đề cương môn học xây dựng đảng có đáp án - Pdf 25

1
Câu 1: “Đảng là đội tiên
phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu
trung thành của giai cấp
công nhân, nhân dân lao
động của dân tộc” (điều lệ
ĐCS Việt Nam, NXB CTQG
1996, tr4). Đ/c hãy phân tích
khẳng định trên của đảng về
giai cấp công nhân. Ý nghĩa
của vấn đề đối với phương
hướng gìn giữ và tăng
cường bản chất giai cấp
công nhân của đảng trong
giai đoạn cách mạng hiện
nay.
Tại sao Đảng mang bản
chất giai cấp công nhân
Vận dụng của Đảng cộng
sản Việt Nam : 6 phương
hướng giữ gìn bản chất giai
cấp con người của Đảng
cộng sản Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
Bài làm

Chúng ta biết rằng, ĐCS
là chính đảng của giai cấp
công nhân, ĐCS ra đời gắn
liền với vai trò vị trí và sứ

pháp luật của Nhà nước, có
lao động không bốc lột,
hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao, có đạo đức và lối
sống lành mạnh gắn bó mật
thiết với nhân dân, phục
tùng tổ chức kỷ luật của
đảng, giữ gìn đoàn kết
thống nhất trong đảng …
Từ ngày thành lập ĐCS
đến nay, đảng ta luôn xác
định là đảng của giai cấp
công nhân Việt Nam, là đội
tiên phong, bộ tham mưu
chiến đấu có tổ chức và là
tổ chức cao nhất của công
nhân Việt Nam. Quá trình
xây dựng đảng, đảng ta luôn
phấn đấu không ngừng
nâng cao bản chất giai cấp
công nhân của đảng.
Khẳng định đảng là của
giai cấp công nhân có ý
nghĩa là khẳng định lập
trường của giai cấp công
nhân, giai cấp gắn liền với
sản xuất đại công nghiệp,
tiêu biểu cho xu thế phát
triển của thời đại. Giai cấp
công nhân có hệ tư tưởng là

là người xác định hướng
chính trị và là người giáo
dục động viên, t/chức cho
giai cấp hành động cách
mạng” – lênin chỉ rằng:
“không đảng lẫn lộn đảng
tức là đội tiên phong của
giai cấp công nhân với toàn
bộ giai cấp…”
* Sự khẳng định đấy
của đảng về bản chất của
giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân là
giai cấp của những người
lao động sản xuất ra của cải
vật chất trong lĩnh vực công
nghiệp với trình độ kỹ thuật
đại công nghiệp ngày càng
hiện đại. Sản phẩm thặng
dư do họ làm ra là nguồn
gốc chủ yếu cho sự giàu có
và phát triển của xã hội.
Sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân: ‘ thủ tiêu
chế độ tư bản và tiền TBCN,
xóa bỏ áp bức bóc lột, giải
phóng mình đồng thời giải
phóng nhân loại…, đó là nội
dung cơ bản, bao trùm của
sứ mệnh lịch sử của giai

khuất của nhân dân Việt
Nam. Được như vậy là do
giai cấp công nhân Việt Nam
ra đời từ một nước thuộc địa
½ pk, bị ba tầng bóc lột và
kế thừa truyền thống đấu
tranh kiên cường bất khuất
của dân tộc, giai cấp công
nhân Việt Nam sớm thành
2
lập được chính đảng của
mình để lãnh đạo sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp. Giai
cấp công nhân Việt Nam
gắn bó mật thiết với phát
triển đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao
động trên thế giới.
Để hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình, giai cấp
công nhân tự tổ chức ra
chính đảng của mình.
Ngay từ khi ra đời, giai
cấp công nhân đã tiến hành
các cuộc đấu tranh chống lại
sự áp bức bóc lột của giai
cấp tư sản.
Cuộc đấu tranh đã trải
qua giai đoạn từ thấp đến

nhiệm vụ vận dụng sáng tạo
CN Mác-lênin, phân tích
đúng đắn hoàn cảnh lịch sử
cụ thể trong mỗi giai đoạn
lịch sử cách mạng, đề ra
mục tiêu, phương hướng,
đường lối, chính sách đúng,
phù hợp với yêu cầu phát
triển khách quan của đất
nước. Đồng thời giáo dục, tổ
chức, lãnh đạo giai cấp
công nhân và toàn thể nhân
dân thực hiện công cuộc
xóa bỏ chế độ xã hội cũ, xây
dựng thành công chế độ xã
hội mới – chế độ xã hội chủ
nghĩa, tiến lên cộng sản chủ
nghĩa.
Đảm nhận vai trò đội tiên
phong chính trị của giai cấp
công nhân và của toàn xã hội,
ĐCS Việt Nam đã thể hiện vai
trò lãnh đạo, tinh thần phụ
trách trước giai cấp và dân tộc
khi thắng lợi cũng như lúc khó
khăn, khi thành công cũng như
lúc sai lầm, khuyết điểm.
Đảng luôn giữ được bản
chất giai cấp, dù trong tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”

luôn
2
đứng vững trên lập
trường quan điểm của giai cấp
công nhân đề ra cương lĩnh,
đường lối chính trị đúng đắn.
Trong tổ chức và hoạt động,
đảng luôn giữ vững vị trí hạt
nhân lãnh đạo đối với phong
trào cách mạng, luôn gắn bó
với quần chúng nhân dân và
có thái độ đúng đắn trước
những sai lầm khuyết điểm.
* Tính tiên phong của
đảng :
CN Mác-lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh chỉ rõ đảng phải
tiên phong về lý luận và “chỉ
có đảng nào có lý luận tiên
phong hướng dẫn mới có thể
làm tròn vai trò người chiến sĩ
tiên phong” – (Lênin). “đảng
muốn vững phải có CN Mác-
lênin làm cốt” – (Hồ Chí Minh).
Cơ sở lý luận của đảng là
CNCSKH. Tiên phong về lý
luận đòi hỏi đảng phải nắm
vững bản chất cách mạng và
khoa học của lý luận để “phân
tích cụ thể một tình hình cụ

Đồng thời phê phán mọi biểu
hiện đòi “tính độc lập” , “tính
tập trung”, “tính bình đẳng” để
tách ra khỏi sự lãnh đạo của
đảng. CN Mác-lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng đảng
phải tiên phong về hành động
vì “tính đảng không chỉ thể
hiện ở lời nói mà còn ở việc
làm” – (Lênin) cho nên “đảng
phải đi trước để làng nước
theo sau” – (Hồ Chí Minh).
Tiên phong về hành động,
không chấp nhận cán bộ, đảng
viên “hữu danh vô thực”,
nhưng “đảng viên trung bình”
vì thực chất họ không phải là
đảng viên.
* Mối quan hệ bản chất
giai cấp và tính tiên phong:
3
Trước hết xét mối quan hệ
giữa đảng và giai cấp, đảng
viên giai cấp có chung lợi ích,
lập tường, quan điểm. Nhưng
đảng không phải là toàn bộ
giai cấp, đảng là bộ phận ưu
tú, là đội tiên phong của giai
cấp. Do đó:
- Bản chất giai cấp quyết

điểm, ý thức tổ chức của giai
cấp công nhân, xây dựng đội
ngũ cán bộ và đảng viên theo
quan điểm của giai cấp công
nhân.
- Củng cố mqh mật thiết với
nhân dân, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân.
- Kết hợp chủ nghĩa yêu
nước chân chính với chủ
nghĩa quốc tế trong sáng của
giai cấp công nhân.
- Trung thành với chủ nghĩa
quốc tế của giai cấp công
nhân, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại.
* Về ý nghĩa :
Học thuyết Mác – Lênin và
chính đảng cách mạng của
giai cấp công nhân cũng như
toàn bộ CN Mác-lênin với
thuộc tính cách mạng và khoa
học của nó đòi hỏi các đảng
cách mạng của giai cấp công
nhân phải xuất phát từ điều
kiện cụ thể của dân tộc, giai
cấp, từ thực tiễn chính trị và xã
hội của đất nước mình và vận
dụng một cách sáng tạo, đúng
đắn. Kinh nghiệm của nhiều

nền kinh tế chậm phát triển
vốn là xã hội thuộc địa ½ pk.
Hiện nay trên thế giới, bọn
cơ hội xét lại và giai cấp tư bản
đang tìm mọi cách xuyên tạc
nhằm phủ nhận học thuyết
Máclênin và đảng, vì vậy việc
nghiên cứu thực chất nguyên
lý của học thuyết Mlênin về
đảng có ý nghĩa to lớn giúp
chúng ta những cơ sở lý luận
quán triệt và vận dụng sáng
tạo đường lối chính sách xây
dựng đảng ngày càng vững
mạnh, xứng đáng là đội tiên
phong của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, người
lãnh đạo duy nhất của giai cấp
công nhân và nhân dân lao
động Việt Nam vượt qua khó
khăn, xây dựng thành công
CNXH.
Trong phong trào cộng
sản quốc tế từ trước đến
nay, cuộc đấu tranh giữa
những người cộng sản chân
chính với các trào lưu cơ hội
trên lĩnh vực xây dựng đảng
đều xoay quanh vấn đề bản
chất giai cấp của đảng. Về

