Những giải pháp mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhằm ngăn chặn suy giảm và kích thích kinh tế trước tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu - Pdf 25

Họ tên: Nguyễn Trung Dũng
Lớp: Cao học Kinh tế K5
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: Tài Chính Phát Triển
Đề tài: Những giải pháp mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện
nhằm ngăn chặn suy giảm và kích thích kinh tế trước tác động tiêu cực
của cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu
Bài Làm
Cho đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính đã tác động lan toả khắp các
châu lục và thấm sâu vào hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khủng hoảng tài
chính đang chuyển dần sang khủng hoảng kinh tế. Cả thế giới đang nỗ lực ứng
phó với cuộc khủng hoảng này, nhưng những dự báo gần đây nhất do Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra cho thấy, kinh tế toàn cầu
đang có dấu hiệu phục hồi
1. Thế giới ứng phó với khủng hoảng tài chính - kinh tế
Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính - kinh tế, hầu hết các nước đều thực
hiện đồng bộ 2 công cụ chính sách tài khoá và tiền tệ. Một mặt, kích thích tiêu
dùng chính phủ và kích thích tiêu dùng trong dân cư; mặt khác, giảm bớt khó
khăn, giảm chi phí và giá thành cho các doanh nghiệp để có sản phẩm cạnh
tranh hơn, giá rẻ hơn theo hướng tăng tổng cầu có khả năng thanh toán trên đơn
vị hàng hoá. Đồng thời, trên thị trường tài chính, tập trung vào hỗ trợ và củng cố
lại các định chế tài chính đã bị tổn thất do khủng hoảng tài chính gây ra như
phối hợp giảm lãi suất, bơm mạnh cung tiền, cứu trợ trực tiếp các ngân hàng và
tổ chức tài chính….
Cho đến nay, hàng loạt gói kích cầu khẩn cấp có giá trị lớn được chính phủ
các nước thông qua nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế. Ngày 17-2-2009,
Tổng thống Mỹ đã ký Luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ (ARRA) với tổng trị giá
787 tỉ USD, bằng 6% GDP của nước Mỹ. Mục tiêu của gói kích thích kinh tế
thứ 2 này là nhằm tạo 3,5 triệu việc làm, giảm nhẹ tác động bất lợi của cuộc
khủng hoảng đối với người thu nhập thấp; kích thích đầu tư và tiêu dùng để
phục hồi tăng trưởng kinh tế trong 2 năm tới. 65% giá trị của gói kích thích này

Mặc dù hệ thống ngân hàng của Nhật Bản hiện nay không bị nguy cơ đổ
vỡ như của Mỹ và EU, nhưng các ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế bị đình
trệ do xuất khẩu sụt giảm mạnh. Đến nay, Nhật Bản đã công bố gói kích thích
kinh tế 117 tỉ USD trong quý 4/2008 với mục tiêu tạo 1,5 triệu việc làm trong 3
năm, hỗ trợ tiêu dùng các doanh nghiệp vừa và nhỏ; giảm thuế, đầu tư phát triển
giao thông, trợ giá nhiên liệu, lương thực….
2
Để đối phó với khủng hoảng, chính phủ Hàn Quốc đã nhanh chóng thực
hiện “chính sách kinh tế - xã hội mới” với chi phí 38 tỉ USD, nhằm phát triển cơ
sở hạ tầng để tăng việc làm, tạo điều kiện cho ngành xây dựng cũng như kinh tế
địa phương phát triển. Ngoài ra chính phủ nước này đã tuyên bố kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội xanh để tạo 96 ngàn việc làm cho đến năm 2012. Hàn Quốc
muốn thông qua những kế hoạch này trước mắt là tạo việc làm, song về lâu dài
để nhằm củng cổ các nền tảng cho sự phát triển sau khủng hoảng.
Trung Quốc gây ngạc nhiên cho toàn thế giới khi công bố gói kích thích tài
chính trị giá 4000 tỉ NDT (tương đương 586 tỉ USD) đến năm 2010 với 10 giải
pháp và các hạng mục đầu tư khá rạch ròi, bao gồm: xây dựng các công trình
đảm bảo đảm đời sống, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đường sắt, đường
bộ, sân bay; tăng chi cho phát triển y tế, giáo dục, môi trường sinh thái; phục hồi
khu vực động đất; điều chỉnh cơ cấu; cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng;
cải tạo kỹ thuật, giảm thuế cho các doanh nghiệp, tăng mức hỗ trợ tài chính -
tiền tệ. Chính sách kích cầu của Trung Quốc nhìn chung khá linh hoạt và tỏ ra
có hiệu quả bước đầu. Có sự phân biệt đối tượng hưởng thụ chính sách, không
tràn lan, hướng nhiều đến cải cách hành chính, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế,
khu vực nông thôn, lao động, việc làm và y tế, giáo dục.
Các nước ASEAN chưa chịu tác động trực tiếp, nhưng khủng hoảng tài
chính đã làm bộc lộ điểm yếu của các nước này là lệ thuộc nhiều vào thị trường
xuất khẩu (Mỹ, châu Âu) và chưa thực sự chú trọng thị trường trong nước. Vì
vậy, các biện pháp kích thích của các nước đều hướng vào kích thích nhu cầu
trong nước; giải quyết việc làm, tăng cường đổi mới và nâng cao năng lực cạnh

