1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Nam Hà
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BÀI TẬP CẢI THIỆN KĨ THUẬT
XUẤT PHÁT THẤP VÀ CHẠY LAO SAU XUẤT PHÁT
ĐỂ NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY NGẮN
Người thực hiện: Nguyễn Việt Hiếu
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2013 – 2014
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Việt Hiếu
2. Ngày tháng năm sinh: 01/3/1976
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: P.712 Chung cư A5, Quang Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613950365 (CQ)/ 0613816717 (NR); ĐTDĐ: 0907723133
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
thiện để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Hoàn thiện về thể chất
để có thể phát triển một cách toàn diện, nhịp nhàng, hài hòa kể cả về hình thái và
chức năng thể lực. Và với thể lực cường tráng thì mới có khả năng thích ứng tốt
nhất với điều kiện sản xuất, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi Cách mạng
Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục ngày
27/3/1946: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng
cần đến sức khỏe mới thành công. Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả
nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân mạnh khỏe tức là góp phần làm cho đất
nước mạnh khỏe. Vậy nên, tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi
một người dân yêu nước”.
Giáo dục thể chất là một nhân tố quan trọng không thể thiếu trong hệ thống
giáo dục con người mới, phát triển toàn diện. Nhiệm vụ chiến lược của công tác
thể dục thể thao ở nước ta hiện nay là phải tập trung thực hiện công tác giáo dục
thể chất trong trường học các cấp có chất lượng ngày càng cao, từng bước hoàn
thiện chương trình giảng dạy nội khóa cho phù hợp, tăng cường tổ chức hoạt động
thể dục thể thao ngoại khóa.
Các môn thể thao nói chung và môn điền kinh nói riêng là phương tiện của
công tác giáo dục thể chất. Việc nâng cao thành tích ở các môn thể thao nói chung
và môn điền kinh nói riêng sẽ góp phần cho công tác giáo dục thể chất có hiệu quả,
chất lượng. Điền kinh là môn học chính khóa trong trường phổ thông các cấp,
trong các trường Cao đẳng, Đại học và nó là môn thi đấu chính thức ở các kì đại
hội thể dục thể thao từ cấp phường (xã) cho đến Trung ương, ở các kì Hội khỏe
Phù đổng của địa phương đến toàn quốc và đều được tổ chức ở các giải thi đấu
trong Khu vực - Quốc tế. Do vậy, nâng cao thành tích trong học tập, tập luyện và
thi đấu môn điền kinh là điều mong muốn của các giáo viên, huấn luyện viên, các
cấp lãnh đạo. Môn Điền kinh lại được chia ra thành nhiều môn khác nhau như:
Chạy, nhảy. ném đẩy và môn chạy là môn chủ đạo của Điền kinh. Từ môn chạy
lại được chia ra thành nhiều nội dung khác nhau như chạy ngắn, chạy cự ly trung
bình, chạy marathon, chạy tiếp sức …. Mỗi một nội dung lại có đặc trưng riêng về
kỹ thuật, cấu trúc động tác cũng như mức độ tác động của nó đến người tập. Và
thấp và chạy lao sau xuất phát, người chạy phải hiểu và thực hiện chính xác kĩ
thuật động tác, phải biết kết hợp tập luyện những bài tập hợp lí với việc hoàn thiện
các giai đoạn kĩ thuật đó.
2. Cơ sở thực tiễn:
Điền kinh là môn học trọng điểm của chương trình. Thông qua tập luyện, môn
học điền kinh sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể, cải thiện và nâng cao
chức năng các cơ quan nội tạng, phát triển toàn diện các tố chất thể lực và năng lực
hoạt động cơ bản cho học sinh, nâng cao sức khỏe cơ bản nói chung.
Chạy là môn thể thao có tính chu kì, là năng lực hoạt động cơ bản nhất của
con người. Nó là nền tảng của các môn thể thao khác. Nhiệm vụ của giảng dạy
môn chạy là phát triển các tố chất thể lực: sức nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo, sự
khéo léo, linh hoạt, nhịp điệu; thúc đẩy cơ thể và các cơ quan vận động; thúc đẩy
phát triển các công năng của cơ quan nội tạng, giúp học sinh nắm vững các kiến
4
thức, kĩ năng và kĩ thuật cơ bản của môn chạy, nắm được tư thế chạy đúng, nâng
cao năng lực chạy để đáp ứng được yêu cầu môn chạy, đáp ứng được yêu cầu sức
khỏe, đáp ứng được nhu cầu cuộc sống.
