Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
Từ khi gia nhập WTO, nước ta đã hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, vận
động theo nó. Gia nhập WTO đem lại nhiều cơ hội cũng như cho cả nền kinh tế nói
chung và các doanh nghiệp trong nước nói riêng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
kinh tế thế giới diễn biến một cách phức tạp: lạm phát, khủng hoảng, suy thoái…
thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa học –công nghệ đã ảnh hưởng
sâu sắc đến hoạt động của các doanh nghiệp, làm cho cuộc cạnh tranh để tồn tại ngày
càng gay gắt, quyết liệt hơn không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn có
sự tham gia của doanh nghiệp nước ngoài . Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp
phải không ngừng hoàn thiện bản thân để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng
loại để đem lại nhiều sự lựa chọn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Điều
này góp phần quan trọng vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường. Cạnh tranh để tồn tại và phát triển đây là quy luật đào thải tồn tại một
cách tất yếu của nền kinh tế thị trường. Để chạy theo được quy luật này, nhà quản trị
của công ty thường xuyên đi sâu nghiên cứu và phân tích các hoạt động sản xuất
kinh doanh theo chiều rộng và theo chiều sâu để có thể tìm ra các giải pháp cụ thể
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Dựa trên thực tiễn và qua
thời gian thực tập tại công ty cổ phần May Bình Định, em đã chọn đề tài “ giải pháp
nâng cao khả năng cạnh tranh tại công ty cổ phần may Bình Định” làm đề tài cho
bài báo cáo thực tập tốt nghiệp của em.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương I : Cơ sở lý luận về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Chương II : Phân tích thực trạng về khả năng cạnh tranh của công ty cổ
phần May Bình Định.
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh
tại công ty cổ phần May Bình Định.
Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ tận của cô giáo hướng dẫn
Th.S Đặng Thị Thanh Loan, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chú, anh, chị
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:1
giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ, về cùng
một loại khách hàng so với các ĐTCT.
Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước
theo định hướng XHCN thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện vào từng bước đi của
DN. Môi trường hoạt động kinh doanh của DN lúc này đầy biến động và vấn đề cạnh
tranh trở nên cấp bách, có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh
vực của đời sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân đơn lẻ đến tổng thể toàn
xã hội. Cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiênvà khách quan của nền kinh tế thị
trường, nó không phụ thuộc và ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
gốc của cạnh tranh, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa
phát triển.Bởi vậy, để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm buộc các DN phải thường xuyên đổi mới, tích cực nhạy bén và năng động,
phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới, bổ xung xây
dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy
móc đã cũ kỹ lạc hậu và điều quan trọng là phải có phương pháp tôr chức quản lý có
hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động.
Cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà
còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất
lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, pục vụ nhu cầu xã
hội đươc tốt hơn. Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu
cực: đó là sự phân hóa sản xuất hàng hóa, làm pha sản những DN kinh doanh gặp
khó khăn khi thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể làm
cho DN phá sản khi gặp những rủi ro do khách quan mang lại như thiên tai, hỏa
hoạn… hoặc rơi vào những hoàn cảnh điều kiện không thuận lợi, thậm chí là việc
mất đạo đức trong kinh doanh của các DN.
Như vậy cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất là
cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau,
mức giá phù hợp thì DN đó mới đủ tồn tại và phát triển. Do vậy cạnh tranh là rất
quan trọng và cần thiết.
- Đối với ngành: hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và ngành dệt may
nói riêng, cạnh tranh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
sản phẩm. Cạnh trạnh bình đẳng và lành mạnhsẽ tạo tiền đề rất tốt cho mọi ngành
nghề, nhất là đối với ngành may mặc- một trong những ngành nghề chủ đạo góp
phần làm tăng GDP trong nền kinh tế quốc dân. Cạnh tranh sễ tạo điêu kiện cho
nghành phát triển trên cơ sở khai thác lợi tthế của ngành đó có thể thu hút nguồn lao
động đồi dào và khai thác tối đa nguồn lực đó.
- Đối với sản phẩm: nhờ có cạnh tranh mà các sản phẩm mà hầu hết các sản
phẩm không những được nâng cao về số lượng mà cả về chất lượng, mầu mã và
phong phú về chủng loại. Đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và
mang lại thu nhập ngày càng cao cho DN. Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ đáp
ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.
- Đối với người tiêu dùng: cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo
đảm cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tuỳ tiện. Với khía
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần hạn
chế sự trôi nổi về giá cả và lành mạnh hoá các mối quan hệ xã hội.
