i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu
sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi
hiểu biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Mậu
ii
TÓM TẮT
Giai đoạn 2006-2011 chứng kiến sự tăng trưởng mang tính bùng nổ của hệ thống ngân
hàng Việt Nam về cả số lượng và vốn. Cùng với sự tăng trưởng là việc gia tăng sở hữu
chéo trong ngành ngân hàng với việc hàng loạt các ngân hàng thương mại nhà nước lẫn cổ
phần, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp phi nhà nước tham gia sở hữu các ngân
hàng. Trục trặc của hệ thống ngân hàng liên tục phát sinh, bộc lộ với việc các ngân hàng
thương mại dùng sở hữu chéo để lách, không tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn hoạt
động.
Sử dụng lý thuyết ủy quyền thừa hành (principal agent), luận văn đã chỉ ra ngân hàng là
doanh nghiệp đặc thù có quan hệ xung đột ủy quyền thừa hành lớn nhất và vì vậy cần phải
được giám sát chặt chẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước. Do đó NHNN - cơ quan giám sát
ngân hàng ở Việt Nam đã ban hành các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động với năm
nội dung giám sát chính. Đó là các nội dung giám sát về vốn điều lệ tối thiểu và tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu, giới hạn tín dụng, giới hạn góp vốn cổ phần và đầu tư, đảm bảo khả
năng chi trả, phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro. Việc tuân thủ các quy định bảo đảm an
toàn hoạt động vì lợi ích của toàn xã hội nhưng sẽ tạo ra phí tổn cho các ngân hàng. Vì vậy
các ngân hàng có động cơ để hình thành cấu trúc sở hữu chéo nhằm lách các quy định bảo
đảm an toàn hoạt động.
Số liệu thống kê tổng hợp và các nghiên cứu tình huống cho thấy chỉ trong một thời gian
ngắn (2006-2011) sở hữu chéo đã hình thành rất phức tạp trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam. Thứ nhất, các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, tư nhân có sở hữu ngân hàng. Thứ
hai, các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần cũng sở hữu các ngân hàng. Tác động
LỜI CAM ĐOAN
i TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1
1.1 Hệ thống ngân hàng Việt Nam 1
1.1.1 Tăng trưởng về số lượng 1
1.1.2 Tăng vốn của hệ thống NHVN 1
1.1.3 Sự hình thành và gia tăng sở hữu chéo 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách 3
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 2 5
KHUNG PHÂN TÍCH 5
2.1. Mối quan hệ sở hữu – điều hành 5
2.1.1. Chi phí ủy quyền của vốn cổ phần 6
2.1.2. Chi phí ủy quyền của nợ 7
2.2. Các quy định bảo đảm an toàn hoạt động đối với các NHTM ở VN 8
2.2.1 Vốn của NHTM 8
2.2.2 Giới hạn tín dụng 9
2.2.3 Giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần 10
2.2.4 Đảm bảo khả năng chi trả 10
2.2.5 Phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro 10
v
2.3. Vấn đề SHC giữa các NH và giữa DN với NH 11
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
AMC : Công ty Quản lý Tài sản
BKS : Ban Kiểm soát
BCTC : Báo cáo tài chính
CAR : (Capital Adequacy Ratio)
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
CEO : (Chief Executive Officer)
Tổng Giám đốc
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
HĐQT : Hội đồng quản trị
KTT : Kế toán trưởng
NCTH : Nghiên cứu tình huống
NH : Ngân hàng
NHVN : Ngân hàng Việt Nam NHTM
: Ngân hàng Thương mại NHTMNN :
Ngân hàng Thương mại Nhà nước NHTMCP :
Ngân hàng Thương mại Cổ phần NHNN :
Ngân hàng Nhà nước
P.TGĐ : Phó Tổng Giám đốc
SHC : Sở hữu chéo
TGĐ : Tổng Giám đốc
TV.BKS : Thành viên Ban Kiểm soát
TV. HĐQT : Thành viên Hội đồng Quản trị
VN : Việt Nam
DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG
Ngân
hàng
Mã NH
1
22 NHTMCP Bắc Á NASB North Asia Bank
23 NHTMCP Nam Việt NVB Nam Viet Bank
24 NHTMCP Phương Đông OCB ORICOMBANK
25 NHTMCP Xăng dầu Petrolimex PGB PG Bank
26 NHTMCP Phương Nam PNB Southern Bank
27 SCB sáp nhập SCB Saigon Commercial Bank
28 NHTMCP Đông Nam Á SEAB SeaBank
29 NHTMCP Sài Gòn Công thương SGB SAIGONBANK
30 NHTMCP Sài Gòn – Hà nội SHB SH Bank
31 NHTMCP Sài Gòn Thương Tín STB Sacombank
32 NHTMCP Đại Tín TB Trust Bank
33 NHTMCP Kỹ thương TCB Techcombank
34 NHTMCP Tiên Phong TPB Tien Phong Bank
35 NHTMCP Việt Á VAB Viet A Bank
36 NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam VCB Vietcombank
37 NHTMCP Quốc Tế VIB VIBBank
38 NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng VPB VPbank
39 NHTMCP Việt Nam Thương tín VTTB VietBank
40 NHTMCP Phương Tây WEB Western Bank
x
NHTMCP Đệ Nhất
FCB
Ficombank
y
NHTMCP Sài Gòn SCB
z
NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa TNB Vietnam Tin Nghia Bank
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Tam giác quan hệ ủy quyền – thừa hành 6
tăng trưởng mang tính chất bùng nổ của hệ thống ngân hàng Việt Nam (NHVN).
