Chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp - Pdf 25


A. LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm với hình thức sơ khai ban đầu của nó là sự chia sẻ rủi ro, là khát khao hạn chế rủi
ro của con người trước những biến động khách quan muôn hình vạn trạng của cuộc sống, đẩy con
người vào những tình huống bất lợi. Song hành cùng với những bước tiến của xã hội, bảo hiểm
cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ nhờ hai bánh xe động lực là (i) sự xuất hiện và ngày càng mở
rộng về quy mô của các khoản tài sản nhàn rỗi trong xã hội và (ii) nhu cầu quản lý + sinh lời từ
các quỹ dự trữ, với sự cầm chừng, không tách rời bản chất của trục bánh xe (nhu cầu hạn chế và
chia sẻ rủi ro) đã đưa bảo hiểm lên một tầm cao mới, một vai trò mới, mà điển hình cho sự phát
triển đó là sự xuất hiện và ngày càng đa dạng hóa, tự do hóa của một loại thị trường là thị trường
kinh doanh bảo hiểm.
Kinh doanh bảo hiểm (hay bảo hiểm thương mại, dịch vụ bảo hiểm… là những phạm trù
mặc dù không đồng nhất nhưng có nhiều nét tương đồng nên về cơ bản, ta có thể sử dụng thay
thế được) ở Việt Nam so với các nước phát triển có một khoảng cách khá lớn. Tuy nhiên, về cơ
bản thì thị trường kinh doanh bảo hiểm Việt Nam cũng như thế giới đều đang tồn tại và phát triển
3 loại hình bảo hiểm dựa trên tiêu chí đối tượng bảo hiểm, đó là: Bảo hiểm con người; bảo hiểm
tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS).
Trong 3 loại hình bảo hiểm trên thì Bảo hiểm TNDS là loại hình bảo hiểm mà pháp luật thực
định của Việt Nam còn thiếu những quy định rõ ràng, hệ thống để điều chỉnh loại quan hệ bảo
hiểm này – đặc biệt là Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (TNNN) bởi pháp luật Kinh doanh bảo
hiểm của Việt Nam đang có xu hướng để ngỏ mảng quan hệ này cho pháp luật chuyên ngành và
thị trường bảo hiểm tự điều chỉnh.
Với tham vọng phác họa nên những nét cơ bản nhất về chế độ bảo hiểm TNNN của Việt
Nam hiện nay dưới cả 2 bình diện pháp lý và thực tiễn, em đã nỗ lực tìm hiểu và thực hiện đề tài:
‘Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và thực tế hiện nay, từ đó cho ý kiến và đề
xuất giải pháp hoàn thiện chế độ bảo hiểm này’.
Sự bỏ ngỏ của pháp luật kinh doanh bảo hiểm (KDBH) cho pháp luật chuyên ngành khác và
thị trường KDBH điều chỉnh quan hệ bảo hiểm TNNN là khó khăn lớn nhất của em khi thực hiện
đề tài này. Vậy nên, sự thiếu sót là không thể tránh khỏi. Rất mong quý thầy cô đóng góp ý kiến
chân thành để giúp em cải thiện kiến thức về mảng đề tài này. Em xin trân trọng cảm ơn!
B. PHẦN NỘI DUNG

Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm TNNN là phần trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường
các thiệt hại của bên thứ ba mà bên được bảo hiểm phải gánh vác
2
nên có tính trừu tượng cao,
bởi lẽ: trách nhiệm đó là bao nhiêu không thể xác định được ngay khi tham gia bảo hiểm và cũng
không chắc chắn sẽ phát sinh nghĩa vụ dân sự đó trong tương lai. Thông thường, trách nhiệm
pháp lý phát sinh khi có đủ bốn yếu tố: (i) có thiệt hại thực tế của bên thứ ba; (ii) có hành vi trái
pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức được bảo hiểm; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức được bảo hiểm và thiệt hại của bên thứ ba; (iv) có yêu cầu
đòi bồi thường của người thứ ba bị thiệt hại. Mức độ thiệt hại sẽ được tính dựa trên mức độ lỗi
của người gây ra thiệt hại và thiệt hại của người thứ ba.
2.2. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thường được thực hiện dưới hình thức bắt buộc
1 />ha-noi/download
2 Áp dụng tương tự Điều 4 Nghị định Số: 102/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về bảo hiểm trách nhiệm trong khám
bệnh, chữa bệnh
2