Việt Nam, Nxb
CTQGHN,1996, Tr3). Đồng
chí hãy phân tích sự khẳng
định đó của Đảng. Ý nghĩa
thực tiễn của vấn đề (bản
chất giai cấp công nhân) đối
với phương hướng giữ gìn,
tăng cường bản chất giai
cấp công nhân của Đảng
trong giai đoạn hiện nay.
Liên hệ thực tế địa phương,
đơn vị.
BÀI LÀM

1.Từ ngày thành lập
đến nay, Đảng ta luôn khẳng
định bản chất giai cấp công
nhân của mình. Đây là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng
hàng đầu trong công tác xây
dựng Đảng, được quán triệt
trong toàn bộ Điều lệ Đảng,
chi phối toàn bộ nội dung
xây dựng Đảng về chính trị,
tư tưởng và tổ chức. Điều lệ
Đảng hiện nay chỉ rõ: “Đảng
là đội tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam,
đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân,

cùng với đại công nghiệp,
đại biểu cho phương thức
sản xuất mới tiến bộ, có tinh
thần cách mạng triệt để và
tính tổ chức cao. Giai cấp
công nhân có hệ tư tưởng
khoa học và cách mạng, cơ
sở lý luận tiên tiến hướng
dẫn, đó là Chủ nghĩa Mác-
Lênin. Là giai cấp bị giai cấp
tư sản bóc lột nặng nề nên
có điều kiện liên minh với
giai cấp nông dân và quần
chúng lao động để xóa bỏ
chủ nghĩa tư bản, xây dựng
xã hội mới không có áp bức,
bóc lột. Đó là chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản.
Giữ vững và tăng
cường bản chất giai cấp
công nhân là vấn đề cơ bản,
bao trùm, có tính nguyên tắc
đối với tất cả các Đảng Mác
xít- Lênin nít chân chính.
Điều đó càng đặc biệt quan
trọng đối với nước ta - một
Đảng ra đời và trưởng thành
ở 1 nước nông nghiệp lạc
hậu, công nghiệp chưa phát
triển, giai cấp công nhân

trọng hàng đầu đối với Đảng
ta lúc này”. Vả chăng, đây
không phải là ý muốn chủ
quan hoặc là điều chúng ta
cường điệu. Bởi vì ai cũng
biết bất kỳ 1 Đảng chính trị
nào cũng là sản phẩm của
đấu tranh giai cấp và mang
bản chất của 1 giai cấp nhất
định. Dù tổ chức chặt chẽ
hay lỏng lẻo, hoạt động
cách mạng hay nghị trường
(ở 1 số nước tư bản)…,
Đảng nào cũng đứng trên
lập trường của 1 giai cấp
nhất định, không như thế
không phải là 1 chính đảng.
Nói bản chất giai cấp
công nhân là nói bản chất
cách mạng và khoa học, ý
chí kiên định và trì tuệ tiên
phong, đạo đức vị tha và ý
thức tổ chức kỷ luật chặt
chẽ,…của giai cấp công
nhân- hơn nữa, của giai cấp
công nhân hiện đại, giai cấp
công nhân đang được trí
thức hóa. Bản chất giai cấp
công nhân của được thấm
sâu vào tất cả các mặt chính

CTQG, HN, 1995, Tr3-5).
Người cho rằng lực lượng
mà Đảng cần phải tập hợp
để tiến hành cách mạng
5
trước hết là giai cấp công
nhân, kế đến là “đa số quần
chúng nông dân”, “dựa vững
chắc vào hạng dân cày
nghèo”, đồng thời lôi kéo
tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, lợi dụng và lôi kéo
phú nông, tư sản bậc trung,
trung và tiểu địa chủ. Hồ Chí
Minh cho rằng: “Đảng Cộng
Sản Việt Nam tổ chức ra để
lãnh đạo quần chúng lao
khổ làm giai cấp đấu tranh
để tiêu trừ tư bản đế quốc
chủ nghĩa, làm cho thực
hiện xã hội cộng sản”(Hồ
Chí Minh toàn tập, T3, Nxb
CTQG, HN, 1995, Tr1-5).
Những luận điểm đó của Hồ
Chí Minh cho thấy, ngay từ
khi tuyên bố thành lập Đảng
Cộng Sản Việt Nam, Người
đã xác định rõ bản chất giai
cấp của Đảng là bản chất
giai cấp công nhân, Đảng

Tr493-494), luôn “phấn đấu
hy sinh vì lợi ích của Tổ
quốc, của nhân dân, của
giai cấp vô sản, chứ không
vì lợi ích nào khác” (Hồ Chí
Minh toàn tập, T11, Nxb
CTQG, HN, 1995, Tr374).
Giữ vững và tăng
cường bản chất giai cấp
công nhân của Đảng trước
hết có nghĩa là Đảng phải
kiên định quan điểm, lập
trường của giai cấp công
nhân, tuyệt đối trung thành
với lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và
của cả dân tộc; phấn đấu
cho mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội. Dù tình
hình trong nước và thế giới
khó khăn, phức tạp đến đâu,
Đảng cũng không chao đảo,
dao động, xa rời mục tiêu, lý
tưởng đó.
Đảng lấy Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho
hành động. Trong tình hình
hiện nay, phải kiên định Chủ

đoàn kết toàn dân. Bản chất
giai cấp công nhân không
tương dung với chủ nghĩa
phường hội, cục bộ, bản vị,
phân tán. Trái lại nó đòi hỏi
phải có tư tưởng thống nhất,
hành động thống nhất, kết
hợp hài hòa các lợi ich cá
nhân và tập thể, bộ phận và
toàn cục.
Đảng kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính
với chủ nghĩa quốc tế trong
sáng của giai cấp công
nhân; kế thừa và phát huy
truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, đồng thời tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại.
Như vậy, bản chất
giai cấp công nhân không
đối lập với tinh thần dân tộc;
trái lại, nó quyện chắt,
nhuần nhuyễn với tính dân
tộc. Nói theo nghĩa nào đó,
trong bản chất giai cấp công
nhân đã bao hàm tính dân
tộc; và ngược lại, khi nói
đến tính dân tộc trong thời
đại hiện nay khi có Đảng
cộng sản lãnh đạo đã bao

đã nhân lên sức mạnh của
Đảng. Đảng thực tế đã trở
thành lãnh tụ của cả dân
tộc. Sức mạnh của Đảng là
ở sự kết hợp nhuần nhuyễn
hệ tư tưởng tiên tiến của
giai cấp công nhân với khí
phách, bản lĩnh, tinh hoa
truyền thống dân tộc. Chủ
tịch Hồ Chí Minh- người
sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện Đảng ta- là sự thể
hiện đến mức tuyệt vời sự
thống nhất giữa lợi ích giai
cấp với lợi ích dân tộc, giữa
chủ nghĩa yêu nước và chủ
6
nghĩa xã hội. người chẳng
những là lãnh tụ tối cao của
Đảng mà còn là lãnh tụ tối
cao của dân tộc. Và như vậy
cũng có thể nói rằng, Đảng
ta chẳng những là đội tiên
phong chính trị của giai cấp
công nhân, mang bản chất
cách mạng và khoa học của
giai cấp công nhân, mà còn
là đội tiên phong lãnh đạo
của cả dân tộc, mang trong
mình dòng máu và những

công nhân và truyền thống
tốt đẹp của dân tộc.
Ở nước ta, giai cấp
công nhân tuy số lượng còn
nhỏ bé nhưng giai cấp công
nhân Việt Nam và chính
đảng của nó vẫn luôn đứng
vững trên lập trường cách
mạng, giữ vững bản chất
giai cấp, lấy Chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động,
phát huy truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa trí tuệ của nhân
loại, nắm vững quy luật
khách quan, xu thế của thời
đại và thực tiễn nước ta để
đề ra đường lối cách mạng
đúng đắn. Ví vậy, đảng ta đã
giữ vững vai trò lãnh đạo
cách mạng Việt Nam. thực
tiễn lịch sử hơn 70 năm qua
đã chứng minh điều đó. Tuy
vậy, giai cấp công nhân Việt
Nam và Đảng của mình
cũng thấy rõ những điểm
yếu và hạn chế về nhiều
mặt. Việc khắc phục những