1.1 Hệ thống ngân hàng Việt Nam
1.1.1 Tăng trưởng về số lượng
Năm 1990, Pháp lệnh NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành. Theo
tinh thần của Pháp lệnh này, hệ thống NHVN chính thức hình thành. Tại thời điểm 1990
toàn hệ thống chỉ có 4 NH Thương mại Nhà nước (NHTMNN) là NH Công thương VN,
NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn VN, NH Ngoại thương VN và NH Đầu tư và
Phát triển VN.
Bắt đầu từ 1991, hệ thống NHVN tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng. Các NH thương mại
cổ phần (NHTMCP) nông thôn và đô thị liên tục được thành lập. Số lượng NH trong hệ
thống, bao gồm NHTMNN và NHTMCP, đã tăng từ 4 vào năm 1990 lên 8 vào năm 1991,
rồi 45 vào năm 1993, và 56 vào năm 1997 (chi tiết xem trong Phụ lục 1). Giai đoạn từ
1997 đến 2005, số lượng NH thương mại (NHTM) trong hệ thống tương đối ổn định. Từ
năm 2006, ngành NH chứng kiến hàng loạt NHTMCP được chuyển đổi từ các NHTMCP
nông thôn cùng với 3 NHTMCP được mới thành lập là Tiên Phong, Liên Việt và Bảo Việt
(chi tiết xem trong Phụ lục 5).
1.1.2 Tăng vốn của hệ thống NHVN
Cùng với sự gia tăng số lượng là vốn của các NHTM tăng lên mạnh mẽ. Với việc hội nhập
sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam, ngành NHVN cần sẵn sàng
cạnh tranh với các NH nước ngoài. Vì vậy, nhằm tăng cường khả năng tài chính của hệ
2
thống NH, Chính phủ đã ban hành quy định về lộ trình tăng vốn pháp định của các NHTM
(chi tiết trong Phụ lục 2)
1
.
1.1.3 Sự hình thành và gia tăng sở hữu chéo
Giai đoạn 2005 -2007, chứng kiến sự bùng nổ của thị trường chứng khoán VN, trong đó cổ
phiếu NH trong thời kỳ này trở thành loại cổ phiếu được ưa chuộng hàng đầu. Cổ đông của
các NH đồng lòng tăng vốn với kỳ vọng bán lại được cổ phiếu mới để hưởng thặng dư.
Các đợt phát hành cổ phần nhằm tăng vốn chủ sở hữu của các NHTMCP diễn ra hàng năm.
3
. Tuy nhiên những bằng chứng cụ thể vẫn không
được đưa ra một cách rõ ràng và hơn thế nữa là cũng chưa xác định được liệu những hành
vi này có phạm luật hay không. Vấn đề chính sách cần nghiên cứu ở đây là việc SHC giúp
cho các NHTM lách các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động thời gian qua.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu tác động của sở hữu chéo đến việc tuân thủ quy định về
bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM, từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm
giảm tình trạng SHC trong hệ thống NHTM và hạn chế tác động tiêu cực của SHC.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Các NHTM VN hiện có cấu trúc sở hữu chéo lẫn nhau và với các DN phi NH như
thế nào?
Cơ cấu sở hữu chéo có ảnh hưởng như thế nào đến việc không tuân thủ các quy
định về bảo đảm an toàn hoạt động?