Bảo hiểm TNNN ngoài việc đảm bảo ổn định tài chính cho người được bảo hiểm (i) thì
còn mục đích khác là (ii) bảo vệ quyền lợi cho phía người bị tổn thất, (iii) bảo vệ lợi ích công
cộng và an toàn xã hội. Vì vậy, loại hình bảo hiểm này thường được quy định bắt buộc trong 3
lĩnh vực cơ bản là:
- (i) Những hoạt động mà chỉ những sơ suất cá nhân nhỏ, đơn giản có thể dẫn đến những
thiệt hại về con người trầm trọng. Vi dụ: hoạt động săn bắn, hoạt động điều trị y tế,…;
- (ii) Những hoạt động dịch vụ, sản xuất có nguy cơ gây ra tổn thất cho nhiều nạn nhân
trong cùng sự cố. Ví dụ: kinh doanh vận chuyển hành khách, tổ chức thi đấu, biểu diễn thể thao
mạo hiểm, hoạt động khai thác đường ống dẫn khí đốt – nhiên liệu, bức xạ…;
- (iii) Những hoạt động cung cấp “dịch vụ trí tuệ” có thể gây thiệt hại lớn về tài chính. Ví
dụ: tư vấn thiết kế, giám sát thi công xây lắp, kiểm toán, tư vấn luật,…
3
2.3. Có thể áp dụng trách nhiệm giới hạn hoặc không giới hạn đối với Bảo hiểm trách nhiệm

- Bảo hiểm TNNN công chứng;
- Bảo hiểm TNNN giám định;
- Bảo hiểm TNNN xây dựng;
- Bảo hiểm TNNN môi giới chứng khoán, bất động sản…v…v
II. PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP
1. Cơ sở pháp lý về chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định thống nhất về chế độ pháp lý của bảo
hiểm TNNN. Sự quy định này nằm rải rác ở rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau. Nhìn
chung, việc phân chia bảo hiểm TNNN thành bảo hiểm TNNN bắt buộc và bảo hiểm TNNN tự
nguyện không còn phù hợp nữa, mà thay vào đó, ta sẽ thay đổi cách phân loại có bản chất pháp lý
tương tự, nhưng tên gọi thì khác để phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện nay, đó là:
- (i) Bảo hiểm TNNN là điều kiện kinh doanh (bắt buộc);
- (ii) Bảo hiểm TNNN không phải là Điều kiện kinh doanh (tự nguyện).
Sự phân loại trên có cơ sở khoa học và logic bởi căn cứ pháp lý quy định tại khoản 2 Điều 8
Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật doanh nghiệp:
‘2. Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức:
a) Giấy phép kinh doanh;
b) Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;
c) Chứng chỉ hành nghề;
d) Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;
đ) Xác nhận vốn pháp định;
e) Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
g) Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh
ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
4

Phân tích Điều luật trên, ta nhận thấy, Điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp nói
riêng, tổ chức kinh tế nói chung gồm 2 nhóm điều kiện: (i) các điều kiện để được cấp Giấy chứng

công chứng viên cho Sở Tư pháp’. (Khoản 5 Điều 33, Điều 37 Luật Công chứng năm 2014);
- Bảo hiểm TNNN đối với thẩm định viên thẩm định giá: ‘2. Nghĩa vụ của doanh nghiệp
thẩm định giá:
5

d) Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động thẩm định giá hoặc trích lập
quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp’ (điểm d khoản 2 Điều 42 Luật giá 2012);
- Bảo hiểm TNNN luật sư: ‘Điều 40. Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư:
6. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của
pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.’ (Khoản 5 Điều 5, khoản 6 Điều 40 Luật Luật sư năm 2006,
sửa đổi 2012);
Ngoài ra còn hàng loại các bảo hiểm TNNN khác được quy định rải rác ở rất nhiều các
văn bản dưới luật như:
- Nghị định số 30/2014/NĐ-CP ngày 14/4/2014 của Chính phủ về điều kiện kinh
doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển;
- Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 về kinh doanh và điều kiện kinh doanh
vận tải bằng xe ô tô;
- Nghị định Số 102/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2011 về bảo hiểm trách nhiệm
trong khám bệnh, chữa bệnh;
- Thông tư Số 13/2012/TT – BTC ngày 7 tháng 2 năm 2012 Quy định về bảo hiểm bắt
buộc bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về môi trường đối với tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ…
Đối vố các ngành nghề khác, dựa trên nhu cầu của thị trường mà các DNBH có thể xây
dựng các sản phẩm bảo hiểm TNNN khác để cung cấp cho khách hàng. Đa phần, các ngành
nghề mà bảo hiểm TNNN hướng tới là các ngành nghề xoay quanh 23 phân ngành hàng hóa và
46 phân ngành dịch vụ được quy định tại phụ lục III (Danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có
điều kiện) của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ Quy định
chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh
doanh có điều kiện.
2. Các nội dung pháp lý cơ bản về chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

5
Như vậy, tay nghề yếu không thuộc phạm vi bảo hiểm TNNN. Do vậy, khi khai thác hoặc
giải quyết bồi thường phải tuân thủ những yêu cầu về khai báo kinh nghiệm và năng lực chuyên
môn của những người tham gia bảo hiểm.
2.3. Các nguyên tắc bồi thường
DNBH sẽ thực hiện việc bồi thường nếu như thỏa mãn các điều kiện sau:
- Thứ nhất, có lỗi của người được bảo hiểm bởi các DNBH chỉ bảo hiểm trách nhiệm pháp
lý phát sinh từ sự bất cẩn trong quá trình thực hiện công việc và sự bất cẩn này có thể gây ra thiệt
hại cho người thứ ba, tức là nếu trong sự việc xảy ra xét thấy không có yếu tố lỗi của người được
bảo hiểm thì công ty bảo hiểm sẽ không tiến hành bồi thường;
- Thứ hai, nghĩa vụ bồi thường được bảo hiểm khi trách nhiệm đó phát sinh phù hợp với
sự kiện bảo hiểm đã dự liệu trước và xảy ra khi hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực;
- Thứ ba, có yêu cầu của người thứ ba bị thiệt hại đối với người mua bảo hiểm, vấn đề bảo
hiểm chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của người bị thiệt hại đòi bồi thường. Trong trường hợp
4 Áp dụng tương tự Điều 11 về Đối tượng bảo hiểm trong Thông tư Số: 13/2012/TT-BTC ngày 7/2/2012 của Bộ tài chính Quy định về bảo
hiểm bắt buộc bảo hiểm nghề nghiệp
5 Ạp dụng tương tự Điều 5 Nghị định Số 102/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Chính Phủ Về bảo hiểm trách nhiệm trong
khám, chữa bệnh
7

có thiệt hại, có lỗi của người được bảo hiểm nhưng đã giải quyết được và người thứ ba không
yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường thì DNBH không phải bồi thường và trong trường hợp
này, người được bảo hiểm không được đòi công ty bảo hiểm bồi thường bởi người được bảo
hiểm không có thiệt hại gì đối với sự việc xảy ra. Đồng thời, người thứ ba cũng không được trực
tiếp yêu cầu DNBH bồi thường bởi doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm trực tiếp đối với
người được bảo hiểm, vì thế, người thứ ba sẽ đòi bồi thường đối với người được bảo hiểm và
người được bảo hiểm có nghĩa vụ trình bày yêu cầu bảo hiểm với DNBH - lúc này, DNBH sẽ
xem xét và tiến hành bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trong trường hợp có bất kì sự cố nào có thể dẫn đến một khiếu nại đòi bồi thường theo
đơn bảo hiểm hoặc trong trường hợp có vấn đề nào khác liên quan đến sự cố đó mà có lý do để