Trên cơ sở lí luận thực tiễn cho thấy, quá trình thực hiện nghiên cứu, ứng
dụng các bài tập bổ trợ để nâng cao kĩ thuật xuất phát thấp, chạy lao sau xuất phát
nói riêng và thành tích chạy ngắn nói chung cần phải được lựa chọn một cách phù
hợp để nâng cao chất lượng khi học bộ môn. Quá trình vận dụng, người giáo viên
phải biết lựa chọn, phát huy tác dụng các bài tập, phù hợp nội dung. Học sinh nắm
được các bài tập, vận dụng và thực hiện tốt các bài tập đó để bổ trợ tốt cho giai
đoạn thực hiện kĩ thuật, đạt thành tích cao. Thực hiện yêu cầu đó từ những vấn đề
nêu trên, việc lựa chọn các bài tập bổ trợ phù hợp cần được thực hiện nghiêm túc
để đáp ứng yêu cầu giảng dạy. Chính vì vậy, việc cải thiện kĩ thuật xuất phát thấp
và chạy lao sau xuất phát là một yêu cầu tất yếu để nâng cao thành tích chạy ngắn.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi: Mục đích của đề tài là nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài
2- Tại sao khi chạy lao thân trên phải ngả về trước tích cực, các điểm đặt
chân phía trước đều ở phía sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể?
Sau đó, tôi thu lại các phiếu thăm dò, tổng hợp và thống kê. Kết quả thu được:
Phần lớn các em không trả lời được câu hỏi (bỏ phiếu trắng), số còn lại các em trả
lời sai câu hỏi – không hhiểu được ý nghĩa, tác dụng của kĩ thuật động tác xuất
phát thấp là tạo điều kiện cho lực đạp sau gần với hướng chuyển động, tận dụng
được sức mạnh hai chân, các em không hiểu được ý nghĩa, tác dụng của kĩ thuật
động tác chạy lao sau xuất phát là thân trên ngả về trước tích cực, để giữ trọng
tâm cơ thể ở dưới thấp tận dụng được sức mạnh đạp sau của hai chân.
Để cho nhận xét trên thêm phần chính xác, tôi tiến hành kiểm tra trước thực
nghiệm cả 2 nhóm nội dung chạy 30m để xác định trình độ ban đầu. Để tính chính
xác được cao hơn, mỗi học sinh thực hiện 2 lần cự li 30m, lấy lần có thành tích tốt
hơn. Thang điểm kiểm tra và kết quả kiểm tra được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Thang điểm thành tích chạy 30m, học sinh khối 10
Điểm
Thành tích
Nam Nữ
9 – 10 ≤ 5”00 ≤ 6”00
7 – 8 5”01 – 5”50 6”01 – 6”50
5 – 6 5”51 – 6”00 6”51 – 7”00
Điểm chưa đạt 4↓ ≥ 6”01 ≥ 7”01
Bảng 2: Kết quả kiểm tra chạy 30m trước thực nghiệm
Thông số kiểm tra
chạy 30m
Điểm
9, 10
Tỉ
lệ
%
Điểm
9
13
28,
9
16
35,
5
3 6,7
6
Từ kết quả chạy 30m của 2 nhóm ở trên, ta có biểu đồ so sánh thành tích của 2
nhóm trước thực nghiệm như sau:
Bảng 3: Biểu đồ so sánh thành tích của 2 nhóm trước thực nghiệm
Như vậy, với số liệu thống kê trên và dựa trên biểu đồ, tôi thấy rằng thành tích
của 2 lớp chênh lệch nhau không nhiều. Tỉ lệ % điểm giỏi, khá, trung bình cũng
như tỉ lệ chưa đạt của 2 lớp 10C1 và 10C4 (nhóm thực nghiệm – nhóm TN và
nhóm đối chiếu – nhóm ĐC) là ngang nhau. Bên cạnh đó là thành tích đạt điểm
giỏi và khá không nhiều. Đặc biệt, tỉ lệ học sinh xếp loại chưa đạt ở nội dung chạy
30m của 2 nhóm khá cao: lớp 10C1 – nhóm thực nghiệm là 4hs chiếm tỉ lệ 8,9%;
lớp 10C4 – nhóm đối chiếu là 3hs chiếm tỉ lệ 6,7%.
Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả, thành tích chạy ngắn của các em thì
nhiều, có thể kể ra một số nguyên nhân sau:
- Chưa có nhận thức đúng về kĩ thuật động tác.
- Thể lực của các em kém, chưa dồi dào, không tốt.
- Xuất phát chậm, phản xạ và sức mạnh chưa tốt.