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung vào phân tích cấu trúc sở hữu của 37 NHTMCP và 5 NHTMNN để
phân tích, đánh giá việc tuân thủ khung giám sát của các NHTM trong giai đoạn 2006 -
2011.
1.4 Cấu trúc luận văn
Chương 1 trình bày tổng quan về hệ thống NH Việt Nam, những trục trặc mà các NHTM
đang gặp phải, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách của luận văn. Chương 2 trình
bày khung phân tích trong đó bao gồm mối quan hệ sở hữu – điều hành (principal agent),
chi phí ủy quyền của vốn cổ phần (agency cost of equity) và chi phí ủy quyền của nợ
(agency cost of debt). Tiếp theo luận văn trình bày những trục trặc nảy sinh từ mối quan hệ
ủy quyền trong lĩnh vực NH và việc giám sát NHTM nhằm hạn chế tác động tiêu cực của
mối quan hệ ủy quyền. Đồng thời khung phân tích về SHC được trình bày trong chương
này sẽ giải thích cho việc các NHTM không tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn hoạt
động. Chương 3 sử dụng số liệu thống kê tổng hợp và các nghiên cứu tình huống (NCTH)
3
ra quyết định có liên quan”. Hình 2.1 mô tả mối quan hệ ba chiều giữa cổ đông, người
quản lý và chủ nợ-người gửi tiền trong hoạt động của NHTM.
6
Hình 2.1: Tam giác quan hệ ủy quyền – thừa hành
Người quản
lý
Cổ đông
Chủ nợ/Người gửi tiền
Nguồn: Tác giả tự vẽ theo Lý thuyết uỷ quyền - thừa hành
Để người điều hành thực hiện việc ủy quyền, người sở hữu phải trả công cho họ. Giả định
rằng mỗi cá nhân luôn hành động nhằm tối đa hóa lợi ích của mình, vì vậy không phải lúc
nào người điều hành cũng hành động vì lợi ích cao nhất của người sở hữu. Người sở hữu vì
vậy sẽ phải thiết kế các động cơ khuyến khích thích hợp (appropriate incentives) và phải
mất chi phí giám sát (monitoring expenditure) nhằm hạn chế hoạt động gây tổn hại lợi ích
cho mình từ người điều hành. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp, người điều hành sẽ
chấp nhận tiêu tốn các nguồn lực khác hoặc chịu chi phí ràng buộc (bonding cost) để đảm
bảo với người sở hữu rằng mình sẽ không có những hành động gây tổn hại cho họ hoặc
chấp nhận đền bù thiệt hại nếu mình thực hiện các hành động gây thiệt hại cho người sở
hữu. Do trong hầu hết các mối quan hệ giữa người sở hữu người điều hành luôn phát sinh
chi phí giám sát và chi phí ràng buộc, đồng thời luôn có sự khác biệt về lợi ích của các bên
nên phúc lợi của người sở hữu không được tối đa hóa. Do đó, những mâu thuẫn về lợi ích
này còn gây ra mất mát sau cùng (residual loss) cho lợi ích của người sở hữu. Tổng của chi
phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát sau cùng gọi là chi phí ủy quyền (agency cost)
do chúng xuất phát từ mối quan hệ ủy quyền giữa người sở hữu và người điều hành. Xét về
cơ cấu vốn của doanh nghiệp, chi phí ủy quyền bao gồm chi phí ủy quyền của cổ phần
(agency cost of equity) và chi phí ủy quyền của nợ (agency cost of debt).
2.1.1. Chi phí ủy quyền của vốn cổ phần
Chi phí ủy quyền của vốn cổ phần phát sinh khi người điều hành - người quản lý thực hiện
các quyết định kinh doanh trên cơ sở cân nhắc lợi ích của mình thay vì lợi ích cao nhất của
người chủ sở hữu. Các hoạt động kinh doanh này thậm chí còn không thuộc ngành nghề
8
NHTM với hoạt động chủ yếu là đi vay để cho vay. Nguồn vốn vay chủ yếu của NH chính
là tiền gửi trong nền kinh tế. Lượng tiền huy động từ dân cư và tổ chức của NHTM luôn
lớn gấp nhiều lần vốn điều lệ của NH. Do đó giám sát hoạt động của NHTM là chức năng,
nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý giám sát NH tại mỗi quốc gia.