phương cần khẩn trương triển khai ngay thành các chương trình hành động cụ
thể để chủ động ứng phó trước việc sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút
do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Nghị quyết nêu rõ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009 khoảng 6,5%. Để
thực được mục tiêu trên, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương phải cấp bách là
tập trung mọi nỗ lực thực hiện:
a. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu
Đây là nhóm giải pháp được đặt ra đầu tiên trong Nghị quyết, bao gồm 11
nhóm công việc cụ thể giao cho các Bộ, ngành, địa phương. Trước hết, trong
năm 2009, phải tập trung hoàn thành và triển khai thực hiện các chương trình, đề
án đã được giao để thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về nông
nghiệp, nông dân và nông thôn. Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ
trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, ưu
tiên hỗ trợ ngành hàng sản xuất, có lợi thế thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng
nguồn liệu trong nước, sử dụng nhiều lao động.
4
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao chủ trì phối hợp với Bộ
Tài chính và các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ mức tiền hỗ trợ
giống lúa, hoa màu, gia súc, gia cầm, thủy sản cho nông dân để khôi phục sản
xuất ở các vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
Bộ Công Thương nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ khuyến khích các
tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất, chế tạo sản phẩm ngành Công nghiệp, đủ
điều kiện thay thế hàng nhập khẩu, trình Thủ tướng trong tháng 12/2008.
Bộ Công Thương trình Thủ tướng phê duyệt Đề án đẩy mạnh xuất khẩu,
kiềm chế nhập siêu giai đoạn 2009 - 2010 trong tháng 1/2009.
Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch nâng cấp các sân bay tại các địa
phương có điểm du lịch quốc gia.
Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an trình Chính phủ xem xét
miễn thị thực nhập cảnh cho khách du lịch đối với các thị trường tiềm năng.
b. Kích cầu tiêu dùng và đầu tư

trước ngày 31/12/2008; bổ sung các dự án cấp bách khác trong các lĩnh vực giao
thông, thủy lợi, y tế, giáo dục để triển khai thực hiện.
Tạm ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư,
xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, nâng cao năng lực phòng chống lụt bão
vùng đồng bằng sông Hồng…
Thứ năm, Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì ban hành các biện pháp cụ thể
nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân cách nguồn vốn FDI và
ODA, nhất là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản
phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết việc làm;
phấn đấu năm 2009 thực hiện giải ngân các nguồn vốn trên không thấp hơn mức
thực hiện trong năm 2008.
Thứ sáu, Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính
phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 12/2008 cho phép cấp
quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 5
tỷ đồng/dự án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chịu trách
nhiệm về các quyết định của mình.
Thứ bảy, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các
dự án, công trình có quy mô lớn được tạo điều kiện tối đa về đất đai, tiếp cận
nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lãi suất…
Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự án,
công trình đầu tư hạ tầng quan trọng như cảng biển, điện, đường cao tốc, thủy
lợi, trường học, cơ sở y tế… để góp phần đẩy nhanh tiến độ và kế hoạch xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của đất nước.
Thứ tám, trong tháng 12/2008, Bộ Xây dựng trình Chính phủ Đề án xây
dựng quỹ nhà ở xã hội giai đoạn 2009 – 2015; Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình
Chính phủ ban hành cơ chế phù hợp để đảm bảo khuyến khích đầu tư xây dựng
nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp
6
 Đối với kích cầu tiêu dùng, Chính phủ xác định 4 giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt

gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.
Thứ tư, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả; điều chỉnh linh
hoạt tỷ giá ngoại tệ theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát
7
nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đầu điều hành cán cân thanh toán quốc
tế theo hướng không để thâm hụt.
Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại xem
xét điều chỉnh áp dụng lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống phù
hợp theo mức lãi suất hiện hành; không phạt do quá hạn đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ khó khăn.
Ngoài ra, Chính phủ cũng giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nhiệm
vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ tốt hơn cho
các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh,
tạo thêm việc làm.
 Giảm, giãn thuế cho nhiều đối tượng
Về lĩnh vực tài chính, Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính tập trung triển khai
ngay nhóm 9 giải pháp phục vụ mục tiêu Nghị quyết đặt ra.
Thứ nhất, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý
4/2008 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009 đối với thu nhập từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ hai, giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9
tháng đối với số thuế phải nộp năm 2009 của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (70%
số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia
công, chế biến nông, lâm, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử
Thứ ba, tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa
thực xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua
ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán.
Thứ tư, điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên, khoáng
sản và trình Chính phủ sửa đổi thuế suất thuế tài nguyên theo hướng hạn chế
xuất khẩu, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.

toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta, làm cho sản xuất, kinh doanh
và xuất khẩu giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và đời sống nhân dân.
Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới, Chính phủ xác định phải
tập trung điều hành thực hiện mục tiêu tổng quát và các giải pháp của kế hoạch
năm 2009 mà Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư đã thông qua, trong đó nhiệm vụ
trọng tâm, cấp bách là phải tập trung mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy
giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu
tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế năm 2009.
Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách nói trên, Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2008 về những giải pháp cấp
bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an
sinh xã hội với 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và
xuất khẩu; (2) Thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng; (3) Chính
9
sách tài chính và tiền tệ; (4) Bảo đảm an sinh xã hội; (5) Tăng cường công tác
điều hành, tổ chức thực hiện chính sách.
Việc triển khai các gói giải pháp chống suy giảm kinh tế do Chính phủ đưa
ra, đã mang lại cho nền kinh tế những dấu hiệu tích cực bước đầu: mặc dù nền
kinh tế tiếp tục chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế
giới cùng với đó là thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh trong nước, nhưng với sự chỉ
đạo quyết liệt của Chính phủ, nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn dân, tình
hình kinh tế xã hội tháng 4 đầu năm 2009 tiếp tục có chuyển biến theo chiều
hướng tích cực trong hầu hết các ngành. Thể hiện rõ nhất là sản xuất công
nghiệp tăng trưởng liên tục trong 3 tháng qua, riêng tháng 4 tăng 5,4% so với
cùng kỳ năm 2008. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tháng 4 tăng
trên 20%. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định.
Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm cũng đạt gần
40.000 tỷ đồng, tăng hơn 8 % so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là những kết quả
tích cực sau khi triển khai một loạt các chính sách hỗ trợ sản xuất, kích cầu đầu