Chức năng:
- Cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho người này và gây thiệt hại cho
người khác, nhưng nếu xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác dụng tích
cực, nó đem lại phúc lợi cho toàn xã hội. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận
một số chức năng quan trọng sau:
- Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu. Cạnh tranh hướng việc
sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất.
- Cạnh tranh tạo ra môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến
động của cầu và công nghệ sản xuất.
- Cạnh tranh có tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập: cạnh
nào dù là cao hơn. Lúc này sự cạnh tranh gay gắt giữa những người mua diễn ra. Kết
quả là hàng hóa tăng cao, người bán thu được lợi nhuận, người mua thiệt thòi về giá
cả vầ chất lượng. Trường hợp này chỉ tồn tại ở thời kỳ quan liêu bao cấp và bán đấu
giá một số hàng hóa mà thôi
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau: đây là cuộc ganh đua gay gắt và
quyết liệt khi mà nền kinh tế sức cung > sức cầu, các DN sẽ loại trừ lẫn nhau để
giành lợi thế và ưu thế cho mình.
Căn cứ vào hình thái và tính chất của cạnh tranh trên thị trường :
- Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mang đặc điểm có vô số
người bán người mua độc lập với nhau, sản phẩm đồng nhất, thông tin đầy đủ, không
có rào cản quy định. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, DN là người chấp nhận
giá, tức là hoàn toàn không có sức cạnh tranh trên thị trường, mọi sản phẩm được
bán với mức giá hiện hành trên thị trường hay cách khác DN bị chi phối bởi quy luật
cung – cầu của thị trường. Vì vậy DN không thể bán được ở mức giá cao hơn so với
đối thủ khác
- Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thái rất phổ biến trên thị trườngmà
ở đó DN nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua
hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi bán. Cạnh tranh khônh
hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi
loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự
khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất
nhiều. Cạnh tranh hoàn hảo có hai loại:
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
+ Cạnh tranh độc quyền: tồn tại trong một thị trường có nhiều hãng bán
những sản phẩm tương tự nhưng được phân biệt khác nhau. Đặc điểm của loại hình
cạnh tranh này là sản phẩm đa dạng hoá, các hãng cạnh tranh với nhau bằng việc bán
sản phẩm khác nhau về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, chất lượng, danh tiếng và giá cả.
Mỗi hãng là người sản xuất duy nhất sản phẩm của mình, hình thức cạnh tranh chủ
yếu là thông qua nhãn mác để phân biệt sản phẩm.
1.1.4 Các công cụ cạnh tranh:
Công cụ cạnh tranh của DN có thể được xem là các yếu tố, các chính sách,
các chiến lược nhằm giúp cho DN có thể thắng được ĐTCT của mình. Từ đó có thể
thu được lợi nhuận cao hơn, lựa chọn công cụ cạnh tranh các DN lựa chọn những
công cụ riêng phù hợp với quy mô và điều kiện của DN mình. Sau đây là một số
công cụ quan trọng và tiêu biểu mà các DN cần có:
Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm:
Các DN muốn tồn tại và phát triển mặt hàng sản phẩm trên thị trường, yếu
tố cần thiết cho mỗi mặt hàng của DN đó chính là chất lượng sản phẩm. DN nào có
mang lại chất lượng sản phẩm tốt tới thị hiếu người tiêu dùng thì DN đó đã thật sự
thành công. Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm cũng như cuộc chạy đua về lợi
nhuận, chất lượng sản phẩm của DN sản phẩm sẽ được đánh giá qua chất lượng tiêu
dùng sản phẩm của khách hàng. Nâng cao chất lượng sản phẩm + cải tiến về mẫu
mã, bao bì phải luôn có sự mới lạ để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của người
tiêu dùng là điều kiện quan trọng nâng cao cạnh tranh của DN.
Cạnh tranh về giá:
Giá là biểu tượng giá trị sản phẩm dịch vụ trong hoạt động trao đổi trên thị
trường, vì vậy mà không thể thiếu vắng giá trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào.
Cạnh tranh về giá của các DN diền ra gay go và lầ một trong những vần đề mà DN
quan tâm. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền về giá trị lao động sống và giá
trị lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật
cung cầu. Trong nền kinh tế có sự cạnh tranh giữa các DN, khách hàng được tôn là
“Thượng Đế” họ có quyền lựa chọn bất kỳ sản phẩm nào mà họ mong muốn. Khi có
cùng nhiều hàng hóa dịch vụ và chất lượng tương đương nhau, khách hàng tất nhiên
sẽ lựa chọn mặt hàng nào có giá thấp hơn để lợi ích thu được từ sản phẩm là tối ưu.