định bồi thường nếu nó không rơi vào các trường hợp bị từ chối bảo hiểm. Các trường hợp từ
chối bảo hiểm có thể là:
- Khi không thỏa mãn đủ các điều kiện bồi thường: Như đã phân tích, có ba điều kiện
được xét khi tiến hành bồi thường, trường hợp được bồi thường là nhưng trường hợp thỏa mãn
đầy đủ cả ba điều kiện đó. Vì vậy, khi không phù hợp với một trong ba điều kiện đó thì sẽ không
được DNBH bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra;
- Hậu quả của chiến tranh, xâm lược, hành động nước ngoài, các hoạt động thù địch (dù có
tuyên chiến hay không), nội chiến, các hoạt động khủng bố, bạo loạn, cách mạng, khởi nghĩa,
tiếm quyền quân sự;
- Hậu quả của bất kì hành vi không trung thực, hành vi cố tình, hành vi tôi phạm hoặc bất
kì hành vi bất hợp pháp nào của người được bảo hiểm hoặc người làm thuê cho họ;
- Bất kì hợp đồng nào trong đó người được bảo hiểm hoạt động với tư cách nhà thầu, nhà
sản xuất hoặc nhà cung cấp cho dù có liên hệ với nghề nghiệp được nêu trong phụ lục hay không;
- Bất cẩn, sai sót hoặc thiếu sót của người được bảo hiểm trong việc thực hiện hoặc duy trì
bảo hiểm hoặc trong việc cung cấp tài chính;
- Thiệt hại về thân thể mà bất kì ngươi nào phải gánh chịu phái sinh từ và trong quá trình
người đó thực hiện các công việc do người được bảo hiểm thuê mướn theo một hợp đồng làm
việc hay học nghề được kí với người được bảo hiểm.
7
2.5. Cơ sở tính phí bảo hiểm
Về cơ bản, Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải nộp cho doanh nghiệp
bảo hiểm khi mua bảo hiểm. Phí bảo hiểm do bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thoả
thuận trên cơ sở đánh giá rủi ro được bảo hiểm và các yếu tố liên quan nhưng phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
- Được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê. Trường hợp chưa có số liệu thống kê thì có
thể nghiên cứu, tham khảo và dựa trên kinh nghiệm quốc tế, bản chào của các nhà tái bảo hiểm
nước ngoài;
- Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm;
- Phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm.

năm 2010) thì bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là bắt buộc đối với các hoạt động tư vấn pháp
lý và môi giới bảo hiểm. Nhưng trong thực tế, các công ty bảo hiểm cũng đã cho ra đời các loại
sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với các ngành nghề khác như: bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp đối với luật sư, kiến trúc sư, kiểm toán, bác sĩ, công chứng, giám định…:
+ Số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tháng 9/2010 cho thấy, các nghiệp vụ có tốc độ
tăng trưởng cao thì bảo hiểm trách nhiệm chung (bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp) là 323 tỷ đồng (tăng 42,7%) so bới tháng 9/2009 và đứng hạng 3
về tốc độ tang trưởng.
+ Sản phảm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đang dần được chú ý, đối với tùng ngành
nghề khác nhau, nó đang dần được triển khai một cách rộng rãi. Ví dụ như cuối năm 2011, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 102 quy định về bảo hiểm trách nhiệm trong khám chữa bệnh. Theo
lộ trình dự kiến, chậm nhất đến cuối tháng 12/2015, các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, bệnh
viện y học cổ truyền phải mua bảo hiểm trách nhiệm trong khám, chữa bệnh. Đến cuối tháng
12/2017, các cơ sở khám, chữa bệnh phải mua bảo hiểm trách nhiệm trong khám, chữa bệnh.
Hiện tại, các văn bản hướng dẫn đang được các cơ quan chức năng soạn thảo. Như vậy, cơ hội
cho sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề y trong thời gian tới là rất lớn. Nắm bắt thực tế này,
cuối năm 2011, Bảo hiểm AAA đã liên kết với Medika cho ra đời sản phẩm Bảo hiểm trách
nhiệm y an nghiệp. So với các sản phẩm thông thường khác, Bảo hiểm y an nghiệp không những
bảo hiểm cho các tai biến do sai sót chuyên môn của y, bác sĩ, mà còn bảo hiểm thêm cho các tai
biến trong khám và chữa bệnh không do sai sót chuyên môn….
10