- Giữ vững nguyên
tắc tập trung dân chủ, thực
hiện tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách, thường
xuyên tự phê bình và phê
bình, giữ gìn sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng.
- Thường xuyên
giáo dục, bồi dưỡng lập
trường, quan điểm, ý thức tổ
chức của giai cấp công
nhân; xây dựng đội ngũ cán
bộ và Đảng viên theo quan
điểm của giai cấp công
nhân.
- Củng cố mối
quan hệ gắn bó mật thiết với
nhân dân, tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân.
Chăm lo đời sống, thực sự
phát huy quyền làm chủ của
nhân dân.
- Kết hợp chặt chẽ
chủ nghĩa yêu nước chân
chính với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng của giai cấp
công nhân. Kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh
của thời đại, tạo nên sức
mạnh tổng hợp của cách

tắc cơ bản về xây dựng tổ chức
và hoạt động của Đảng. Nguyên
tắc tập trung dân chủ nhằm bảo
đảm sự thống nhất ý chí và hành
động, tạo nên sức mạnh vô địch
của Đảng cách mạng. Đây là
nguyên tắc để phân biệt chính
Đảng của giai cấp công nhân,
Đảng cách mạng chân chính với
các Đảng phái khác, là điểm mà
mọi thế lực chống đối thường
công kích và phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng. Một trong những
nguyên nhân sụp đổ của chế độ
XHCN ở Liên Xô và Đông Aâu là
do xa rời nguyên tắc tập trung dân
chủ.
Tập trung dân chủ vốn có
trong bản chất của giai cấp
công nhân đại công nghiệp. Vì
giai cấp công nhân là giai cấp
tiên tiến và tiêu biểu cho lực
lượng sản xuất XH hóa nhất trí
về quyền lợi lại được rèn luyện
trong nền sản xuất công
nghiệp, có tính tập thể và kỷ
luật cao. Đó là đặc tính vốn có
của giai cấp vô sản.
Nguyên tắc tập trung dân
chủ xuất phát từ bản chất của

cho việc xây dựng ĐCS Nga, sau
đó đã được các ĐCS quốc tế
thừa nhận. Lênin cho rằng điều
kiện gia nhập quốc tế cộng sản là
các Đảng phải tổ chức theo
nguyên tắc nguyên tắc tập trung
dân chủ. Lê nin nhấn mạnh: “sức
mạnh về chính trị tập trung của
Đảng, được tổ chức và thông qua
tổ chức”, “sức mạnh của giai cấp
công nhân là ở tổ chức, không có
tổ chức quần chúng, giai cấp vô
sản sẽ không là cái gì hết. Được
tổ chức, giai cấp vô sản sẽ là tất
cả” (Lênin TT, NXB Maccova tập
14, tr163). Người nói, không có sự
phục tùng của tiểu số đối với đa
số thì không thể có tổ chức mà
không có dân chủ thì không có sự
thống nhất. Giai cấp vô sản chỉ có
một chế độ tập trung tuyệt đối và
kỷ luật hết sức nghiêm minh, đó là
một trong những điều kiện để
chiến thắng, thống nhất hành
động, tự do thảo luận, phê bình đó
là quy định của ĐCS. Tự do đó
phải được đặt trong khuôn khổ
của giai cấp vô sản, nghĩa là phải
đúng lúc đúng nơi.
ĐCS Việt Nam dưới sự lãnh

đây. Tập trung dân chủ có thể dẫn
đến độc đoàn chuyên quyền, gia
trưởng. Do vậy phải tìm ra nguyên
nhân khách quan hay chủ quan
mà khắc phục sử chửa những sai
lầm đó.
Song đương nhiên để thực
hiện tốt nguyên tắc tập trung dân
chủ, phải nhận thức đúng và
8
thống nhất nội dung, bàn chất của
tập trung dân chủ và mqh biện
chứng giữa hai mặt tập trung và
dân chủ; đồng thời phải cụ thể
hóa thành quy chế, quy trình cụ
thể không chỉ là trong việc dân
chủ thảo luận và quyết định trong
công tác cán bộ.
Nộu dung cơ bản nguyên tắc
tập trung dân chủ của ĐCS Việt
Nam được ghi rõ tại điều chính
chương II Điều lệ ĐCS Việt Nam.
“ĐH ĐB toàn quốc lần IX của
Đảng” ĐCS Việt Nam tổ chức
theo nước ta tập trung dân chủ
theo những nguyên tắc cơ bản đó
là:
Cơ quan lãnh đạo các cấp của
Đảng do bầu cử lập ra.
Cơ quan lãnh đạo các cấp của

chỉnh nghị quyết, không được
truyền bá ý kiến trái với nghị quyết
của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền
nghiên cứu xem xét ý kiến đó, nếu
thấy thực tiễn chứng minh là đúng
thì tiếp thu. Tổ chức Đảng không
được phân biệt đối xử với đảng
viên có ý kiến thuộc về tiểu số.
Tổ chức cấp dưới được quyền
quyết định các vấn đề thuộc về
phạm vi, quyền hạn của mình,
song không được trái với đường
lối chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và nghị quyết của
cấp trên.
Tập trung dân chủ thể hiện sự
thống nhất hài hòa và biện chứng
giữa hai mặt tập trung và dân chủ
trong một sự việc, một hiện
tượng. Sự thống hất này không
phải do chủ quan áp đặt mà là do
yêu cầu nhiệm vụ lịch sử đặt ra
cho Đảng.
Tập trung trên cơ sở dân chủ
trong Đảng được thể hiện ở tính
tự giác của toàn thể đảng viên.
Tính tập trung trong Đảng đòi hỏi
Đảng phải có cương lĩnh, đường
lối, mục tiêu cách mạng thống
nhất, được mọi tổ chức Đảng và

nhiệm trong Đảng và t/cả các cơ
quan lãnh đạo của Đảng đề do
dân chủ bầu cử mà lập nên, đều
có trách nhiệm thực hiện và báo
cáo trước tổ chức đã bầu ra mình
và họ có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc
nào nếu không xứng đáng và
không hoàn thành nhiệm vụ tổ
chức giao.
Quá trình phát triển của Đảng
gắn liền với việc Đảng kiên trì và
từng bước cụ thể hóa, thể chế
hóa nguyên tắc tập trung dân chủ.
Khi chưa cầm quyền, do điều
kiện hoàn cảnh khó khăn phức
tạp song Đảng ta luôn nhắc nhở,
nếu có điều kiện thì phải thực hiện
tập trung dân chủ.
Khi đã cầm quyền thì nguyên
tắc tập trung dân chủ được thể
hiện trong tiêu chuẩn sinh hoạt
Đảng, chế độ bầu cử, báo cáo
thảo luận, quyết định các vấn đề,
nguyên tắc tập trung dân chủ trở
thành phương tiện quan trong
nhất để nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng,
Đảng ta không đối lập dân chủ với
tập trung mà phát huy dân chủ nội
bộ để trở thành phương tiện củng

huy quyền làm chủ của nhân dân,
của đảng viên, ít chịu lắng nghe ý
kiến cấp dưới. Việc giáo dục, kiểm
tra của cấp ủy còn qua loa chiếu
lệ.
Do vậy trước tình hình trên
cần phải có nhận thức đúng đắn,
thống nhất về yêu cầu nội dung
dân chủ và nguyên tắc tập trung
dân chủ đồng thời có cơ chế bảo
đảm thực hiện nội dung đó, song
phải có tinh thần đấu tranh khách
quan (vừa qua Đảng ta có chỉ thị
29, 30 đề cập vấn đề này)
Đặc biệt hiện nay trước yêu
cầu nhiệm vụ đổi mới đòi hỏi
Đảng ta phải thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc dân chủ và sinh hoạt
Đảng. Hội nghị Trung ương 6 lần
2 khóa 8 đã nhấn mạnh đến chấn
chỉnh việc thực hiện nguyên tắc t
dân chủ chế độ tự phê bình và
phê bình trong Đảng.
Trước hết cần nâng cao nhận
thức trong Đảng về nguyên tắc
tập trung dân chủ. Coi đó là
nguyên tắc cơ bản trong dân chủ
và sinh hoạt Đảng, đảm bảo sự
thống nhất ý chí và hành động của
9

Xây dựng và thực hiện nề nếp
chế độ tự phê bình và phê bình
trong nội bộ Đảng. Xây dựng quy
chế nội dung đóng góp xây dựng
Đảng.
Củng cố sự đoàn kết thống
nhất trong nội bộ Đảng, gắng tự
phê bình và phê bình với xử lý
cán bộ, cấp ủy đã xảy ra mất
đoàn kết.
Tăng cường công tác kiểm tra
giám sát của cấp ủy, tổ chức
Đảng, nâng cao vai trò trách
nhiệm quyền hạn của ủy ban kiểm
tra các cấp, kết hợp chặt chẽ với
cơ quan thanh tra Nhà nước và
của giai cấp công nhân.
Rõ ràng ý nghĩa to lớn và bài
học quan trọng trong điều kiện
Đảng nắm chính quyền là chẳng
những phải phát huy mạnh mẽ
dân chủ, mở rộng dân chủ mà
đồng thời còn phải kết hợp chặt
chẽ hai mặt tập trung và được để
thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ.
Liên hệ địa phương, chi bộ cơ
quan ra quy chế làm việc cụ thể,
trên cơ sở đó mà lãnh đạo tốt việc
thực hiện, theo đó mà tạo điều

