MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ
HỌC TỐT PHÂN MÔN HỌC VẦN LỚP 3
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống hàng ngày, ở mọi ngành nghề đều cần đến các hoạt động giao
tiếp. Giao tiếp qua việc sử dụng ngôn ngữ sao cho chọn lọc để diễn đạt ý của mình
nhằm giúp người khác biết và hiểu những thông tin đến đối tượng cần giao tiếp,
nhằm đạt đến thành công trong công việc. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục đòi hỏi
người giáo viên hướng dẫn, giảng dạy sao cho học sinh của mình có được kỹ năng
giao tiếp thật tốt. Chính vì lí do đó, đối với học sinh cũng đều được rèn luyện 4 kĩ
năng: nghe, nói, đọc, viết.
Và mục đích của môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các
kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt
động của lứa tuổi, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và
những hiểu biết về xã hội, văn hóa, con người, văn học… Thông qua việc dạy và
học tiếng việt góp phần rèn luyện các kĩ năng đọc đúng và viết đúng.
Học vần là một phân môn rất quan trọng trong chương trình học của lớp 1.
Muốn đọc được chữ đòi hỏi các em phải biết nhận diện vần, biết cách ráp vần, dấu
thanh để tạo tiếng, từ. Hạn chế về trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ, vốn từ và cách diễn
đạt đã gây cho trẻ Chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) rất nhiều khó khăn trong việc
nhận diện âm thanh, lời nói, cách phát âm vần, tiếng, từ, câu.
Để học tốt môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Học vần nói riêng, học
sinh có cơ sở để tiếp thu, diễn đạt tốt các môn học khác, nắm vững được kiến thức
Tiếng Việt, suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và rèn luyện thành thạo các kỹ
năng (đọc, nghe, nói, viết), có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân
tộc mình. Tuy nhiên, trẻ CPTTT do các em bị tổn thương từ bên trong não bộ nên
quá trình tâm lý và nhận thức như: tri giác, trí nhớ, tư duy logic, lời nói…bị suy
yếu rõ rệt. Từ đó dẫn đến việc các em gặp khó khăn khi học đọc, viết, nói, chậm
hiểu và nhanh quên. Trước những khó khăn, trở ngại trên mà các em đang gặp
phải, tôi luôn băn khoăn và trăn trở làm thế nào để giúp các em biết đọc, nói và
viết tốt hơn. Vì thế tôi không ngừng nỗ lực, tìm tòi những phương pháp và nghiên
nội dung. Có một số em tỏ ra chăm chỉ, cố gắng học tập, nhưng hiệu quả khơng
cao. Nhiều giáo viên lầm tưởng đây là những học sinh có khả năng học tập tốt nên
đã giao nhiệm vụ nhiều hơn. Do hiểu khơng đúng nên đã làm cho những em này
học càng kém hơn.
Ngun nhân hiện tượng này, theo Páplốp là do trương lực thần kinh của trẻ
bị yếu làm cho sự chú ý của trẻ khơng ổn định, thường xun dao động, làm cho
trẻ khơng đủ khả năng tập trung suy nghĩ lâu về một đối tượng nào đó (hiện tượng
này được thể hiện ở trẻ bị viêm não và tật động kinh).
2.2. Đặc điểm phát triển ngơn ngữ
Trẻ CPTTT thường khơng hiểu được những từ ngữ có tính chất trừu tượng,
đặc biệt là trẻ rất khó nắm bắt những khái niệm về các sự vật và hiện tượng xung
quanh. Trong q trình giao tiếp trẻ rất khó đáp ứng được những u cầu của
người khác, ví dụ, khi u cầu trẻ “hãy đưa cho mẹ…” hoặc “hãy chọn cho cơ 3
(đồ vật)?…màu?…kích cỡ?…và đem đến đưa cho ai đó…” trẻ chỉ có thể thực hiện
được một trong những u cầu đó mà thơi. Trẻ chậm phát triển trí tuệ khơng có
khả năng ghi nhớ hết những câu nói của người khác nói với trẻ.