2.2. Các quy định bảo đảm an toàn hoạt động đối với các NHTM ở VN
Như đã đề cập ở Chương 1, luận văn sẽ nghiên cứu việc tuân thủ các quy định đảm bảo an
toàn trong hoạt động của các NHTM. Những quy định này là cần thiết để kiểm soát xung
đột lợi ích trong các mối quan hệ ủy quyền - thừa hành.
Quy định hiện hành của VN về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM gồm các nội dung
giám sát về vốn, giới hạn tín dụng và giới hạn đầu tư góp vốn cổ phần, tỷ lệ khả năng chi
trả và việc phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro. Các nội dung giám sát sẽ được lần lượt trình
bày dưới đây.
2.2.1 Vốn của NHTM
Vốn điều lệ của NHTM do cổ đông đóng góp. Đây chính là phần trách nhiệm hữu hạn của
cổ đông nhằm chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NH. Do trục trặc lớn
nảy sinh từ vấn đề chi phí ủy quyền của nợ trong hoạt động của các NH, nên ở nhiều nước
có quy định về mức vốn tối thiểu (vốn pháp định) đối với NHTM, theo đó vốn điều lệ của
NHTM phải lớn hơn vốn pháp định. Vốn của NH là nguồn tài chính dự phòng bù đắp rủi
ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Từ năm 2011, theo quy định của
Chính phủ VN
4
, vốn pháp định của NHTMCP hoặc NHTMNN không được thấp hơn 3000
tỷ đồng.
Hướng tới chuẩn mực giám sát quốc tế theo Hiệp ước Basel, bên cạnh quy định về vốn
điều lệ tối thiểu, NHNN đã đưa ra quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (capital
adequacy ratio - CAR) gồm CAR riêng lẻ và CAR hợp nhất. Theo quy định hiện hành
5
, tài
sản có được chia thành nhiều loại với mức độ rủi ro khác nhau từ 0% đến 250%. Các tài
Theo quy định hiện hành
8
NHTM phải xác định rõ một khách hàng và nhóm khách hàng
có liên quan, các đối tượng không được cấp tín dụng, những trường hợp không được cấp
tín dụng không có bảo đảm, cho vay ưu đãi, các đối tượng hạn chế cấp tín dụng. Cụ thể,
tổng dư nợ cho vay một khách hàng là không quá 15% vốn tự có của NHTM và tổng dư nợ
cho vay tối đa với một nhóm khách hàng có liên quan là 25% vốn tự có của NH. Khoản
đầu tư trái phiếu do DN phát hành cũng được tính gộp vào dư nợ tín dụng. Các NHTM
không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà
NHTM nắm quyền kiểm soát.
6
Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN.
7
Thông tư 13, đã dẫn.
8
Luật các tổ chức tín dụng 2010. Điều 4 khoản 28, Điều 126, 127, 128 và 129.
10
2.2.3 Giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần
Hoạt động đầu tư, góp vốn cổ phần thuộc lĩnh vực hoạt động NH đầu tư, không phải là
ngành nghề kinh doanh cốt lõi của NHTM. Để hạn chế trục trặc từ vấn đề chi phí ủy quyền
của vốn cổ phần, khung giám sát hiện hành quy định NHTM phải thành lập hoặc mua lại
công ty con để thực hiện các hoạt động kinh doanh NH đầu tư, cho thuê tài chính và bảo
hiểm.
9
Đồng thời Luật các tổ chức tín dụng
10
cũng quy định tỷ lệ góp vốn tối đa vào mỗi
công ty và tổng mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM
11
. Các NHTM không được góp
12
Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 130
13
Thông tư số 13, đã dẫn
14
Thông tư số 15/2009/TT – NHNN
15
Thông tư số 13, đã dẫn
11
quý (tháng) trước. Theo quy định hiện hành các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 là nợ xấu
của NHTM (chi tiết xem Phụ lục 2.2.5).
NHNN quy định và giám sát việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nhằm bảo đảm
NHTM không bị mất vốn. Đồng thời việc trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu làm
tăng chi phí, từ đó làm giảm lợi nhuận của NHTM. Người gửi tiền được bảo vệ quyền lợi
tốt hơn vì nếu một NHTM có lượng nợ xấu cao, NH đó không thể chia cổ tức. Ngoài năm
nội dung giám sát chính nêu trên, quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM còn
một số nội dung khác, trong đó có hạn chế về kinh doanh bất động sản.