Đảng. Nguyên tắc tập trung
dân chủ nhằm đảm bảo sự
thống nhất ý chí và hành động,
tạo nên sứch mạnh vô địch của
Đảng cách mạng. Đây là
nguyên tắc để phân biệt chính
Đảng của giai cấp công nhân,
Đảng cách mạng chân chính
với các Đảng phái khác, là
điểm mà mọi thế lực chống đối
thường công kích và phủ nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng.
2.Tập trung dân chủ là
tất yếu khách quan:
Tập trung dân chủ vốn có
từ trong bản chất giai cấp công
nhân đại công nghiệp. Vì giai
cấp công nhân là giai cấp tiên
tiến nhất, tiêu biểu cho lực
lượng sản xuất xã hội hóa nhất
trí về quyền lợi, lại được rèn
luyện trong nền sản xuất công
nghiệp, có tính tập thể và kỷ
luật cao. Đó là đặc tính vốn có
của giai cấp vô sản. Tập trung
dân chủ phản ánh tính bản
chất của giai cấp vô sản.
Nguyên tắc tập trung dân
chủ xuất phát từ bản chất của
Đảng cộng sản. Đảng Cộng

nhiệm vụ được giao. Đảng phải
là 1 khối thống nhất về chính
trị, tư tưởng và hành động.
Sau khi Mác và Ănghen
qua đời, Lênin kế thừa tư
tưởng của Mác và Aênghen,
xây dựng nên học thuyết về
Đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân. Lênin cho rằng tổ
chức chỉ trở thành hiện thực và
có ích cho cuộc sống khi nó có
các nguyên tắc để liên kết
thống nhất và điều khiển hành
vi của các thành viên. Ông
cũng cho rằng: Đảng phải là 1
đội ngũ có tổ chức, và là tổ
chức chặt chẽ của giai cấp
công nhân, Đảng phải là 1 khối
thống nhất về chính trị, tư
tưởng và tổ chức.
Từ những tư tưởng nêu
trên đòi hỏi Đảng phải thực
hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ trong xây dựng và hoạt
động của Đảng. Đồng thời phải
bảo đảm phát huy sáng kiến và
tính tích cực của mọi tổ chức
Đảng và Đảng viên.
Hồ Chí Minh- người sáng
lập, giáo dục, rèn luyện Đảng

- Bản chất:
+Tập trung ở trong Đảng:
Đảng phải có cương lĩnh,
đường lối, điều lệ thống nhất.
Đảng phải có cơ quan
lãnh đạo thống nhất đó là đại
hội đại biểu toàn quốc, giữa 2
kỳ đại hội là BCH TW do đại
hội bầu ra.
Về mặt tổ chức, Đảng
phải thống nhất về quy mô và
hình thức tổ chức của Đảng.
Đảng phải có kỷ luật
thống nhất, bắt buộc mọi tổ
chức Đảng, Đảng viên phải
chấp hành không có ngoại lệ
đối với Đảng viên và mọi tổ
chức Đảng.
+ Dân chủ ở trong Đảng:
Toàn thể Đảng viên đều
bình quyền, đều được trực tiếp
hoặc thông qua đại biểu để
thực hiện quyền của mình
trong tham gia vào mọi công
việc của Đảng.
Tất cả các cơ quan lãnh
đạo và những người có trách
nhiệm trong Đảng đều do dân
chủ bầu cử mà lập nên và họ
có thể bị bãi miễn nếu không

trực thuộc, thực hiện nghiêm
túc chế độ tự phê bình và phê
bình.
11
Nghị quyết của Đảng
phải được chấp hành nghiêm
chỉnh. Thiểu số phục tùng đa
số, cấp dưới phục tùng cấp
trên, cá nhân phục tùng tổ
chức, các tổ chức toàn Đảng
phục tùng đại hội đại biểu toàn
quốc và BCH TW.
Nghị quyết của cơ quan
lãnh đạo của Đảng phải được
biểu quyết với sự tán thành của
trên 1 nửa số thành viên trong
cơ quan đó. Trước khi biểu
quyết các Đảng viên được phát
biểu ý kiến của mình. Đảng
viên có ý kiến thuộc về thiểu số
được quyền bảo lưu và báo
cáo lên cấp ủy cấp trên cho
đến đại hội đại biểu toàn quốc,
song phải chấp hành nghiêm
chỉnh Nghị quyết, không được
truyền bá ý kiến trái với Nghị
quyết của Đảng. Cấp ủy có
thẩm quyền nghiên cứu, xem
xét ý kiến đó, nếu thấy thực
tiễn chứng minh là đúng thì tiếp

hóa 1 mặt nào đều dẫn đến sai
lầm nguy hiểm, có hại cho sự
lãnh đạo của Đảng, càng
không thể đối lập giữa tập
trung và dân chủ vì trong tập
trung chân chính nó đã chứa
đựng yếu tố dân chủ và trong
dân chủ chân chính nó đã
chứa đựng yếu tố tập trung.
6.Thực tế vận dụng
nguyên tắc tập trung dân
chủ trong xây dựng Đảng
qua các thời kỳ cách mạng
của Đảng ta, có lúc, có nơi có
những biểu hiện thiên lệch về
phía tập trung quan liêu, thống
nhất cứng nhắc, dẫn đến vi
phạm dân chủ trong Đảng.
Biểu hiện sai lầm: gia trưởng,
độc đoán, sùng bái cá nhân, cá
nhân trùm lên tập thể. Trong
kinh tế thì nhấn mạnh 1 chiều,
tập trung thống nhất, coi nhẹ
dân chủ, nhân mạnh tính kế
hoạch, coi nhẹ thị trường, nhân
mạnh quan hệ dọc, coi nhẹ
quan hệ ngang, do đó không
phát huy được tính đa dạng,
phong phú, tính sáng tạo của
các hành phần kinh tế, ở 1 số

tập thể và sức mạnh tổng hợp
của khối đại đoàn kết toàn dân.
Nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng
ở các cấp đã có không khí thảo
luận cởi mở, thẳng thắn hơn….
Các cấp ủy Đảng thực hiện
đúng chế độ hàng năm kiểm
điểm công tác tự phê bình và
phê bình. Đã kiểm tra, phát
hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm
kỷ luật Đảng và pháp luật của
Nhà nước. bảo đảm sự đoàn
kết thống nhất trong Đảng….
Song, bên cạnh đó vẫn
bộc lộ những mặt tiêu cực:
Trong nhận thức và thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ
chưa tốt, có những chỗ sai
phạm, 1 số cán bộ và cấp ủy
chưa tôn trọng và thực hiện
đúng nguyên tắc tập trung dân
chủ (tách rời 2 mặt hoặc nhấn
mạnh 1 mặt tập trung hoặc dân
chủ…). Tình trạng phổ biến
hiện nay là dân chủ vẫn còn
mang tính hình thức, không ít
nới tập thể chỉ là “bình phong”
hợp thức hóa ý kiến người
đứng đầu. Trong sinh hoạt của
nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng

phù hợp với từng lĩnh vực,
từng ngành, từng cấp, từng
nơi.
Nguyên nhân sâu xa này
1 mặt là do ảnh hưởng từ nền
sản xuất nhỏ phân tán, mặt
khác trãi qua thời kỳ lâu dài
quen với tập trung quan liêu
bao cấp đã làm cho 1 số can
bộ Đảng viên quen ỷ lại cấp
trên, quen chấp hành những
hành động mang tính hình
thức.
Do chủ nghĩa cá nhân
thực dụng, ít kỷ, vụ lợi phát
triển, trong khi đó công tác
kiểm tra của chúng ta không
thường xuyên nên đã ảnh
hưởng không tốt đến việc thực
hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ, tự phê bình và phê bình
trong Đảng….
8. Một số giải pháp
nhằm thực hiện nghiêm
12
chỉnh nguyên tắc tập trung
dân chủ.
- Cần phải nâng cao
nhận thức đúng đắn, thống
nhất về yêu cầu và nội dung

tự phê bình và phê bình. Các
cơ uan được bầu phải chịu sự
giám sát của tổ chức và Đảng
viên, phải báo cáo hoạt động
trước cơ quan đã bầu ra mình,
thường xuyên thông báo tình
hình và hoạt động của mình
đến các tổ chức Đảng cấp
dưới và Đảng viên, quy định
thời gian tiến hành tự phê bình
và phê bình, tổ chức để quần
chúng phê bình và bỏ phiếu tín
nhiệm cán bộ, Đảng viên từ cơ
quan cao nhất đến tổ chức cơ
sở, xử lý nghiêm khắc những
người có thái độ trấn áp, trù
dập, phê bình hoặc lợi dụng
phê bình để đả kích, vu cáo
người khác, gây chia rẽ mất
đoàn kết.
- Để tăng cường vai trò
kiểm tra, giám sát của tổ chức
Đảng đối với hoạt động của
cấp ủy, cần kịp thời bổ sung,
điều chỉnh chủ trương, chính
sách thay thế những cán bộ
không đảm đương nhiệm vụ
nhằm kiện toàn cấp ủy không
chờ hết nhiệm kỳ.
+ Nâng cao vai trò trách

