nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Lượng nước bình quân của sông
Mêkông chảy qua Đồng bằng sông Cửu Long hơn 460 tỷ m
3
và vận chuyển khoảng 150 -
200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu
dài đã tạo nên Đồng bằng Châu thổ phì nhiêu ngày nay.
Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông kênh rạch lớn nhỏ chi chít rất thuận
lợi cung cấp nước ngọt quanh năm.
2.2 Đặc điểm thị trường tín dụng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn cung cấp tín dụng và đặc điểm tín dụng chủ yếu của đồng bằng sông
Cửu Long
Khu vự
c Đồng bằng Sông cửu Long (ĐBSCL) ngoài hai ngân hàng đã có thời gian
hoạt động khá lâu đối trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - đó là Agribank và Ngân
hàng Chính sách Xã hội, thì hai ba năm gần đây, một số ngân hàng thương mại (NHTM)
khác đã mở rộng phạm vi hoạt động vào khu vực này. Cùng với quá trình phát triển các
kênh phân phối, các NHTM đã từng bước chú ý đến việc đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệ
p và dân cư.
Một số các ngân hàng khác như : lienviet bank với đề án “Đầu tư phát triển tín
dụng nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2013, theo
đó ngân hàng sẽ dành ra một khoản tín dụng từ 3.000-5.000 tỷ đồng cho vay. Một trong
những ngân hàng có tổng số dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với tỷ trọng
lớn - LienVietpostbank với 4000 tỉ đồng cho vay khu vực nông nghiệp nông thôn trong
đó trên 20.000 hộ nông dân ở Đồng bằng song Cửu Long
được hưởng lợi gián tiếp từ đề
án này. Ngoài ra còn có các ngân hàng như viettin bank, ngân hàng phát triển nhà
ĐBSCL…
Các chương trình, dự án tài chính vi mô: Từ đầu thập niên 1990, các tổ chức phi
chính phủ (NGO) nước ngoài đã bắt đầu tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho các chương trình tín
dụng cho người nghèo. Trong đó đáng kể là các tổ chức Groupe de Recherche et
d’Echanges Technologiques (GRET), ActionAid, Développement International Des
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
12
Jardins (CARE), Save The Children Fund (Anh), và OXFAM. Các NGO đã tham gia tích
cực vào việc huy động tiết kiệm, cũng như đào tạo năng lực cho các nhóm tiết kiệm tín
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
13
Với sự tham gia của 7 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học,
nhà báo, nhà bảo hiểm và nhà ngân hàng.
Hướng đi:
- Thứ nhất, hạ lãi suất hoặc hỗ trợ lãi suất
Giải quyết vấn đề này, các ngân hàng cần đưa ra những mô hình cho nông dân
vay tín chấp với thủ tục đơn giản, nhanh gọn. Trong đó, cán bộ tín dụng sẽ là người hoàn
thành hồ sơ vay vốn cho nông dân. Điển hình như ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vi
ệt
Nam (BIDV) là ngân hàng dẫn đầu trong việc hạ lãi suất cho vay và mức lãi suất cho vay
đối với khu vực “tam nông” là 15,5%/năm. LienVietPostBank những cá nhân vay vốn
theo Đề án tín dụng NNNT sẽ được hỗ trợ lãi suất 1%/năm vào cuối kỳ quyết toán.
- Thứ hai, ngân hàng đóng vai trò trung gian
Trong mô hình mới này, ngân hàng đóng vai trò trung gian, cho vay thu nợ khép
kín, “cho vay tay phải, thu nợ tay trái”, làm tốt công tác thanh toán công nợ giữa các nhà.
- Thứ ba, có các biện pháp hỗ trợ vốn và giám sát
Song song với vai trò trung gian, ngân hàng sẽ triển khai các chính sách, chương
trình hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc thực hiện đồng bộ 2 giải pháp: Hỗ trợ vốn gián
tiếp và hỗ trợ vốn trực tiếp đối với nhà nông. Các biện pháp hỗ trợ gián tiếp như hỗ trợ
vốn cho doanh nghiệp, kết hợp xây dựng đầu ra cho sản phẩm; hỗ trợ vốn cho nhà khoa
học, kết hợp thẩm định chất lượng sản phẩm; hỗ
trợ vốn trực tiếp cho nông dân thông qua
hỗ trợ vốn vật tư nông nghiệp.