Do vậy mà giá cả như một biến số phục vụ mục đích kinh doanh của DN.
Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối:
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững vàng đặc trưng kinh
tế khác(WEF- 1997)
Như vậy khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xác định trước hết
bằng mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt( hay thiếu vắng) các
yếu tố quy định tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được
thực hiện. Ví dụ điển hình là Nhật bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế
Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong cảnh mất mua, thiếu thốn. Vậy mà
đến năm 1968 Nhật Bản đã trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế
giớivà được xếp hàng các cường quốc kinh tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng trưởng này
là một trong những đỉnh cao để xác định khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Nhật
Bản.
- Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất: Ông
cho rằng chhỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về khả năng cạnh tranh quốc
gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao sức sống của một đất nước. Xét về
dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng động của
các DN. Do đó cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong
nền kinh tế quốc dân giữ vai trò quyết dịnh cơ bản cho phép công sáng tạo và duy trì
lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể.
• Tiếp cận cạnh tranh ở cấp ngành, cấp công ty:
- Quan điểm của M.Poter: “ Khả năng cạnh tranh là sức sản xuất có hiệu
quả làm cho DN các ngành các địa phương các quốc gia và khu vực phát triển bền
vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
- Theo tác giả Nguyễn Hữu Thắng: “khả năng cạnh tranh là chạy đua, tranh
giành giữa các DN và được thể hiện bằng phương thức cạnh tranh phù hợp”.
- Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm: quan
điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xét cạnh tranh của
một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất. Như vậy
khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được đánh giá cao hay thấp tùy
thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp
của công ty vì ĐTCT khó có thể tìm được và bắt chước. Nguồn lực vô hình bao
gồm: tri thức, sự trung thành của nhân viên, ý tưởng khả năng sáng tạo, kỹ năng
quản lý, kỹ luật công việc, chính sách tuyển dụng đãi ngộ và cách thức hoạt động
của DN. Trong đó:
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
+ Nguồn lực tư duy sáng tạo: ý tưởng kinh doanh, kỷ năng nghiên cứu và
đưa ra sản phẩm mới, kỷ năng sáng tạo;
+ Nguồn lực về danh tiếng thương hiệu gồm: niềm tin từ phía khách hàng,
thương hiệu, sự am hiểu về chất lượng, niềm tin đối với sản phẩm;
Chính sự liên kết các nguồn lực nói trên tạo nên khả năng cạnh tranh của
công ty. Trong trường hợp bị thiếu hay mất cân đối một hoặc một số nguồn lực nào
đó sẽ làm cho sức cạnh tranh của DN giảm đi nhiều.
Trong nền kinh tế khi mà sự cạnh tranh giữa các DN đang ngày càng trở nên
gay gắt việc đánh giá chính xác được nguồn lực và khả năng của DN hay việc tìm ra
được cách sử dụng những nguồn lực đó hiệu quả sẽ có ý nghĩa với DN như: tạo ra
cho DN những khả năng để thành công trên thị trường.
1.2.3 Các cách đánh giá khả năng cạnh tranh
- Từ những ngành nghề khác nhau và các lĩnh vực khác nhau mà người ta
đưa ra các quan điểm đánh giá về khả năng cạnh tranh khác nhau.
Theo Mc.Porter trên quan điểm về chỉ số năng suất: Ông cho rằng chỉ có
chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khả năng cạnh tranh quốc gia. Bởi vì, đây là yếu
tố cơ bản cho việc nâng cao sức sống của một đất nước. Và xét về dài hạn chỉ số
năng suất này phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng của DN. Do đó khả
năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố này, giữ vai trò quyết
định cho phép các công ty sáng tạo và duy trì về khả năng cạnh tranh trên mọi lĩnh
vực cụ thể. Với cách nhìn nhận vấn đề như vậy Mc.Porter đã đưa ra một khuôn khổ
các yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh mà ông gọi đó là “ mô hình Kim Cương” bao
gồm các nhóm được phân chia một cách tương đối:
Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (thể hiện vị thế của một quốc gia về
Thay vì cố gắng xây dựng lợi thế và theo đuổi DN cần đi tiên phong.