đó, trực tiếp với cán bộ đó.
+ Quy định thành chế độ
cán bộ lãnh đạo các cấp đi làm
việc trực tiếp ở cơ sở, tiếp xúc
với dân, đối thoại với quần
chúng và cấp dưới, giải quyết
kịp thời và dứt khoát những
công việc cấp bách.
- Đương nhiên, cũng
không phải cứ có quy chế quy
định là mọi việc được thực
hiện. Muôn thực hiện quy chế,
trước hết cán bộ cấp trên, cán
bộ lãnh đạo phải gương mẫu,
các cơ quan kiểm tra giám sát
phải tích cực hoạt động.
Nhưng vấn đề cực kỳ quan
trọng là phải có sự giám sát
thường xuyên của quần chúng,
có sự đấu tranh của công luận.
Tùy vấn đề và ở từng mức độ,
phạm vi thích hợp, phải thực
hiện công khai các hoạt động
của Đảng, của những người
lãnh đạo các cấp. Đặc biệt chú
trọng công khai tài chính, công
khai chế độ đãi ngộ, công khai
các ý kiến khác nhau, công
khai xử lý kỷ luật, chấm dứt
tình trạng giữ bí mật, “xử lý nôi

người đại diện trung
thành lợi ích của GC công
nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc Việt
Nam.
Đảng cộng sản cầm
quyền có 3 đặc điểm
chính sau đây:
1. Nhiệm vụ chính
trị của Đảng đã thay đổi
căn bản:
Từ chưa có chính
quyền đến có chính
quyền là một bước ngoặc
căn bản của cách mạng,
là một bước phát triển
mới về chất đối với sứ
mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Khi có chính
quyền thì chủ nghĩa xã
hội từ lĩnh vực lí luận đã
chyển sang lĩnh vực thực
tiễn, nhiệm vụ quản lí đã
trở thành nhiệm vụ chủ
yếu và trung tâm. Toàn bộ
đặc diểm của tình thế
hiện thời, tất cả khó khăn
là ở chỗ phải hiểu rõ
những đặc điểm của
bước chuyển từ nhiệm vụ

một thời kì mò mẫm, thử
nghiệm và chông chênh
vấp váp.
Lênin nói: “sự xuất
hiện của một giai cấp mới
trên vũ đài lịnh sử, với tư
cách là người lãnh tụ và
người lãnh đạo xã hội
không bao giờ diễn ra mà
lại không có một thời kì
‘tròng trành’ hết sức dữ
dội, một thời kì chấn
động, đấu tranh và bão
táp, đó là một măt. Mặt
khác không bao giờ diễn
ra mà lại không có một
thời kì mò mẫn thử
nghiệm, do dự, ngả
nghiêng trong việc lựa
chọn những phương pháp
mới đáp ứng tình hình thế
giới khách quan mới”.
(Lênin toàn tập, NXB sự
thật, Tập 36, Trang 259).
Do đó, đòi hỏi Đảng
cầm quyền phải luôn tổng
kết thực tiễn, đúc kết
thành lí luận, ra sức học
tập kinh nghiệm xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở các

dân, vì dân. Trong hệ
thống chính trị của chủ
nghĩa xã hội nhà nước
giữ vị trí trung tâm và có
vai trò cực kì quan trọng.
Sự lãnh đạo của Đảng thể
hiện sự tập trung ở nhà
nước, được thể hiện chủ
yếu thông qua nhà nước.
Nâng cao vai trò lãnh đạo
của Đảng gắn liền với
việc phát huy vai trò, hiệu
lực của nhà nước. Cần đề
phòng và chống lại
khuynh hướng sai lầm
nguy hại đến vận mệnh
của chủ nghĩa xã hội.
Như xem nhẹ, hạ tháp vai
trò lãnh đạo của Đảng.
Có chính quyền là
thuận lợi cơ bản nhưng
mặt khác, khi có chính
quyền thì bộ máy của
Đảng và nhà nước cũng
dễ nảy sinh những tiêu
cực mới. Có chính quyền
thì cán bộ Đảng viên
được bố trí vào những
cương vị chức vụ trong
bộ máy nhà nước. Đó là

Khi chưa có chính
quyền, Đảng trực tiếp giải
quyết mọi việc. Có chính
quyền, có hệ thống chính
trị, Đảng phải sử dụng
rộng rãi cả hệ thống chính
trị để thực hiện nhiệm vụ
trung tâm của Đảng là
lãnh đạo công cuộc xây
dựng, trước hết là trên
lĩnh vực kinh tế, có chính
quyền rồi, cuộc đấu tranh
giai cấp vẫn tiếp tục
nhưng bằng những hình
thức, phương pháp và
biện pháp khác. Lênin chỉ
ra rằng: “khi tình hình đã
thay đổi và chúng ta phải
giải quyết những nhiệm
vụ thuộc loại khác, thì
14
không nên nhìn lại đằng
sau và sử dụng những
phương pháp của ngày
hôm qua” (VI Lênin toàn
tập, NXB Tiến Bộ,
Matxcơva, 1978, Tập 44,
Trang 398)
Có chính quyền, giai
cấ công nhân phải biết

giành chính quyền để giải
quyết những nhiệm vụ tổ
chức thì người đó sẽ phá
sản hoàn toàn với tính
cánh là nhà chính trị, là
người XHCN. Vì vậy cần
phải sáng tạo những
phương pháp, hình thức
mới ngày càng phong
phú. Đó là những phương
pháp, hình thức kết hợp
giáo dục chính trị, tư
tưởng với kích thích lợi
ích kinh tế, kết hợp hài
hoà lợi ích cá nhân, lợi
ích tập thể và lợi ích xã
hội, kết hợp giáo dục với
hành chính và cưỡng
bức, kết hợp chặt chẽ
công tác tư tưởng, công
tác tổ chức và công tác
kinh tế.
Đảng cầm quyền đặc
biệt chú trọng đến
phương pháp lãnh đạo
thông qua nhà nước, phát
huy vai trò, hiệu lực của
nhà nước trong lĩnh vực
thể chế hoá đướng lối
chính sách của Đảng

của cách mạng Việt Nam
đã gắn bó Đảng ta với
nhân dân bằng cả chiều
dài và cả chiều sâu lịch
sử, không có lực lượng
chính trị nào thay thế
được. Nhân dân ta tự
giác thừa nhận sự lãnh
đạo của Đảng rõ ràng
không phải là do sự áp
đặt, mà xét đến cùng là
do tính tất yếu khách
quan của cách mạng
nước ta.
Đảng cộng sản cầm
quyền ở nước ta ngoài
những đặc điểm của một
Đảng cộng sản cầm
quyền, còn có những đặc
điểm sau:
- Là Đảng duy nhất
cầm quyền. Đảng có hệ
thống chính trị-xã hội, đặc
biệt là nhà nước được
xây dựng từ trung ương
đến cơ sở, giúp Đảng
thực hịên vai trò lãnh đạo
của mình. Có đội ngũ cán
bộ Đảng viên đông đảo,
nắm chức vụ chủ chốt

dựng đất nước đi lên chủ
nghĩa xã hội với nhiều khó
khăn phức tạp.
- Đảng lãnh đạo nhà
nước pháp quyền đang
xây dựng và hoàn thiện,
hệ thống pháp luật còn
chồng chéo, lỏng lẻo, biện
pháp giáo dục, thực hiện
15
pháp luật chưa đến nơi
đến chốn.
So với các Đảng
cộng sản khác như Đảng
cộng sản LX và đông âu
thì Đảng ta có những đặc
điểm riêng như: ngay từ
khi ra đời, Đảng ta đã là
một tổ chức cộng sản
đoàn kết thống nhất,
Đảng có mối quan hệ
máu thịt với GC công
nhân và nhân dân lao
động (xuất thân của
Đảng). Nhân dân bao
bọc, bảo vệ Đảng, tin
Đảng, theo Đảng; cuộc
cách mạng Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng là
tự mình vì mình. Thể hiện

thịt giữa Đảng với quần
chúng nhân dân, bảo đam
quyền làm chủ thật sự
của nhân dân, đấu tranh
loại trừ 4 nguy cơ mà
Đảng ta đã chỉ ra, “tăng
cường công tác giáo dục
chính trị, rèn luyện đạo
đức cách mạng, chống
chủ nghĩa cá nhân, xây
dựng và đổi mới công tác
cán bộ, củng cố các tổ
chức cơ sở Đảng”, kiện
toàn tổ chức, đổi mới
phương thức lãnh đạo
của Đảng. Phát huy dân
chủ trong sinh hoạt Đảng.
Tăng cường chế độ lãnh
đạo tập thể đi đôi với phát
huy tinh thần chủ động,
sáng tạo và trách nhiệm
cá nhân của từng thành
viên. Từng Đảng bộ giữ
vững sự đoàn kết thống
nhất trong tập thể lãnh
đạo. Tăng cường vai trò
lãnh đạo và tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với nhà
nước. Kiện toà hệ thống

việc; củng cố và đoàn kết
nội bộ, giáo dục rèn luyện
nâng cao phẩm chất, đạo
đức cách mạng của cán
bộ Đảng viên (Văn Kiện
ĐHĐBTQ lần thứ IX, NXB
CTQG, HN 2001, Trang
55,56)
Câu 4: Đoàn kết là
sức mạnh, là then chốt
của thành công (Hồ Chí
Minh toàn tập – tập 11,
NXB CTQG 1996, trang
154)
Bài làm
ĐCS Việt Nam do Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập
và rèn luyện đã lãnh đạo
nhân dân Việt Nam đấu
tranh anh dũng, tiến hành
cuộc cách mạng tháng 8
1945 thành công và các
cuộc kháng chiến chống
xâm lược của chế độ thực
dân phong kiến, hoàn
thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc và thống
nhất đất nước, đưa cả
nước chuyển sang giai
đoạn cách mạng xã hội

vĩ đại kính yêu của Đảng
ta đã từng khẳng định
“đoàn kết là sức mạnh là
then chốt của thành công”
để hiểu sâu sắc vấn đề
này chúng ta cần đi sâu
phân tích và chúng ta cần
phải làm gì để giữ đoàn
kết thống nhất của Đảng
trong điều kiện mới.
Trước hệt đoàn kết
thống nhất là một quy luật
trưởng thành của Đảng.
Tại sao đoàn kết là quy
luật? Theo quan điểm của
một số nhà kih điển đã
cho rằng:
Thứ nhất, tư tưởng của
M – Angghen: các ông là
nhà sáng lập CNXHKH,
phát hiện ra sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công
nhân, các ông chỉ ra con
đường để giai cấp công
nhân giành thắng lợi là
phải tổ chức ra chính
Đảng của mình, tập hợp
đông đảo quần chúng:
Một, Đảng phải được
tổ chức theo nguyên tắc