- (ii) Các DNBH ngày càng đa dạng hóa loại hình bảo hiểm TNNN: Các công ty bảo hiểm
đứng đầu về nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói chung là: Bảo Việt, PVI, PJICO và
AIG Việt Nam. Các công ty bảo hiểm đang từng bước đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp với nhiều loại ngành nghề hơn nữa như: Bảo Việt triển khai bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho kiến trúc sư và kỹ sư tư vấn; Bảo hiểm Bảo Minh Hà Nội cung cấp bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên; Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC)
triển khai sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp áp dụng cho các cá nhân, tổ chức hành
nghề chuyên môn như kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn thiết kế, luật sư, bác sĩ, công chứng viên, giám

11

chia sẻ. Trên thực tế, không chỉ lĩnh vực kinh doanh vàng nhiều rủi ro và còn khá mới mẻ tại Việt
Nam, nhiều nghề nghiệp mang tính truyền thống vẫn chưa được các DNBH khai thác đúng mức
như:
+ Nghề công chứng: Hiện tại, ở Việt Nam nhiều công chứng viên không mua hoặc không
muốn mua. Tại Hà Nội, mới có 5 văn phòng công chứng tư mua bảo hiểm.
+ Hay như nghề kiểm toán: Theo quy định tại Thông tư 64/2004/TT-BTC, các công ty
kiểm toán phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiểm toán hoặc lập quỹ dự phòng rủi ro
nghề nghiệp để tạo nguồn chi trả bồi thường thiệt hại do lỗi của công ty gây ra cho khách hàng và
người sử dụng kết quả kiểm toán. Vậy nhưng, theo thống kê của Hội Kiểm toán viên hành nghề
Việt Nam, hiện nay mới có 1/3 công ty kiểm toán có quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp, 12 công ty
mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Trong số công ty kiểm toán đã mua bảo hiểm thì 100%
là DN có vốn nước ngoài hoặc các công ty trong nước là thành viên của các hãng kiểm toán nước
ngoài, trong khi hoàn toàn vắng bóng DN trong nước. Trong số hơn 150 công ty kiểm toán đang
hoạt động hiện nay, con số trên quả thực ít ỏi.
Hiện nhiều công ty kiểm toán trong nước khi trở thành thành viên của các hãng kiểm toán
nước ngoài đều thực hiện mua bảo hiểm ở mức cao. Chẳng hạn, năm 2008 Công ty TNHH
Deloite Việt Nam mua bảo hiểm nghề nghiệp của Công ty Bảo hiểm Nautilus Indemnity
Holdings là 97.613 USD/năm; Công ty UHY Việt Nam đang dự kiến mua với mức 20.000
USD/năm. Hiện nay, trong số 150 công ty kiểm toán đang hoạt động thì có 24 công ty là thành
viên của các hãng nước ngoài. Với quy định bắt buộc các đơn vị này phải mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp, rõ ràng “sân chơi” không phải không có, nhưng các doanh nghiệp trong nước
đang “nhường” cho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Tuy nhiên, phần lớn các công ty
kiểm toán Việt Nam vẫn lựa chọn phương án trích lập quỹ dự phòng thay vì mua bảo hiểm. Sở dĩ
có thông lệ này là do sản phẩm bảo hiểm này chưa có sức hút tại Việt Nam và cũng chưa có cơ sở
pháp lý rõ ràng để xác định giá trị trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên, từ đó xác định
giá trị mà bảo hiểm sẽ chi trả.
+ Một lĩnh vực nữa các DNBH hoàn toàn có thể tham gia, đó là bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp của trong lĩnh vực chứng khoán. Vừa qua, một loạt công ty Chứng khoán bị Ủy ban