Điển hình như Agribank cũng đang nghiên cứu sản phẩm cho vay nhỏ, chỉ ở mức
5 triệu đồng, với thủ tục cho vay đơn giản. Mô hình trên là phù hợp cho thực trạng phát
triển tín dụng ĐBSCL vì vốn dĩ người đi vay chủ yếu nơi đây là các cá nhân và hộ gia
đình, họ còn thiếu những ki
đãi (theo chính sách của Nhà nước, hoặc theo các chương trình dự án của các tổ chức tài
chính quốc tế như WB, IMF,…).
Thị trường tín dụng nông nghiệp, nông thôn được mở rộng, tăng được tỷ trọng số
hộ vay và mức dư nợ bình quân/hộ. Các hộ nông dân vay vốn được giải quyết nhanh
chóng, những thủ tục phiền hà đã giảm bớt, không còn tình trạng phải chờ đợi như những
năm trước đây.
Hơn nữa, việ
c mở rộng tín dụng nông cùng với vốn tự có và sức lao động đã giúp
họ có điều kiện khai thác tiềm năng kinh tế tự nhiên của mỗi vùng, từng bước hình thành
các vùng chuyên canh lúa, hoa màu và cây công nghiệp có tỷ suất hàng hóa cao.
2.3.2 Hạn chế
Hoạt động tín dụng của ĐBSCL thời gian vừa qua tuy đạt được những kết quả nhất
định, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế
, cũng như so với các
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
15
ngành khác còn thấp. Điều đó cho thấy tín dụng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ
cho nhu cầu và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiệu quả của tín dụng ngân
hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chưa cao, chưa gắn
kết được giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, tiềm năng của
ĐBSCL về kinh tế rừng, ven biển chưa được tận dụng.
Đối với dịch vụ huy động vốn
Một số dữ liệu về vấn đề dư nợ và cơ cấu nợ tín dụng của ĐBSCL so với các
khu vực khác
Bảng 2: Dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn khu vực ĐBSCL
Trong đó
16
thuộc quá lớn vào các yếu tố bên ngoài, họ không chỉ chịu rủi ro do yếu tố thiên nhiên,
mà còn chịu rủi ro do biến động giá. Tình trạng này dẫn đến họ không thể chủ động và
kiểm soát được nguồn thu trong sản xuất. Vì thế, thu nhập của họ rất thấp so với thu nhập
trung bình của cả nước. Vào thời năm 2010, thu nhập bình quân của khu vực này chỉ
tương ứng 98,6% mức trung bình cả nước.
Bảng 1: thu nhập bình quân ĐBSCL và bình quân chung cả nước
Nguồn: Điều tra mức sống HGĐ, 2010
Đối với các ngân hàng thương mại
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tuy đã chú ý đến sự đa dạng, nhưng tính
tiện lợi và chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách
hàng. Hiện nay, nhiều ngân hàng mới chỉ tập trung vào việc cung c
ấp các dịch vụ truyền
thống như tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ tín dụng; thanh toán.
Quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ của người
dân đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai. Thủ tục phiền hà và
quy định rắc rối là một cản trở lớn đối với người dân có trình độ văn hóa thấ
p, và làm nảy
sinh những tệ nạn như cò vay vốn, phát triển hình thức tín dụng nặng lãi,… và không đáp
ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Bên cạnh đó, phần lớn người dân ở ĐBSCL cũng như ở các khu vực khác như khu
vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, dân trí không đồng đều; chưa tiếp cận được tiến bộ khoa
họ
c kỹ thuật nên nếu như không có một sự đảm bảo, tư vấn về việc làm kinh tế, phát triển
sản xuất từ phía người cung cấp vốn thì chắc chắn họ sẽ hạn chế tiếp cận với vốn vay.
Ngoài ra, vì chưa có các sản phẩm bảo hiểm đi kèm nên nếu có sự biến động lớn về giá
cả, thị trường tiêu thụ, thiên tai, dịch bệnh,… thì khả
năng trả nợ ngân hàng của người dân
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
18
cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nên các ngân hàng chỉ cho vay nhỏ giọt và vay cầm
chừng.