động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đối với hoạt động kinh
doanh, thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng cường huy động vốn, mở rộng
tín dụng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng lãi suất cho
vay hợp lý trong điều kiện sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn; cơ cấu lại thời
hạn trả nợ, miễn giảm lãi vốn vay, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay và không
phạt quá hạn theo cơ chế hiện hành; tăng cường kiểm tra, kiểm toán nội bộ, thực
hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Yêu cầu các ngân hàng thương mại nhà
nước xem xét, chủ động giảm lãi suất cho vay các khoản nợ được ký kết trước
đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành để thúc đẩy cạnh tranh, giảm lãi suất
cho vay; phối hợp với Hiệp hội ngân hàng để chỉ đạo, khuyến khích các ngân
hàng thương mại thực hiện các giải pháp tăng cường huy động vốn, mở rộng tín
dụng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, giảm lãi suất cho vay
nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.
Nhìn chung, phản hồi của các bộ, ngành và địa phương, doanh nghiệp và
người dân cho thấy, cơ chế hỗ trợ lãi suất do Thủ tướng Chính phủ ban hành là
giải pháp kích cầu phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế và được triển khai kịp
thời, có tác động thiết thực đối với các tổ chức và cá nhân để khắc phục khó
khăn, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động; đồng
thời, cũng hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại khắc phục khó khăn, giữ được
an toàn hoạt động kinh doanh; cơ chế này nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng
rãi trong xã hội.
Cơ chế hỗ trợ lãi suất được ban hành và phổ biến một cách công khai, rõ
ràng, minh bạch và có tính giám sát cao đối với các ngân hàng thương mại thực
hiện và đối tượng thụ hưởng là tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất,
kinh doanh; các ngân hàng thương mại đã khẩn trương thực hiện bằng việc ban
11
hành cơ chế nghiệp vụ, làm tốt công tác thông tin truyền thông đối với khách
hàng vay.
Nhằm kích thích tăng trưởng, phòng ngừa suy giảm kinh tế, Chính phủ đã
sử dụng cả chính sách tài khóa và tiền tệ. Trong phạm vi của chính sách tài

Chính phủ là một giải pháp tốt, tuy nhiên, trong quá trình triễn khai còn có một
số hạn chế cần khắc phục như sau:
12
Một là, hiện tượng đảo nợ đã diễn ra khi mà nhiều doanh nghiệp muốn
được vay hỗ trợ lãi suất để trả những khoản vay trước đó với lãi suất cao. Thực
tế, hoạt động đảo nợ có thể diễn ra theo nhiều kiểu, nhiều cách và ngân hàng
cũng khó kiểm soát được
Hai là, biện pháp hỗ trợ lãi suất khó đạt được kết quả mong đợi vì thị
trường của các sản phẩm xuất khẩu lớn của Việt Nam như dệt may, da giày,
thủy sản, gỗ đang thu hẹp nhiều do suy thoái kinh tế toàn cầu, nên các doanh
nghiệp trong các ngành này hầu như không mặn mà đối với các khoản vay này
bởi họ không muốn tăng thêm nợ. Do vậy, gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ khó
đạt được mục tiêu tạo việc làm, do những người mất việc chủ yếu tập trung vào
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có vốn đầu tư ngước ngoài.
Ba là, gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ dường như mới chỉ chú trọng vào
kích cầu sản xuất chứ chưa kích cầu tiêu dùng. Khuyến khích tiêu thụ sản phẩm
nên chăng cần thông qua biện pháp giảm thuế mà không sử dụng biện pháp hỗ
trợ lãi suất. Hỗ trợ lãi suất dễ làm tăng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp để
doanh nghiệp duy trì sản xuất. Như vậy rất có thể làm tăng thêm ứ đọng sản
phẩm. Giảm thuế sẽ có tác dụng tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp giống
như hỗ trợ lãi suất mà không phải qua nhiều thủ tục phiền phức.
Bốn là, có cơ chế quản lý chưa được chặt chẽ : Chưa kiểm soát được
lượng vốn vay hỗ trợ lãi suất được sử dụng đúng mục đích, Nhiều Doanh nghiệp
đã dùng vốn vay hỗ trợ lãi suất vào các hoạt động khác không theo dự án được
duyệt như: đầu cơ, đầu tư tài chính, bất động sản, đảo nợ…
5. Kiến nghị, đề xuất những hướng cần đầu tư để sử dụng có hiệu quả
gói kích cầu của Chính phủ, và đón đầu cơ hội tăng trưởng kinh tế
Từ những vấn đề trên đây, cùng với việc nghiên cứu các chính sách kích
thích kinh tế của các nước trên thế giới, một số vấn đề cần lưu ý khi triển khai
“gói kích cầu” trong nước để có thể đạt mục tiêu: giải quyết được vấn đề trước