Theo phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh DN của diễn đàn kinh
tế thế giới( WEF): do các giáo sư trường Đại Học Havard như: Michael E.Porter,
Jefrey D.Sasch, Andrew M.Warner và các chuyên gia Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới
gồm Peter K.Cornelius, Mache Levinson và Klaus Schwab xây dựng. Đã đưa ra
những chỉ tiêu đánh giá về khả năng cạnh tranh của từng DN:
Theo phương pháp này, khả năng cạnh tranh của DN được đánh giá thông
qua các yếu tố nội tại của DN như: quy mô vốn, khả năng tăng trưởng, sản phẩm,
khả năng quản lý, trình độ công nghệ, nhân lực, uy tín DN, khả năng sản xuất, khả
năng thị trường… Trong đó :
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
- Chỉ tiêu khả năng tài chính: cụ thể gồm quy mô vốn, khả năng sinh lời,
mức độ rủi ro của DN;
- Các chỉ tiêu về khả năng tài chính sẽ giúp đánh giá được sức mạnh nội tại
của DN. Nó thể hiện được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN tốt hay
xấu, có khả năng tồn tại và phát triển hay không;
- Khả năng tài chính là yếu tố quyết định, quan trọng nhất để có thể cải tiến
nâng cao các khả năng phi tài chính;
- Khả năng phi tài chính bao gồm:
* Khả năng sản phẩm dịch vụ: chất lượng, sự đa dạng hoá và tính độc đáo;
* Khả năng công nghệ: Khả năng ứng dụng và đổi mới công nghệ;
* Nguồn nhân lực: số lượng và đội ngũ cán bộ công nhân viên của DN;
* Uy tín DN, thị phần DN, sự tin cậy, quen thuộc với khách hàng..….
Để so sánh khả năng cạnh tranh giữa các DN người ta thường dùng ma trận
đánh giá khả năng cạnh tranh sau:
Bảng 01: Mẫu ma trận đánh giá khả năng cạnh tranh.
Yếu tố so sánh Trọng số
DN A DN B
Điểm phân
bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ cụ thể trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của
sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Theo quan điểm cố điển
thì lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ xuất phát từ sự so sánh các yếu tố cấu
thành nên sản phẩm ( vốn, nguyên liệu, chi phí, giá thành, giá cả..). Thế nhưng quan
điểm đó hiện nay đã bị thay đổi . Nó chú trọng vào chất lượng, tính độc đáo của sản
phẩm, dịch vụ, vào yếu tố công nghệ, chất xám trong sản phẩm…
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp:
1.2.4.1 Nhân tố khách quan:
1.2.4.1.1 Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động SXKD của N, họ
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của DN được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã
định trước. Để giảm tính độc quyền và sức ép từ các nhà cung cấp, các DN phải biết
tìm đến các nguồn lực đáng tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý với phương châm là đa
dạng hóa các nguồn lực các nguồn cuung cấp, thực hiện nguyên tắc “ không bỏ tiền
vào một ống” hay “ trứng không bỏ hết vào một giỏ”… Mặt khác trong quan hệ này
DN nên tìm cho mình một nhà cung cấp chính có đầy đủ sự tin cậy, nhưng phải luôn
tránh sự lệ thuộc, cần phải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình. Như vậy DN cần
phải thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp để họ cung cấp đầy đủ về số
lượng.
1.2.4.1.2 Đối thủ cạnh tranh:
ĐTCT là các doanh nghiệp hiện đang hoặc sẽ thâm nhập vào các hoạt động
trong các lĩnh vực như: sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ …
ĐTCT được phân chia thành các loại như: ĐTCT hiện tại và ĐTCT tiềm ẩn.
Việc phân tích các ĐTCT chủ yếu dựa vào các yếu tố dự đoán như sơ đồ
dưới đây:
SVTH: Huỳnh Thị Kim Đài Trang:16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Đặng Thị Thanh Loan
Sơ đồ 03: sơ đồ phân tích các ĐTCT
Phản ứng của ĐTCT
ĐTCT có thỏa mãn với
vị thế hiện tại của mình
ĐTCT có thể thực hiện
những bước đi hơcj
thay đổi những chiến
lược gì?
Điều gì có thể gây ra
sự trả đũa mạnh mẽ và
hiệu quả nhất từ phía
ĐTCT
Phản ứng của ĐTCT
ĐTCT có thỏa mãn với
vị thế hiện tại của mình
ĐTCT có thể thực hiện
những bước đi hơcj
thay đổi những chiến
lược gì?
Điều gì có thể gây ra
sự trả đũa mạnh mẽ và
hiệu quả nhất từ phía
ĐTCT