dạng của các hoạt động nghề nghiệp cũng như đối tượng tác động của nghề nghiệp - ví dụ như
bác sĩ có thể bất cẩn gây nên chết người, hay kế toán có thể tính toán sai, thực hiện sai nghiệp vụ
dẫn đến thất thoát của công ty với số lượng tiền lớn…
- (ix) Hành lang pháp lý còn thiếu và yếu: lĩnh vực này iềm ẩn những rủi ro liên quan đến
trục lợi bảo hiểm, do hành lang pháp lý về lĩnh vực này chưa thực sự chặt chẽ, rải rác, phân tán.
Trong khi đó, cách tính phí bảo hiểm chưa thống nhất, cụ thể, cũng là nguyên nhân khiến các
DNBH vẫn dè dặt khi triển khai…
IV. CÁC BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THÚC ĐẨY
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Hoàn thiện chế độ pháp lý về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
- Thứ nhất: Nên bỏ quy dịnh liệt kê hai ngành nghề phải mua bảo hiểm bắt buộc tại Điều 8
Luật KDBH bởi quy định này không còn ý nghĩa pháp lý và nên sửa theo hướng quy định là:
‘Một số bảo hiểm trách nhiệm theo quy định của pháp luật chuyên ngành’.
- Thứ hai: Cơ cơ chế pháp điển hóa các ngành nghề phải mua bao hiểm bắt buộc trong
một văn bản dưới luật để dễ áp dụng, triệt tiêu sự manh mún, rời rạc, phân tán hiện nay. Đồng
thời quy định trong đó các vấn đề pháp lý cơ bản như trình bày trong phần II theo hướng định
khung để thị trường bảo hiểm tự điều chỉnh định mức trong định khung mà pháp luật cho phép.
13

- Thứ ba: Phải thanh tra chuyên ngành ngay các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có
điều kiện về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để khắc phục tình trạng bỏ sót do doanh nghiệp
hoạt động trước khi luật được ban hành.
- Thứ tư: Dần dần mở rộng các ngành nghề phải mua bảo hiểm TNNN theo xu thế phủ kín
có lộ trình các ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định tại phụ lục III Nghị định
59/2006.
- Thứ năm: Nhà nước có vai trò rất lớn trong quản lý phát triển hoạt động kinh doanh bảo
hiểm nước ta. Vì thế, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống pháp luật với những quy định cụ thể,
cứng rắn hơn về các chế tài xử lý khi có vi phạm xảy ra. Thực tế cho thấy, khi có sự trục lợi bảo
hiểm thì hầu hết các chế tài xử lý chưa mạnh tay. Hơn nữa, cần có những quy định thống nhất
trong cách tính phí bảo hiểm để tạo ra một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh đảm bảo sức hút đối với các

bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
C. LỜI KẾT
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là loại bảo hiểm đang dần được sự quan tâm của xã hội
mặc dù thực tế nó vẫn chưa đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên không thể phủ nhận tầm quan
trong của nó trong đời sống, đặc biệt là đối với những người có nghề nghiệp luôn tiềm ẩn những
rủi ro lớn. Phát triển bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ để
phát triển thị trường bảo hiểm mà còn đảm bảo được đời sống xã hội ổn định.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Giáo trình: Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam – TS Phạm Văn
Tuyết – NXB Tư pháp – Hà Nội – 2007;
2, Luận văn: Nhu cầu của thị trường đối với với sản phẩm trách nhiệm bảo hiểm nghề
nghiệp;
3. Các văn bản quy phạm pháp luật trong bài
4. Một số website:
www.webbaohiem.vn
www.taichinh247.vn
www.vacpa.org.vn
www.baomoi.com.vn
15

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status