- Tần số - biên độ bước chạy chưa hợp lí, không chạy trên đường thẳng.
- Tinh thần tập luyện không nghiêm.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, tập luyện để giúp học sinh nâng cao được
thành tích, người giáo viên phải phát hiện đúng nguyên nhân để có biện pháp khắc
phục phù hợp. Trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ nghiên cứu ứng dụng một số bài
tập để cải thiện kĩ thuật động tác xuất phát thấp, chạy lao sau xuất phát của nội
30m. Để đạt được hiệu quả cao trong giai đoạn chạy lao sau xuất phát, người chạy
phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Tạo ra tốc độ của cơ thể với mặt đường hợp lí.
- Tận dụng được sức mạnh, sức nhanh của cơ thể.
- Đảm bảo được tư thế ổn định, thăng bằng của cơ thể trong khi chạy.
Như vậy, từ những đặc điểm nêu trên, ta thấy hiệu quả của kĩ thuật xuất phát
thấp và chạy lao sau xuất phát phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây:
- Sức mạnh tốc độ.
- Khả năng phản ứng của cơ thể với tín hiệu.
- Mức độ hoàn thiện kĩ thuật.
c. Bài tập trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
8
Căn cứ vào những nội dung trên, trong quá trình giảng dạy, tôi lựa chọn
những bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kĩ thuật xuất phát thấp và chạy lao sau xuất
phát cho đối tượng nghiên cứu. Bao gồm những bài tập cơ bản sau:
* Nhóm các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ:
1- Chạy đạp sau:
+ Yêu cầu: Chân trước chủ động nâng cao đùi về phía trước, chân sau duỗi thẳng
các khớp, thực hiện động tác với tốc độ cao.
+ Tác dụng: Hoàn thiện kỹ thuật đạp sau và phát triển sức mạnh cơ bắp và sức
mạnh tốc độ.
2- Chạy nâng cao đùi:
+ Yêu cầu: Thân giữ thẳng, chân lăng chủ động nâng cao đùi về phía trước, chân
đẩy duỗi thẳng các khớp. Thực hiện động tác từ chậm đến tốc độ cao, biết phối hợp
động tác tay.
+ Tác dụng: Phát triển sức mạnh cơ bắp, biết chủ động nâng đùi về phía trước khi
chạy.
3- Bật cao tại chỗ:
+ Yêu cầu: Bật thẳng chân, xốc người lên.
+ Tác dụng: Phát triển sức mạnh cơ bắp, sức mạnh của chân.
±
20cm để phù hợp với cấu trúc giải phẫu của từng em)
+ Tác dụng: Để bước chạy không quá dài hơn mức qui định, chủ động tăng được
tần số bước chạy.
11- Xuất phát thấp chạy lao dưới xà ngang đặt chếch (20 – 30m):
+ Yêu cầu : Chạy lao dưới dây chếch, đầu không chạm dây với đoạn chạy là 20 –
30m. Góc dây chếch theo định lý tam giác vuông.
+ Tác dụng: Phát triển lực đạp sau, có độ dài bước chạy đầu tiên hợp lý ở tư thế
thân người thấp phát triển được sức nhanh, sức mạnh trong chạy xuất phát và chạy
lao.
12- Xuất phát trong hố cát có người tác động (tì vai):
+ Yêu cầu: Tư thế chuẩn bị xuất phát ở trong hố cát, luyện tập từ xuất cao đến xuất
phát thấp.
+ Tác dụng: Phát triển lực đạp sau, có độ dài bước chạy đầu tiên hợp lý phát triển
được sức nhanh, sức mạnh trong chạy xuất phát.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau khi tôi kiểm tra trước thực nghiệm giữa hai nhóm xong, tôi tiến hành đi
vào thực nghiệm với những bài tập được lựa chọn và ứng dụng ở trên.
- Lớp 10C4 – nhóm đối chứng: áp dụng các bài tập thông thường theo phân
phối chương trình của Bộ GD&ĐT
- Lớp 10C1 – nhóm thực nghiệm: ngoài việc áp dụng các bài tập thông thường
theo phân phối chương trình còn được tôi áp dụng theo phương pháp với các bài
được đưa ra ở trên.