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1 Kết luận
Thị trường tín dụng nông thôn là một thị trường nhiều tiềm năng, gắn với nhu cầu
sinh hoạt và kinh doanh ngày càng tăng của phần lớn tổng dân số, nhất là với nhu cầu
hình thành các vùng chuyên canh lúa, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như
đồng bằng Sông Cửu Long; xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn (điện, đường giao
thông), phát triển các trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần to lớn trong sự
phát triển về kinh tế cuả khu vực đồng bằng. Thị trường tín dụng nông thôn là bộ phận
cấu thành đặc biệt quan trọng của thị trường tài chính cũng như của nền kinh tế thị trường
khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, những đóng góp chủ yếu cuả thị trường tín dụng
nông thôn trong quá trình phát triển nông nghiệp của khu vực ĐBSCL:
- Thị trường tín dụng nông thôn tạo lập các kênh huy động và cung ứng vốn, thúc
đẩy kinh tế nông thôn phát triển năng động và hiệu quả. Ngoài ra, thị trường tín dụng
nông thôn còn đóng vai trò quan trọng trong huy động, phân bổ vốn tín dụng đầu tư phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội ở khu
nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn, nâng cao
cuộc sống tinh thần vật chất cho người nông dân. Thị trường tín dụng nông nghiệp, nông
thôn được ngày càng mở rộng. Các hộ nông dân vay vốn được giải quyết nhanh chóng,
những thủ tục phiền hà đã giảm bớt, không còn tình trạng phải chờ đợi như những năm
trước đây,tạo cơ hội giúp hộ nông dân chủ động thực hiện phương án kinh doanh của
mình. Có được bước phát triển trên, có thể nói là do sự hỗ trợ về mặt chính sách, vốn của
Chính phủ, của ngân hàng nông nghiệp. Như chính sách ưu đãi về lãi suất, ưu đãi về điều
kiện vay vốn, nguồn vốn hỗ trợ cho những rủi ro do hạn hán, mất mùa, lũ lụt, thị trường
tiêu thụ gặp khó khăn.
3.2 Hướng phát triển cho thị trường tín dụng nông thôn trong tương lai
3.2.1 Đường lối và chính sách của Chính phủ trong phát triển thị trường
tín dụng nông thôn
Tổng kết 10 năm thực hiện quyết định 67 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nếu như cuối năm 1998 (thời điểm trước khi
ban hành Quyết định 67), dư nợ tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ mới
Đề tài Thị trường tín dụng nông thôn GVHD: Mai Lê Thúy Vân
cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nhóm 2 – K09401
20
đạt 34.000 tỷ đồng, thì sau 10 năm dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của ngành ngân
hàng đã tăng gấp gần 9 lần và đạt hơn 292.919 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 16,7% tổng dư nợ
cho vay nền kinh tế) và đến 31/5/2010 dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã
đạt 315.672 tỷ đồng.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân trong 10 năm là 21,78%. Trong năm 2009,
cho vay trung và dài hạn chiếm 40%, cho vay ngắn hạn chiếm 60%. Chất lượng tín dụng
cho vay nông nghiệp, nông thôn được đảm bảo. Nợ xấu trong cho vay nông nghiệp, nông
thôn được duy trì ở mức thấp, cuối năm 2009 là 2,75%.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần tạo ra bước phát triển vượt bậc của
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra thị trường hàng
cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long
- Tăng cường nguồn vốn vay hỗ trợ do nhu cầu vay vốn hiện nay lớn hơn mức cho
vay quy định
- Có cơ chế xử lý rủi ro triệt để cho người nghèo vay vốn khi gặp rủi ro bất khả
kháng. Điều đó có nghĩa khi các đối tượng vay vốn gặp phải thiên tai nặng nề, ốm
đau kéo dài, tai nạn lao động, thiệt hại về người… thì Chính phủ nên xóa nợ cho
họ, tạo điều kiện cho họ tiếp tục vươn lên.
- Mạng lưới tín dụng cần phải phát triển hơn nữa, đến tận vùng sâu, vùng xa trên
khắp cả nước, để giảm chi phí giao dịch cho người dân. Đội ngũ nhân viên của các
tổ chức tín dụng cần tư vấn, hướng dẫn cho nông dân cả về các thủ tục vay vốn
cũng như phương hướng phát triển kinh tế.
- Nhà nước nên có những chính sách khuyến khích nhiều tổ chức hơn nữa đầu tư
trong vấn đề bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tiếp tục cải tiến phương thức cho vay vốn của ngân hàng theo hướng giảm bớt các
thủ tục phiền hà, đảm bảo hộ dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng dễ dàng, thuận
tiện. Phải gắn kết giữa thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa với vai trò ngân
hàng là cầu nối.
- Phát huy ưu điểm các loại hình hợp tác xã tín dụng trong việc khắc phục hiện
tượng bất cân xứng thông tin. Người vay sẽ được thẩm định bởi các thành viên
trong ban quản lý hợp tác xã. Thông tin địa phương sẽ giúp các hợp tác xã tín dụng
ước lượng được rủi ro của người vay cũng như giảm chi phí giao dịch. Hợp tác xã
tín dụng cung cấp dịch vụ gửi tiền để huy động các khoản tiết kiệm nhỏ.