Lênin cho rằng nội bộ
Đảng càng đoàn kết,
không bị giao động bao
nhiêu thì ảnh hưởng của
Đảng đối với quần chúng
càng lớm bấy nhiêu.
Trong đoàn kết Đảng
cầm quyền, lênin đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò
đoàn kết, Người cho rằng
chia sẽ trog Đảng à cực
kỳ nguy hiểm, nhất là
những nước mà giai cấp
công nhân chỉ chiếm một
tỷ lệ nhỏ trong dân cư.
Còn quan điểm của
Đảng ta và chủ tịch Hồ
Chí Minh về vấn đề đoàn
kết thống nhất như thế
nào?
Trong các thời kỳ khác
nhau của cách mạng,
Đảng ta luôn quan tâm
xây dựng và củng cố sự
đoàn kết thống nhất trong
Đảng. Đảng ta cho rằng
đoàn kết trong Đảng là
nguồn sức mạnh, là sinh
mệnh sống còn của Đảng.
đoàn kết thống nhất trong

thể phát triển vững vàng
được nếu trong Đảng xảy
ra tình trạng chia sẽ, bè
phái.
Để làm tốt đoàn kết
thống nhất trong Đảng là
cần hiểu: đoàn kết có
nghĩa là cùng bàn bạc
thảo luận một cách dân
chủ các vấn đề lãnh đạo,
sinh hoạt của Đảng. Nghị
quyết đúng đắn phải được
đa số thông qua và chấp
hành một cách triệt để.
Đoàn kết là trong Đảng
không có tình trạng “trống
đánh xuôi, kèn thổi
ngược” và trong Đảng
không phân chia thành
những bộ phận không
muốn cùng nhau hợp tác,
trong Đảng không có mần
móng để nảy sinh một tổ
chức mới. Đoàn kết là
trong Đảng không có
những tập đoàn, không có
những cương lĩnh, những
kế hoạch hành động
riêng. Để làm tốt đoàn kết
là phải giải quyết tốt các

chiến đấu lâu dài, lúc
thuận lợi cũng như lúc
khó khăn, lúc cách mạng
phát triển bình thường
cũng như trong bước
ngoặc lịch sử. Trong báo
cáo đại hội V Đảng ta
vạch rõ quan điểm là
Đảng ta cũng có truyền
thống đoàn kết nhất trí về
dường lối, sự đoàn kết
thống nhất của Đảng
được thể hiện rõ trong
BCH Trung ương, báo
cáo Trung ương VI lần 2,
Đảng ta tiếp tục khẳng
định: trước tình hình biến
động chính trị trên toàn
thế giới và trong nước có
nhiều diễn biến phước tạp
nhưng Đảng ta vẫn tiếp
tục phát huy được truyền
thống cách mạng, có bản
lĩnh chính trị và kiên định
với mục tiêu lý tưởng,
nguyên tắc tổ chức và
nêu cao được tinh thần
dộc lập tự chủ.
Về biểu hiện mất đoàn
kết trong Đảng thời gian

đơn vị. Mất đoàn kết giữa
già với trẻ, cũ với mới,
giữa cán bộ nghĩ hưu và
cán bộ đương chức.
Nguyên nhân mất đoàn
kết là do ba nguyên nhân
chủ yếu:
- Do tư tưởng cá nhân
chủ nghĩa cục bộ địa
phương, phe cánh, tranh
giành chức vụ, chay chức
quyền.
- Không tôn trọng
nguyên tắc tập trung dân
chủ, tự phê bình và phê
bình mang tính hình thức
dẫn đến đoàn kết kém.
- Do gia trưởng, độc
đoán, chuyên quyền chạy
công đỗ lỗi.
Từ đó có thể kết luận
rằng chủ nghĩa cá nhân là
nguyên nhân bao trùm
xuyên suốt mà trung tâm
là vì lợi ích cá nhân. Nếu
ở đâu, nơi nào mất đoàn
kết kéo dài và nghiêm
trọng điều đó chỉ xãy ra ở
đội ngũ cán bộ chủ chốt.
Những vụ mất đoàn kết

đoàn kết thống nhất phải
quán triệt đường lối, quan
điểm, chủ trương của
Đảng để chúng ta làm cơ
sở xây dựng sự đoàn kết
của Đảng các cấp ủy phải
đặc biệt coi trọng việc xây
dựng chủ trương, nhiệm
vụ chính trị và biện pháp
lãnh đạo đúng đắn phù
hợp với tình hình thực tế
của địa phương và đơn vị.
Bài học thứ hai là: sự
đoàn kết thống nhất trong
Đảng phải dựa trên cơ sở
tuân thủ nghiêm ngặt
nguyên tắc tập trung dân
chủ. Tập trung dân chủ là
nguyên tắc chỉ đạo tổ
chức và hoạt động của
Đảng nhằm bảo đảm cho
Đảng ta thống nhất một
khốivề ý chí và hành
động, yêu cầu trong sinh
hoạt Đảng phải phát huy
được dân chủ, mọi người
được trình bày hết ý kiến
của mình, khi đã biểu
quyết thì phải làm theo
nghị quyết, phải chấp

Đảng.
Bài học thứ năm là:
xây dựng và bảo vệ hạt
nhân lãnh đạo thực sự là
trung tâm cho khối đại
đoàn kết thống nhất trong
Đảng.
Qua những bài học
kinh nghiêm về vấn đề
đoàn kết có một số vấn
đề cần chú ý để xây dựng
củng cố khối đoàn kết
thống nhất trong Đảng
hiện nay là:
- Kiên quyết chống chủ
nghĩa cá nhấn và chủ
nghĩa cơ hội.
- Phải thấy rằng trong
Đảng có sự khác nhau ý
kiến về chủ trương, về
biện pháp là điều bình
thường, nhất là trong
bước ngoặc lịch sử.
- Đảng phải xóa bỏ tình
trạng đặc quyền đặc lợi
về đoàn kết sinh hoạt và
các chế độ đãi ngộ.
- Đảng phải quan tâm
xây dựng dường lối,
chính sách dúng, có cơ

- Phát hiện sớm những
hiện tượng mất đoàn kết,
tạp trung giải quyết xử lý
dứt điểm.
Nghị quyết ĐH Đảng
toàn quốc lần thứ IX nêu:
xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân là trách
nhiệm của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội
xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân gắn liền với
việc phát huy dân chủ
trong đời sống xã hội
dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Thực hiện dân chủ
trên các lĩnh vực chính trị
– kinh tế, văn hóa – xã hội
ở tất cả các cấp các
ngành, chính sách và
pháp luật của Nhà nước
là yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến việc thực hiện đại
đoàn kết toàn dân và sinh
hoạt dân chủ trong xã hội.
Tóm lại, “đoàn kết là
sức mạnh, là then chốt
của thành công” đó là một
quy luẫt sống còn của
cách mạng, của Đảng ta.

trí trong Đảng như giữ gìn
con ngươi của mắt mình.
Thực tiễn của Đảng
ta trong những năm gần
đây và nguyên nhân đổ
vỡ của các ĐCS ở Đông
âu và Liên Xô cho thấy ý
nghĩa cực kỳ to lớn của
việc giữ gìn sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng.
Chúng ta cần ý thức sâu
sắc lời dặn của Bác Hồ
rằng đoàn kết thì sống,
chia rẽ là tử
19
Câu 4: Đoàn kết
thống nhất trong Đảng.
Bài làm
Đoàn kết thống nhất
trong Đảng là quy luật
trưởng thành của Đảng.
Vì vậy khi đề cập đến vấn
đề này, Mác-Aêngghen đã
giành phần lớn trí tuệ trí
tuệ và sức lực của mình
để xây dựng chính Đảng
độc lập, cách mạng của
GC công nhân. Hai ông
khẳng định: “sự thành
công của phong trào công

hoặc giữa Đảng của GC
vô sản với quần chúng vô
sản không phải chỉ là
nguy hiểm mà còn là cực
kì nguy hiểm…” (Lênin
Tøoàn Tập, Tập 42, Trang
336).
Đảng ta coi đoàn kết
trong Đảng là sinh mệnh
của Đảng, là vấn đề sống
còn của cách mạng, là cơ
sở để thống nhất GC là
điều kiện để đoàn kết
toàn dân đưa cách mạng
đến thắng lợi. Do đó,
Đảng ta luôn quan tâm
xây dựng và củng có sự
đoàn kết thống nhất trong
Đảng qua các thời kì khác
nhau trên con đường
cách mạng. Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định:
“đoàn kết là sức mạnh, là
then chốt của thành
công”, điều lệ đầu tiên
của Đảng thông qua tại
đại hội I (3/1935) ghi rõ:
Đảng là một khối thống
nhất về tổ chức, hướng
hành động. Đảng tuyệt

phương pháp luận đúng
đắn trong đánh giá, giải
quyết các vấn đề. Xa rời
nó thì sẽ mất phương
hướng và xa rời mục tiêu
đoàn kết của Đảng, dẽ rơi
vào đoàn kết theo kiểu
phường hội, cục bộ địa
phương chủ nghĩa.
Quán triệt bài học
này đòi hỏi chúng ta cần
phải nắm vững được vị
trí, vai trò của đoàn kết
thống nhất và tư tưởng
cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đảng về
đoàn kết; mỗi cán bộ
Đảng viên phải quán triệt
sâu sắc đường lối, quan
điểm, chủ trương, chính
sách của Đảng để làm cơ
sở cho đoàn kết thống
nhất trong tư tưởng và tổ
chức; các cấp ủy phải đặc
biệt coi trọng việc xây
dựng chủ trương, nhiệm
vụ và biện pháp lãnh đạo
đúng đắn phù hợp với
tình hình đơn vị.