Những trẻ bị chấn thương não thường chóng mệt mỏi, thiếu chú ý nên khi viết
thường rất cẩu thả, chữ nguệch ngoạc, nhiều lỗi chính tả.
2
2.3. Đặc điểm phát triển trí nhớ
Trẻ chậm phát triển trí tuệ thường rất khó khăn trong việc ghi nhớ tài liệu học
tập, nếu không có sự luyện tập thường xuyên thì trẻ sẽ quên hết mọi kiến thức đã
học. Đó là hiện tượng chậm nhớ, chóng quên ở những trẻ này. Quá trình ghi nhớ
không chỉ phụ thuộc vào nội dung, tính chất của đối tượng cần nhớ, mà còn phụ
thuộc vào động cơ, mục đích và phương thức hành động cá nhân.
Trẻ chậm phát triển trí tuệ ghi nhớ máy móc tốt hơn ghi nhớ có ý nghĩa,
chẳng hạn, do chỉ nhớ dấu hiệu bên ngoài các em cho rằng con chó cũng là con
mèo vì đều có bốn chân và một số dấu hiệu bên ngoài gần giống nhau. Cũng do
yếu về tư duy nên trẻ CPTTT có sự hạn chế về khả năng tìm ra những dấu hiệu cơ
bản nhất của các sự vật và hiện tượng cần nhớ, đặc biệt là trong hoạt động học tập,
viên chỉ cần cung cấp cho học sinh nắm được cấu tạo của vần và đọc được vần
bằng hình miệng, đọc trơn tiếng có vần mới nên bỏ qua giai đoạn đánh vần.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi đưa ra một số biện pháp giúp học sinh
Chậm phát triển trí tuệ học tốt phân môn Học vần lớp 3 như sau:
1. Biện pháp 1: Đa giác quan
Trong quá trình giáo dục và dạy học giáo viên chỉ đơn thuần sử dụng riêng lẻ
từng phương pháp (trực quan, dùng lời hay thực hành…) thì cho dù có cố gắng đến
đâu đi chăng nữa thì những kiến thức, kỹ năng mà trẻ CPTTT nắm bắt được rất
hạn chế, hiệu quả học tập cũng không cao. Bởi lẽ trẻ CPTTT có khi nghe mà
không hiểu, có khi chăm chú nhìn nhưng không biết rõ, có khi làm nhưng lại
không biết mình làm cái gì, để làm gì,…hơn nữa trẻ lại rất mau quên. Vì vậy trong
quá trình dạy giáo viên phải biết phối hợp nhiều phương pháp tác động lên nhiều
giác quan của trẻ như: vừa giải thích, vừa cho trẻ quan sát bằng mắt, khảo sát bằng
tay, nếu có thể cho trẻ hoạt động cùng với đối tượng…thì mới có thể khắc sâu kiến
thức vào trí não của trẻ. Để sử dụng phương pháp đa giác quan đòi hỏi giáo viên
phải thật linh hoạt và sử dụng một cách triệt để đồ dùng dạy học trong các tiết dạy
trẻ CPTTT. Mặt khác giáo viên phải có nhiều thủ thuật tác động phù hợp để đánh
thức từng giác quan của trẻ chứ không chỉ đơn thuần là việc trình bày ra một loạt
các đồ dùng dạy học cho trẻ hoạt động.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xem tranh ảnh, vật thật hay mô hình gắn
với nội dung từ khóa, từ ứng dụng. Cho các em nghe giọng, nhìn khuôn hình
miệng của giáo viên khi phát âm, đánh vần mẫu.
Ví dụ 1: Trong bài 76: “oc”
- Tôi đưa tranh “con sóc” cho học sinh quan sát và trả lời theo một số gợi ý:
+ Tranh vẽ gì?
+ Con sóc có màu gì?
- Tôi cung cấp và giới thiệu từ khóa “con sóc”
- Đọc mẫu từ khóa rồi cho học sinh đọc.