Bốn là, bên cạnh kích cầu tiêu dùng trong nước, cần tiếp tục mở rộng thị
trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đến những thị trường tiềm năng, những
mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như nông sản với giá cả hợp lý. Những mặt
hàng này gắn nhiều với nông dân, với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Do đó, “kích” vào đây góp phần giữ một động lực tăng trưởng mạnh của nền
kinh tế, giảm nguy có thâm hụt thương mại. Hơn nữa còn góp phần giúp đông
đảo người lao động duy trì được việc làm, thu nhập và đời sống, đồng thời giữ
vững ổn định chính trị.
Năm là với các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, cần phải xác định cụ
thể, chính xác các lĩnh vực cần đầu tư theo các hướng ưu tiên đó là: (1) Phát
triển cơ sở hạ tầng như giao thông, bệnh viện, trường học, công nghệ thông tin
và truyền thông. Đây là nhóm lĩnh vực góp phần tăng trưởng kinh tế vững chắc
sau khủng hoảng kinh tế. (2) Đầu tư các dự án sử dụng nhiều lao động, tạo ra
nhiều việc làm mới, các dự án sản xuất phục vụ thị trường nội địa. Với những dự
14
án loại này, người lao động có việc làm ổn định, nhu cầu tiêu dùng được giữ
vững, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế ,
Sáu là, chính sách kích cầu cần quan tâm hơn nữa đến cầu tiêu dùng của
người dân và của những doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Kinh nghiệm
của các nước cho thấy, kích cầu tiêu dùng là nhóm giải pháp quan trọng để hạn
chế tác động của suy thoái kinh tế. Để kích tích tiêu dùng một cách thiết thực
đối với toàn xã hội, nên chăng: (1) Chính phủ cần điều chỉnh tăng lương, lùi thời
hạn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, tạm thời miễn thuế VAT đối với một
số mặt hàng sản xuất trong nước. Giải pháp này phần nào làm giảm nguồn thu
ngân sách, nhưng bù lại sẽ kích thích được sản xuất và tăng sức mua của dân cư,
kích thích tiêu dùng nhanh và hiệu quả. (2) Với những mặt hàng thiết yếu, có
ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của nhân dân mà nhà nước ta nắm
quyền chi phối, trong giai đoạn hiện nay phải kìm chế việc tăng giá. Vì sự tăng
giá các mặt hàng này, lập tức sẽ làm tăng mặt bằng đầu vào của nền kinh tế, dẫn
đến tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Hơn nữa, nó sẽ làm

hành một số giải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và
tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
- Quyết định 14/QD-TTg ngày 21/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế
bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại.
- Quyết định 443/QD-TTg ngày 4/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ
trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung và dài hạn ngân hàng để thực
hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh doanh.
- Quyết định 497/QD-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ
trợ lãi suất vay vốn mua máy móc thiết bị vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp
và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn.
- Quyết định 30/2009/QD-TTg ngày 23/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó
khăn do suy giảm kinh tế.
- Thông tư số 02/2009/TT-NHNN ngày 3/2/2009 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay
vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh.
- Thông tư số 05/2009/TT-NHNN ngày 7/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước quy
định chi tiết thi hành hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung,
dài hạn ngân hàng, thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh doanh.
- Thông tư số 03/2009/TT-BTC ngày 13/1/2009 của Bộ Tài chính về giảm, gia
hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thông tư 04/2009/TT-BTC ngày 13/1/2009 của Bộ Tài chính về việc hướng
dẫn thực hiện hoàn thuế VAT theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status