quyết tất cả mọi cán bộ,
Đảng viên, không trừ một
ai đều phải nói và làm
20
theo nghị quyết của
Đảng” (NQ Hội Nghị lần
thứ V của BCH TW khoá
VI). Yù kiến trai ngược thì
được bảo lưu, báo cáo
cấp trên.
-Mọi Đảng viên phải
nêu cao ý thức tổ chức kỉ
luật và việc tăng cường kỉ
luật goáp phần tăng
cường đoàn kết thống
nhất.
3.Sự đoàn kết thống
nhất phải dựa trên tình
thân ái, tình đồng chí của
cán bộ Đảng viên.
Kin nghiệm cho thấy
với thái độ chân thành cởi
mở, tôn trọng nhau, biết
thông cảm, khiêm tốn
lắng nghe ý kiến của
nhau, thường giúp đỡ
nhau… sẽ tao nên bầu
không khí đoàn kết thỏi
mái trong tậ[ thể, từ đó
tạo điều kiện hoàn thành

sự trong Đảng” (Lênin
Toàn Tập, Tập 11, NXB
Tiến Bộ, 1979, Trang 210)
trên đây là những cơ
sở cơ bản trong xây dựng
khối đại đoàn kết thống
nhất trong Đảng. Qua các
giai đoạn cách mạng
Đảng ta luôn xem trọng,
đề cao việc xâ dựng đoàn
kết thống nhất trong
Đảng. Chính vì thế mà
mặc dù đã trải qua nhiều
khó khăn, gian khổ nhưng
Đảng vẫn lãnh đạo nhân
dân ta đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác, từng
bước đưa nước ta tiến
vững chắc trên con
đường xây dựng thành
công chế độ chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Công
cuộc xây dựng khốo đoàn
kết thống nhất trong Đảng
của Đảng ta đã thu được
những kết quả hết sức to
lớn, thể hiện ở những mặt
sau:
-Đoàn kết là một
truyền thống quý báu của

với một số vấn đề cơ bản
cũng như một số vấn đề
liên quan đến quan điển
đường lối chủ trương
chính sách lớn của Đảng.
-Có một số nơi nội
bộ Đảng mất đoàn kết
khá ngiêm trọng, chủ yếu
là tranh giành địa vị chức
vụ, lợi lộc nhất là cán bộ
chủ chốt.
-Có nới còn vì mâu
thuẫn cá nhân mà tập
hợp lực lượng thành bè
cánh ở trong Đảng và
trong nhân dân để chống
đối nhau, gây mất đoàn
kết và mất ổn định xã hội.
-Còn có tình trạng
khá phổ biến: trong hội
nghị thì nhấttrí nhưng ra
ngoài thì nói khác hoặc
không thực hiện, nói một
đằng làm một nẻo. Đương
chức thì nói kiểu này
nhưng khi chuyển công
tác hoặc ngỉ hưu thì moi
móc.
Trong đây là những
tồn tại mà công tác xây

đoàn kết thống nhất trong
Đảng, nổi bật là những
giải pháp cơ bản sau:
-Kiên quyết chống
chủ nghĩa cá nhân và chủ
nghĩa cơ hội.
Khi một Đảng đã có
chính quyền thì thường
mất đi sự sàng lọc tự
nhiên; mặt khác sự hấp
dẫn của Đảng cầm quyền
lại lớn, nên bọn cơ hội
thường tìm mọi cách chui
vào Đảng. Chủ nghĩa cá
nhân là nguồn gốc của
chủ nghĩa cơ hội. Sự rạn
nứt đi đến tan rã là xu
hướng vận động của một
tổ chức trong đó có sự
hoạt động của chủ nghĩa
vo chính phủ. Giữa chủ
nghĩa vô chính phủ và
chủ nghĩa cơ hội có quan
hệ biện chứng với nhau.
Chủ nghĩa vô chính phủ là
một biểu hiện của chủ
nghĩa cơ hội về mặt hình
thức. Bè phái, phe nhóm
là cơ sở tồn tại của chủ
nghĩa cơ hội trong Đảng.

tưởng cũng như hành
động.
-Đảng quan tâm xây
dựng một đường lối,
chính sách đúng, cơ chế
tổ chú7c hợp lí, quy chế
làm việc rõ ràng, phong
cách dân chủ, kiên quyết
chống bệnh quan liêu, gia
trưởng. Kinh nghiệm cho
thấy, ở đâu thiếu những
điều kiện đó thì ở đó thiếu
sự thống nhất về tư
tưởng và tổ chức. Đường
lối đúng là cơ sở cho sự
đoàn kết. Ngược lại,
đường lối sai là nguồn
gốc của sự phân tán, chia
rẽ. Cơ chế đ1ng đảm bảo
cho bộ máy vận động
thống nhất, ngược lại lại
cơ chế sai tạo ra sự bao
biện và cả kẽ hở làm cho
hành động không thống
nhất.
Chủ nghĩa quan liêu,
gia trưởng, mất dân chủ
không thể tạo được bầu
không khí cởi mở, thân ái
trong tấp thể.

nguồn sức mạnh và động
lực to lớn để xây dựng và
bảo vệ tổ quốc. Đai hội
chỉ rõ “thực hiện đại đoàn
kết dân tộc, tôn giáo, giai
cấp, tầng lớp, thành phần
kinh tế, mọi giới, mọi lứa
tuổi, mọi vùng của đất
nước, người trong Đảng
và người ngoài Đảng,
người đang công tác và
người đã nghỉ hưu, mọi
thành viên trong đại gia
đình dân tộc Việt Nam dù
sống ở trong nước hay ở
nước ngoài. Phát huy sức
mạnh của cả cộng đồng
dân tộc, truyền thống yêu
nước, ý chí tự lực, tự
cường và lòng tự hào dân
tộc, lấy mục tiêu giữ vững
độc lập dân tộc, thống
nhất, vì dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh là điểm
tương đồng; tôn trọng
những ý kiến khác nhau
không trái với lợi ích
chung của dân tộc, xoá
bỏ mặc cảm, định kiến,

Đảng CSVN-đội tiên
phong của GC công nhân
Việt Nam-là một đội ngũ
thống nhất về chính trị, tư
tưởng trên cơ sở chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, một
đội ngũ có tổ chức chặt
chẽ, khoa học. Tình tổ
chức của Đảng thể hiện
trước tiên ở chỗ Đảng là
một hệ thống các cấp tổ
chức từ TW đến cơ sở,
được xây dựng teho
nguyên tắc tập trung dân
chủ. Trong hệ thống đó.
Các tổ chức cơ sở-chi bộ
cơ sở và Đảng bộ cơ sở-
lập thành nền tảng của
Đảng.
Trong hệ thống tổ
chức của Đảng, mỗi cấp
có vị trí, chức năng,
nhiệm vụ khác nhau. Cấp
cơ sở là nền tảng của
Đảng, của cả hệ thống
chính trị; nơi trực tiếp
triển khai và tổ chức thực
hiện đường lối, nghị quyết
của Đảng cấp trên, biến

thuộc Đảng ủy cơ sở, cấp
ủy cấp dưới phải báo cáo
và được cấp ủy cấp trên
đồng ý mới thực hiện.
Theo quy định trên,
khái niệm tổ chức cơ sở
Đảng được gọi chung cho
cả Đảng bộ cơ sở và chi
bộ cơ sở tuỳ thuộc vào số
lượng đảng viên và yêu
cầu nhiệm vụ cụ thể từng
đơn vị cơ sở.
Đảng CSVN và chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm xây dựng tổ
chức cơ sở Đảng. Dù ở
bất kì giai đoạn cách
mạng nào, Đảng ta luôn
khẳng địng tổ chức cơ sở
Đảng là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính
trị ở đơn vị cơ sở “mỗi chi
bộ của Đảng, phải là hạt
nhân lãnh đạo quần
chúng ở cơ sở, đoàn kết
chặt chẽ, liuên hệ mật
thiết với quần chúng, phát
huy được trí tuệ và lực
lượng vĩ đại của quần
chúng” (Hồ Chí Minh Toàn

viên; nơi đào tạo cán bộ
cho Đảng; nơi xuất phát
để cử ra cơ quan lãnh
đạo cấp trên của Đảng; là
cửa ngõ quan trọng bảo
đảm tính tiên phong, tính
trong sạch của Đảng ta.
Trong điều kiện dất
nước ta phát triển nền
kinh tế thị trường định
hướng XHCN có sự quản
lí của nhà nước, vai trò
của tổ chức cơ sở Đảng
càng trở nên quan trọng.
Nghị Quyết đại hội lần thứ
5 BCH TW khoá VI đã
nêu: “trong điều kiện
chuyển sang thực hiện cơ
chế quản lí mới, phát huy
vai trò chủ động sáng tạo
của các đơn vị kinh tế cơ
sở, mở rộng dân chủ
XHCN, các tổ chức cơ sở
Đảng phải thực sự làm
hạt nhân lãnh đạo chính
trị trong các tập thể lao
23
động”…Với vai trò đó, các
Đảng bộ cơ sở phải nâng
cao chất lượng trong hoạt

và trong nhân dân. Nâng
cao một bước chất lượng
tổ chức cơ sở Đảng,
nhiều Đảng bộ địa
phương tiến hành tổ chức
lại các chi bộ, kiện toàn
bộ máy, tinh giảm biêbn
chế theo yêu cầu thực
hiện cơ chế mới. Qua đai
hội Đảng bộ cơ sở có một
bước kiện toàn cấp ủy và
đội ngũ cốt cán ở nhiều
Đảng bộ. Tuy nhiên, trong
nhiều địa phương, nhiều
ngành, năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở Đảng còn
yếu, lúng túng trong đổi
mới nội dung và phương
thức lãnh đạo trước yêu
cầu đổi mới của đổi mối
của cơ chế quản li kinh tế,
quản lí xã hội ở cơ sở;
không ít Đảng bộ buông
lỏng công tác giáo dục,
kiểm tra, quản lí đảng
viên, sinh hoạt Đảng chất
lượng kém; một số đảng
viên cá nhâ cơ hội cục bộ,
phe cánh gây mất đoàn

TW và BCT, tuy đã có
nhiều cố gắng trong công
tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, nhưng chỉ đạo
chưa tập trung và thiếu
kiên quyết; chủ trương,
biện pháp thiếu đồng bộ;
chưa chỉ đạo tất việc kết
hợp tự phê bình và phê
bình với kiện toàn tổ
chức, đổi mới cơ chế,
chính sách, chỉnh đốn các
khâu quản lí kinh tế, tài
chính và tăng cường công
tác giáo dục, quản lí cán
bộ, đảng viên…” (VK IX,
NXB CTQG, HN 2001, Tr
139).
Công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước trong
bối cảnh quốc tế và trong
nước hiên nay đòi hỏi
Đảng ta phải tự đổi mới,
tự chỉnh đốn. Đó là nhiệm
vụ rất quan trọng và cấp
bách của toàn Đảng. Với
vị trí vai trò của mình sự
vươn lên của các Đảng
bộ cơ sở sẽ là yếu tố tác
động tích cực đến kết quả

vọng của nhân dân ở cơ
sở và thực hiện việc bàn
bạc, thảo luận dân chủ
trong Đảng bộ và trong
nhân dân để xác định
phương hướng, nhiệm vụ,
mục tiêu phấn đấu chính
xác, chủ động của Đảng
bộ trong thời gian nhất
định theo đúng chức năng
lãnh đạo của mình.
Sau khi xác định
đúng đắn phương hướng
nhiệm vụ, bằng vai trò
tiên phoing gương mẫu
của đội ngũ Đảng viên và
24
bằng việc phát huy quyền
lànn chủ của quần chúng,
Đảng bộ tiến hành tổ
chức thực hiện, biến
những quyết định đó
thành hiện thực bằng
quyết tâm và kế hoạch
hành động.
Năng lực tổ chức
thực tiễn của tổ chức cơ
sở Đảng chính là nghệ
thuật khơi dậy, phát huy
trí tuệ của quần chúng.

thành tổ chức Đảng thì
sinh hoạt chi bộ thường
xuyên là “quá trình trao
đổi chất trong mỗi tế bào,
là dấu hiệu của sự sống”.
Do vậy hễ nơi nào, lúc
nào mà sinh hoạt chi bộ bị
lỏng lẻo, rời rạc không có
nội dung chính trị tư
tưởng cụ thể, thiết thực,
thì nơi đó, lúc đó đã bắt
đầu có nguy cơ đi chệch
hướng đường lối chính
sách của Đảng, hạ thấp
vai trò tiên phong, gương
mẫu của đảng viên, làm
cho kỉ luật của Đảng bị
buông lỏng…
Thời gian qua, nhiều
tổ chức cơ sở Đảng vẫn
giữ được nề nếp sinh
hoạt, nội dung sinh hoạt,
bám sát vào nhiệm vụ
chính trị, vào tình hình địa
phương. Song, cũng còn
nhiều chi bộ sinh hoạt
không đều, nội dung
nghèo nàn, đấu tranh tự
phê bình và phê bình
trong sinh hoạt yếu…. Để

việc xây dựng, hoàn thiện
chất lượng từng Đảng
viên với chất lượng của
các tổ chức cơ sở Đảng.
-Khuyến khích cơ sở
tăng cường tính năng
động, sáng tạo, đồng thời
tăng cường chỉ đạo,
hướng dẫn của tổ chức
Đảng cấp trên, trước hết
là cấp trên trực tiếp.
Đây là giải pháp
quan trọng, nhằm tháo gỡ
những khó khăn cho cơ
sở, tạo điều kiện cho cơ
sở đi đúng hướng. Vì thế,
các cấp trên của cơ sở,
nhất là cấp trên trực tiếp
theo chức trách của mình
cần đánh giá thực trạng
của cơ sở Đảng, từ đó có
chủ trương, kế hoạch chỉ
đạo cụ thể đối với từng
vùng và từng Đảng bộ cơ
sở, giúp cấp cơ sở xác
định nhiệm vụ chính trị,
phương hướng sản xuất-
kinh doanh và các hoạt
động xã hội khác. Soát
xét, kiện toàn đội ngũ cán

Tr 143)
Câu 6: Công tác cán
bộ
25
Bài làm
Công tác cán bộ là
khâu then chốt trong toàn
bộ hoạt động của Đảng,
là nguyên nhân của mọi
nguyên nhân. Vị trí của
công tác cán bộ gắn liền
với vai trò đội ngũ cán bộ.
Cán bộ là 1 trong những
nhân tố quan trọng quyết
định sự thành công hay
thất bại của cách mạng.
Lênin chỉ rõ:" trong lịch
sử, chưa hề có 1 giai cấp
nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không
đào tạo ra được trong
hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị,
những đại biểu tiền phong
có đủ khả năng tổ chức
và lãnh đạo phong trào"
(Lênin toàn tập, NXB Tiến
bộ, Maxcơva, 1974, tập 4,
trang 473)
Ở nước ta, công tác

bộ bao giờ cũng là vấn đề
chiếm giữ vị trí trung tâm,
chiến lược trong quá trình
xây dựng và phát triển
của Đảng.
Công tác cán bộ có mối
quan hệ chặt chẽ với
đường lối và nhiệm vụ
chính trị của Đảng , gắn
liền với tổ chức, với
phong trào cách mạng
của quần chúng.
- Giữa đường lối,
nhiệm vụ chính trị của
Đảng và cán bộ có mối
quan hệ biện chứng. Có
cán bộ lãnh đạo tốt mới
có thể đề ra được đường
lối và nhiệm vụ chính trị
đúng; chỉ có trên cơ sở,
đường lối, nhiệm vụ chính
trị đúng mới có thể làm
sản sinh đội ngũ cán bộ
tốt. Cán bộ đào tạo, rèn
luyện và trưởng thành
mới thi hành đường lối,
nhiệm vụ chính trị đúng.
Quan hệ giữa đường lối,
nhiệm vụ chính trị với cán
bộ là mối quan hệ nhân

không thế thì tất cả mệnh
lệnh và quyết định sẽ chỉ
là mớ giấy lộn". Với ý
nghĩa đó, nên khi tiến
hành công tác cán bộ
phải gắn với đường lối và
nhiệm vụ chính trị.
- Cán bộ là nhân tố
chủ yếu, nhân tố hàng
đầu và nhân tố”động"
nhất của tổ chức. Cán bộ
là người lập ra tổ chức.
Song đến lược mình, cán
bộ lai chịu sự chi phối,
rành buộc của tổ chức. Tổ
chức quyết định phương
hướng và hành động của
cán bộ. Tổ chức buộc cán
bộ phải hành động theo
nguyên tắc và khuôn khổ
nhất định. Tổ chức đúng
sẽ nhân sức mạnh của
cán bộ lên gấp bội. Cán
bộ có sức mạnh khi gắn
với tổ chức và nhân danh
tổ chức. Tách khỏi tổ
chức, cán bộ mất sức
mạnh quyền lực và hiệu
lực do tập thể tạo nên. Do
đó, muốn cán bộ tốt thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status