- Theo dõi và sửa sai cho học sinh (nếu có)
bút chì
bút chì
3. Biện pháp 3: Trò chơi luyện nghe
5
u t
ut
Khi chơi các em được thoải mái thể hiện mình trong các trò chơi và khám phá
thế giới xung quanh. Vui chơi là viên gạch lớn để tạo nên một ngôi nhà giao tiếp,
khi chơi các em được tiếp nhận một luồng gió mới thổi vào trong tâm hồn và phát
triển nhận thức của các em. Qua những trò chơi, các em được sảng khoái, vui vẻ và
là một niềm hứng khởi lớn khởi sắc cho một bước ngoặc mới với nhiều thành quả
rực rỡ. Chơi không những phát triển ngôn ngữ, cảm xúc, vận động và kỹ năng giao
tiếp mà còn phát triển tư duy, óc sáng tạo, tưởng tượng, sự chú ý, ý chí vượt qua
những khó khăn trở ngại.
Học sinh được học các vần và thanh của Tiếng Việt. Sự khác biệt của các
thanh khó nhận thấy và các em cũng có thể gặp nhiều khó khăn trong việc phân
biệt các thanh trong các từ khác nhau. Các em cần có nhiều cơ hội phát triển khả
năng nghe nhằm giúp phân biệt sự khác nhau giữa các vần và thanh. Trò chơi nghe
này là một cách hay và thu hút sự tập trung của học sinh.
Ví dụ 1: Trò chơi “Bạn nghe vần gì?”
Mục tiêu: Trò chơi này giúp trẻ phân biệt hai vần phát âm tương tự nhau.
Chuẩn bị: Một số thẻ từ trống chiêng, cái kẻng, bay liệng, xà beng. Giáo viên cũng
chuẩn bị và phát cho học sinh các bảng vần theo mẫu sau:
1 eng iêng
2 eng iêng
3 eng iêng
4 eng iêng
Cách thực hiện:
- Bước 1: Giáo viên đọc to từng thẻ từ có các vần mà học sinh đã học.
- Bước 2: Khi nghe giáo viên đọc to mỗi từ, các em chọn vần thích hợp trên bảng
từ có chứa vần ăc (mặc áo, màu sắc, ăn mặc…)
- Khi thực hiện hoạt động này, tôi chia lớp thành hai nhóm thi đua với nhau, sau
thời gian 10 phút nhóm nào thực hiện xong trước, nhóm đó thắng và sẽ được
thưởng.
c Từ
ă ăc Mắc áo, màu sắc, ăn mặc…
â âc Quả gấc, giấc ngủ, nhấc chân…
o oc Con sóc, hạt thóc, con cóc…
ô ôc Gốc cây, thợ mộc, con ốc…
u uc Cần trục, máy xúc, hoa cúc…
ư ưc Lực sĩ, lọ mực, nóng nực…
iê iêc Xem xiếc, công việc, bữa tiệc…
uô uôc Ngọn đuốc, đôi guốc, thuộc bài…
ươ ươc Rước đèn, cái lược, thước kẻ…
Ví dụ 2: Trong bài “Ôn tập” tôi hướng dẫn trẻ thực hành các bài tập nhằm giúp các
em ghi nhớ, khắc sâu các vần, từ đã học.
• Bài tập 1: Điền vần im hay um.
Tiến hành:
- Viết yêu cầu của bài tập và đính các thẻ hình, thẻ từ lên bảng.
- Cho học sinh nêu yêu cầu của bài.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập.
- Cho 2 học sinh lên bảng thực hiện, cả lớp làm vào vở bài tập.
7 Con nh…………. Tr…… khăn
• Bài tập 2: Nối ( / ) hình với từ:
Tiến hành:
- Viết yêu cầu của bài tập và đính các thẻ hình, thẻ từ lên bảng.
Cách thực hiện: Ở mỗi con cá giáo viên có ghi vần, tiếng, từ mới học hay đã học.
Sau đó cho một em lên bảng câu cá và đọc to cho cả lớp cùng nghe con cá mình
vừa câu có vần, tiếng, từ nào. Giáo viên nhận xét khen ngợi những em đọc đúng,
động viên khuyết khích những em đọc chưa được cố gắng lần sau.