Để đánh giá các bài tập mà đề tài lựa chọn và ứng dụng đã được nêu ở trên,
tôi tiếp tục tiến hành kiểm tra sau thực nghiệm khi kết thúc nội dung học chạy ngắn
của hai lớp 10C1 và 10C4, kết quả đạt được như sau:
Bảng 4: Kết quả kiểm tra chạy 30m sau thực nghiệm
10
Thông số kiểm tra
chạy 30m
Nhóm Đối chiếu
Lớp 10C4: 45hs
16
35,
6
19
42,
2
9
20,
0
1 2,2
Qua bảng 4, sau thực nghiệm cho ta thấy kết quả kiểm tra sau khi áp dụng các
bài tập đã chọn cho nhóm thực nghiệm – lớp 10C1 và không áp dụng các bài tập đã
chọn ở nhóm đối chiếu – lớp 10C4 đã có sự chênh lệch.
- Số lượng các em học sinh đạt loại giỏi – điểm 9, 10 giữa hai nhóm thực
nghiệm (10C1) và nhóm đối chiếu (10C4) chênh lệch nhau là 13,3%
- Tỉ lệ điểm giỏi và khá của nhóm thực nghiệm 93,3 (48,9% + 44,4) cao hơn
hẳn tỉ lệ điểm giỏi và khá của nhóm đối chiếu 77,8 (35,6% + 42,2%), đồng nghĩa
với tỉ lệ học sinh đạt điểm 5 – 6 của nhóm thực nghiệm 10C1 chỉ còn 6,7% (trước
thực nghiệm là 33,3%), trong khi đó tỉ lệ học sinh đạt điểm 5 – 6 của nhóm đối
chiếu 10C4 vẫn còn ở mức cao là 20% (trước thực nghiệm là 35,5%).
- Đặc biệt, ở nhóm thực nghiệm 10C1 sau khi kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập kết thúc nội dung chạy ngắn thì không có học sinh nào bị xếp loại chưa đạt,
trong khi đó, nhóm đối chiếu 10C4 còn 1 học sinh xếp loại chưa đạt, tỉ lệ này
chiếm đến 2,2% học sinh bị xếp loại chưa đạt ở nội dung chạy ngắn.
Chúng ta có thể thấy những vấn đề này rõ hơn thông qua biểu đồ dưới đây,
biểu diễn kết quả - thành tích chạy 30m của hai nhóm thực nghiệm 10C1 và nhóm
đối chiếu 10C4:
Bảng 5: Biểu đồ thành tích chạy 30m sau thực nghiệm
em an tâm, tự tin trong quá trình tập luyện. Có như thế học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu
tốt bài học, vận dụng tốt kỹ thuật nâng cao thành tích trong học tập và thi đấu.
- Tiếp tục dành nhiều thời gian để tham khảo tài liệu, đầu tư nghiên cứu để có thêm
những đề tài, sáng kiến kinh nghiệm mới khác có tính khả thi, hiệu quả hơn.
2. Khuyến nghị:
Qua nghiên cứu và áp dụng những bài tập ở trên để cải thiện kĩ thuật xuất phát
thấp và chạy lao sau xuất phát trong kĩ thuật chạy ngắn cho học sinh khối 10
trường THPT Nam Hà, bản thân tôi có một số khuyến nghị sau:
- Với giáo viên:
+ Phân tích, giảng giải kĩ thuật đúng để các em hiểu được ý nghĩa của động tác; tạo
cho học sinh sự hứng thú, lòng ham thích học bộ môn, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nâng cao thành tích chạy ngắn nói riêng và môn điền kinh nói chung.
12
+ Nhanh chóng phát hiện ra các sai sót của học sinh (nếu có) khi thực hiện kĩ thuật
động tác, phải tiến hành khắc phục, sửa chữa ngay, giúp các em nâng cao thành
tích môn học.
+ Có những biện pháp, phương pháp phù hợp, đơn giản và gây được hứng thú cho
học sinh học tập, như vậy mới mang lại hiệu quả cao.
- Với học sinh:
+ Có nhận thức đúng đắn, ý thức học tập tốt đối với môn học.
+ Tuân thủ sự hướng dẫn của các thầy, cô giáo giảng dạy trong quá trình học tập,
tập luyện.
+ Tích cực rèn luyện thân thể, tham gia đầy đủ các phong trào, hoạt động của nhà
trường, của ban ngành các cấp.
- Với nhà trường:
+ Tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học
để giáo viên, học sinh thực hiện phương pháp đổi mới trong quá trình dạy học.
+ Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa để học sinh được tham gia và
có ý thức hơn trong việc rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe đáp ứng được yêu
cầu và nhu cầu cuộc sống.
Đơn vị: Trường THPT Nam Hà
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình,
nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu
quả cao
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình,
nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc
sống: Trong Tổ/Phòng/Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
Xếp loại chung: Xuất sắc Khá Đạt Không xếp loại
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA TỔ