Khung giám sát của NHNN đã được ban hành và liên tục cập nhật, nâng cao nhằm giám
sát tốt hơn nữa hoạt động của các NHTM. Rất nhiều chỉ tiêu giám sát đã gần tiệm cận với
tiêu chuẩn giám sát theo khuyến nghị của Hiệp ước Basel. Về mặt lý thuyết, với mức độ
phát triển hiện tại, nếu các NHTM tuân thủ tốt các quy định hiện hành của khung giám sát
thì an toàn của cả hệ thống NH sẽ được đảm bảo. Tuy nhiên, NHTM phải chịu phí tổn để
tuân thủ khung giám sát và họ có thể có động cơ hình thành các cơ chế để không phải tuân
thủ. SHC là một trong những cơ chế này.
2.3. Vấn đề SHC giữa các NH và giữa DN với NH
2.3.1 SHC trên thế giới
Sở hữu chéo được định nghĩa là doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B và ngược lại
doanh nghiệp B sở hữu doanh nghiệp A. Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) định
nghĩa sở hữu chéo ở Đức là việc các công ty, thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm
giữ lâu dài cổ phần của nhau. Theo Scher (2001), sở hữu chéo ở Nhật Bản thường được
đến tỷ lệ CAR của các NH theo Hiệp ước Basel. Sau những nỗ lực tái cấu trúc tài chính
sau khủng hoảng, mức độ SHC trong các NH Nhật Bản đã giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 cũng đã cho thấy tác động tiêu cực của
SHC tại các quốc gia Đông Á và là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu NH và
sụp đổ tài chính. Claessens, Djankov và Lang (1999) đã xác định rõ mối quan hệ sở hữu tại
các DN lớn ở châu Á với các NCTH về sở hữu chéo. Các DN sở hữu gia đình lớn ở châu
Á đều nắm quyền kiểm soát các NHTM để có thể sử dụng các NH tài trợ cho các dự án của
mình và các công ty có liên quan, đi ngược lại tinh thần các quy định nhằm bảo đảm an
toàn hoạt động.
cấp
13
2.3.2 SHC ở Việt Nam
Gắn với phạm vi nghiên cứu của luận văn, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam được xác định là sở hữu hai chiều giữa NH-NH, giữa DN-NH, giữa nhóm cổ đông và
ngân hàng. Định nghĩa này có thể được coi là sở hữu chéo một cách trực tiếp, nhưng sở
hữu chéo có thể tồn tại một cách gián tiếp. Nếu một nhà đầu tư hoặc một nhóm các nhà đầu
tư hay một doanh nghiệp sở hữu cả ngân hàng A và ngân hàng B thì thực chất ngân hàng A
và ngân hàng B là sở hữu chéo của nhau.
Các hình thức SHC giữa NH-NH và giữa DN-NH ở VN được luận văn khái quát và minh
hoạ bằng ba sơ đồ sở hữu để sử dụng làm khung phân tích. Đó là SHC giữa NHTMNN và
DNNN, giữa các NHTMCP và giữa DN và NH.
2.3.2.1 SHC giữa NHTMNN và DNNN
Hình 2.2 SHC giữa NHTMNN và DNNN
CHÍNH PHỦ
NHNN
Sở hữu
Sở hữu
Quản lý
Tái
vốn
Hình 2.3 SHC giữa hai NHTM
Cổ đông
lớn
Cho vay
Cổ đông thiểu
số
Sở
hữu
Cổ đông thiểu
số
Ngân hàng
A
Sở hữu
Ngân hàng B
Người gửi tiền
Giám
sát
Tái
cấp
vốn
Người gửi tiền
NHNN
Nguồn: Tác giả tự vẽ
Phân tích về SHC giữa NH A và NH B cho thấy tác động tiêu cực gây nên tổn thất cho các
cổ đông thiểu số, người gửi tiền và cho toàn xã hội.
Một hoặc một nhóm cổ đông sở hữu cổ phần chi phối NH A yêu cầu NH A góp vốn hoặc
mua cổ phần lớn của NH B. Do nắm cổ phần lớn ở NH B, NH A có thể cử người vào hội
đồng quản trị (HĐQT) hay hỗ trợ nhân sự cao cấp tham gia điều hành. Do mối quan hệ
chặt chẽ giữa cổ đông của NH A và NH B, xuất hiện các hành động rủi ro. NH B cho vay
hoặc mua cổ phần của các công ty do cổ đông lớn của NH A sở hữu hoặc có liên quan.
lớn
Cho vay
Sở
hữu
Sở
hữu
Doanh nghiệp D
Ngân hàng
C
Giám
sát
Tái
cấp
vốn
NHNN
Nguồn: Tác giả tự vẽ