Nhóm 2: Không đọc được, viết được.
Trí nhớ ngắn hạn nên trong quá trình học các em thường hay quên không nhớ
những vần, từ đã học. Do đó, giáo viên cần thường xuyên ôn tập và hệ thống hóa
kiến thức kỹ năng cho các em. Khi chưa nắm rõ kiến thức các em thường ghi nhớ
một cách máy móc. Bên cạnh đó giáo viên cần khéo léo sắp xếp cho các em này
ngồi cạnh những em học khá, giỏi nhằm tạo điều kiện cho các em có thể giúp đỡ
nhau. Ngoài ra trong tiết học, giáo viên cần cho các em phát âm nhiều lần rồi cho
các em viết vào bảng con.
Ví dụ: Khi dạy cho trẻ học viết tôi vừa dùng lời mô tả cách viết vần, tiếng, từ đồng
thời viết lên bảng cho học sinh quan sát.
Để học sinh dễ cảm nhận cách viết vần, từ tăng cảm giác, xúc giác cho học
sinh. Tôi hướng dẫn học sinh dùng ngón tay trỏ viết lên mặt bàn hoặc không gian
(ngồi cùng hướng với học sinh) vừa viết vừa đọc, sau đó dùng phấn viết lên bảng
con.
Hình minh họa cho hoạt động dạy viết.
9
6. Biện pháp 6: Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh
Gia đình là chiếc nôi, là trường học đầu đời của trẻ. Trẻ lớn lên trong gia đình,
bố mẹ là những người trực tiếp sinh ra và nuôi dạy trẻ, hiểu trẻ hơn ai hết. Vì vậy,
giáo dục trẻ CPTTT cần có sự cộng tác, gần gũi và liên kết với phụ huynh cùng
những người thân của trẻ.
Các thành viên trong gia đình có thể thúc đẩy chuyển giao kiến thức trẻ đã
học trên lớp vào cuộc sống thực tế của trẻ ở gia đình và các môi trường trong cộng
đồng.
Qua trao đổi, tôi có chia sẻ kinh nghiệm của mình đến với phụ huynh, giúp
phụ huynh rèn luyện cho trẻ cách học tốt phân môn học vần như:
10
Giữa học kì II
Tổng
số học
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Tổng số % Tổng số % Tổng số % Tổng số %
6 3 50% 1 16,6% 2 33,4% 0
Qua thời gian áp dụng đề tài để giúp các em học tốt phân môn Học vần, tôi
nhận thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt. Đa số các em biết đọc các vần/tiếng/từ đã
học, kĩ năng viết cũng khá hơn trước. Những em hay lơ là thiếu tập trung trong giờ
học nay đã hào hứng tham gia một cách sôi nổi, hứng thú hơn. Số học sinh khá giỏi
tăng, không còn học sinh yếu.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Để thực hiện tốt hoạt động dạy phân môn Học vần thông qua việc thực hiện
các biện pháp trên đã phần nào đạt được một số kết quả như đã nêu. Bản thân tôi
xin có một số đề xuất sau:
* Đối với giáo viên dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ:
- Luôn tìm tòi sáng tạo, kết hợp linh hoạt các biện pháp, phương pháp, hình thức tổ
chức cho các hoạt động thật phong phú, lôi cuốn, phát huy tính sáng tạo, tích cực
của học sinh.
- Tạo mọi điều kiện trẻ được tự do học tập, giao tiếp và tiếp xúc với thế giới xung
quanh.
- Khuyến khích, động viên trẻ kịp thời.
- Sẵn sàng hỗ trợ, tư vấn cho phụ huynh, trẻ và đồng nghiệp trong phạm vi chuyên
môn của mình.
* Đối với Trung tâm và các cấp quản lí:
- Tăng cường phương tiện hỗ trợ đồ dùng dạy học, đồ chơi cho trẻ.
- Phân công giáo viên dạy tiết cá nhân.
- Tạo điều kiện cho giáo viên đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở các trường bạn,
tham gia các lớp tập huấn, các cuộc hội thảo về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung