skkn một số kinh nghiệm trong công tác tuyển chọn bồi dưỡng học sinh giỏi - Pdf 25

Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
1/23
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : Phòng Giáo dục trung học
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC
TUYỂN CHỌN BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Người thực hiện: Nguyễn Quốc Tuấn
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: 
Phương pháp giáo dục X
Lĩnh vực khác: 
Có đính kèm:
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Quốc Tuấn
2. Ngày tháng năm sinh: 10/10/1961
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: 42NX khu phố 4, P. Tân Phong - Biên Hòa-Đồng Nai
5. Điện thoại: (CQ)/ (NR); ĐTDĐ:
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Phó trưởng phòng Giáo dục trung học
8. Đơn vị công tác: Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1984

- Nội dung chương trình thi HSG môn Sinh học có nhiều phân môn theo chương
trình, SGK mà không ai có thể dạy hay, dạy giỏi tất cả các phân môn đó nên việc đầu
tiên của giáo viên là tự học để nâng cao trình độ chuyên môn về kiến thức, về phương
pháp giảng dạy.
- Giáo viên dạy hay là giáo viên có khả năng làm cho học sinh trở nên ham thích
giờ học, môn học của mình và giúp học sinh ngày càng nâng cao khả năng tự học để tiếp
tục phát triển. Tuy nhiên, các kì thi HSG lớp 12 thường diễn ra ở tháng 10 hàng năm,
khi học sinh mới học được hơn một tháng. Do vậy, để giáo viên tìm hiểu và nắm bắt
được năng lực của học sinh là rất khó. Vì vậy, chọn được học sinh có năng lực vào đội
tuyển môn sinh học gặp không ít khó khăn.
- Về thái độ của học sinh với môn học
+ HS rất thích học môn sinh học vì kiến thức môn học mang lại sự hiểu biết về
thực tiễn cuộc sống và giải thích được nhiều hiện tượng xảy ra trên cơ thể thực vật, động
vật và con người.
+ Tuy là đa số HS rất thích học, song một số HS vẫn không có hứng thú học tập và
một số đông HS chán nản, thờ ơ, khi đến giờ sinh học thì trông cho hết giờ vì một số
nguyên nhân sau:
• Lượng kiến thức nhiều, khó tiếp thu, khó học.
• Ít tiếp xúc thực tế, không được thực hành thường xuyên.
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
3/23
• Bài tập nhiều dạng, thời gian học ít nên chưa nắm bắt được.
• Thiết bị học sinh học còn hạn chế và chưa đủ đáp ứng cho dạy Sinh học.
- Hiện nay, hình thức thi HSG là tự luận khác với thi tuyển đại học là trắc
nghiệm, do đó, những giáo viên dạy luyện thi đại học có tiếng cũng không hẳn phù hợp
với việc dạy đội tuyển. Học sinh đã có giải học sinh giỏi vẫn có thể không đạt được
điểm tuyệt đối trong kì thi TNPT hay kỳ thi đại học điều đó đã làm cho học sinh không
muốn tham gia vào đội tuyển. Điều này chỉ có người tham gia giảng dạy mới hiểu và
thật không phải dễ dàng để Ban giám hiệu hay phụ huynh học sinh chấp nhận khi thầy
trò không đạt được kì vọng của mọi người đặt vào đội tuyển qua mỗi kì thi.

khoa và nhiều tác giả có uy tín chuyên môn cao từ các trường Đại học trên cả nước. Như
vậy, có thể nói, tài liệu dành cho việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và học sinh hiện nay
cũng không thiếu, chỉ lo không có thì giờ đọc chứ không lo không có sách để đọc. Bên
cạnh đó, nguồn tài nguyên tri thức gần như vô tận có thể khai thác từ mạng internet :
Tiếng Việt có, tiếng Anh có, ngoại ngữ khác cũng có, văn bản có, hình ảnh có, phim
cũng có, đề thi quốc gia của các nước và đề thi quốc tế hàng năm cũng có. Có thể nói
chỉ cần vào mạng internet mỗi ngày và biết chắt lọc những kiến thức hữu ích mà biên
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
4/23
soạn lại thành tài liệu giáo trình thì giáo viên nào cũng có thể thu thập đủ kiến thức để
trở thành giáo viên dạy giỏi.
Tuy nhiên một điều hết sức quan trọng, mà theo tôi, giáo viên cần hết sức quan
tâm là khai thác sâu hơn 2 bộ sách giáo khoa và sách giáo viên - những tài liệu gần gũi
dễ tìm nhất mà giáo viên, học sinh nào cũng có. Đọc cẩn thận, suy nghĩ và tìm cách khai
thác tốt nhất những kiến thức cô đọng trong sách giáo khoa, biết cách đặt câu hỏi nhằm
khai thác tối đa lượng kiến thức trong sách giáo khoa cũng đủ để học sinh có thể giúp
học sinh trở thành học sinh giỏi, biết cách tự học và đạt kết quả cao trong các kì thi.
2) Về tổ chức dạy và học cho học sinh giỏi
Phương pháp dạy học sinh giỏi chủ yếu là phương pháp dạy cho học sinh phương
pháp học tập và cách làm bài thi, bao gồm các phương pháp học với thầy, phương pháp
học với bạn, phương pháp học với tài liệu và các kĩ năng phân tích câu hỏi, kĩ năng xây
dựng dàn ý, kĩ năng chọn lọc từ ngữ và diễn đạt thành thạo trong sáng các ý tưởng nảy
sinh trong đầu khi làm bài thi tự luận; đồng thời là kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng phán đoán
nhanh, kĩ năng vận dụng kiến thức cơ bản, phân tích và tổng hợp kiến thức để xử lí các
tình huống của câu hỏi khó trong đề thi.
Hiện nay Việt Nam đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện các khâu của quá
trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Việc đổi mới chương trình và sách giáo
khoa đã và đang được tiến hành cùng với việc đổi mới cách dạy và học cũng như đổi
mới cách kiểm tra đánh giá. Kiến thức khoa học nói chung và sinh học nói riêng đang
gia tăng mạnh mẽ, do vậy giáo viên phải luôn luôn cập nhật kiến thức. Tuy nhiên, hiện

một quá trình làm việc vất vả. Vì thế qua từng bài học, ở tất cả các môn học, học sinh
cần được tạo điều kiện để rèn luyện các kĩ năng.
Trong các bài học của SGK thường xen vào những câu hỏi để học sinh dừng lại
suy nghĩ, xử lí và vận dụng thông tin đã học. Giáo viên không nên kì vọng vào việc học
sinh trả lời đúng hay sai các câu hỏi nêu trong SGK mà cái chính cần quan tâm là tại sao
học lại trả lời như vậy. Qua cách trả lời của học sinh giáo viên cần phát hiện học sinh có
những hiểu biết sai lệch ở chỗ nào, tại sao các em lại mắc những sai sót như vậy.
Khi học sinh trả lời các câu hỏi trên lớp thì giáo viên không nên chỉ quan tâm đến
nội dung kiến thức sinh học mà cần uốn nắn cho các em về tiếng Việt để rèn luyện kỹ
năng diễn đạt bằng lời của học sinh.
Hướng dẫn HS cách xử lý thông tin. Các câu hỏi “tại sao, làm thế nào?” luôn được
đặt ra cho HS trong từng bài học của SGK giúp các em có thói quen xử lý thông tin để
hiểu thấu đáo các khái niệm, nhờ đó ghi nhớ sâu hơn, rèn luyện cách thu thập thông tin
và làm việc khoa học.
Học theo hướng tích hợp. Sinh học là khoa học đa ngành, muốn hiểu được sâu sắc
các khái niệm cơ bản của môn học cũng như lý giải được các hiện tượng của sự sống
cần phải nắm được các khái niệm của các khoa học khác như toán, vật lý, hoá học. Vì
suy cho cùng thì mọi hiện tượng sống đều do các chất hoá học cấu tạo nên. Chẳng hạn
đặc tính hoá học của các nguyên tử quy định đặc tính của các phân tử và đến lượt mình
đặc tính lý hoá của các phân tử tạo nên tế bào lại quy định các đặc tính sinh học của tế
bào Tích hợp các phần môn của sinh học. Sinh học bao gồm nhiều phân môn, phải làm
sao để HS có thể nắm bắt các kiến thức của phân môn này một cách hệ thống và có thể
vận dụng một cách linh hoạt. Cách tốt nhất phải biết sử dụng những chủ đề cốt lõi để
khâu nối các phân môn lại với nhau tạo nên một hệ thống kiến thức hoàn chỉnh. Chẳng
hạn như cấu trúc phù hợp với chức năng. Nếu nắm được cấu trúc thì có thể suy ra chức
năng và ngược lại. Hoặc dùng chủ đề tiến hoá để khâu nối các lĩnh vực khác nhau của
sinh học. Thế giới sống liên tục tiến hoá tạo nên các đặc điểm thích nghi của các dạng
sống
Một số người quan niệm rằng dạy học tích cực hay dạy học theo kiểu lấy học sinh
làm trung tâm là trong khi dạy cần đưa ra các câu hỏi để học sinh trả lời chứ không nên

hình thức nào là ưu việt tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu dạy nhằm phát triển các kĩ năng cần
thiết để người học sau này có thể tự mình học hỏi thêm, tự mình xử lí các tình huống thì
mọi hình thức thi, ở mọi nơi, mọi chỗ đều hướng tới đánh giá những kĩ năng ở người
học.
Phương pháp dạy học gắn liền với kiểm tra đánh giá và cả hai đều chịu sự chi phối
của mục tiêu dạy học, nhưng mục tiêu cụ thể và trực tiếp nhất của các thi học sinh giỏi
hiện nay là bao nhiêu học sinh đạt giải? Năm nay so với năm trước thế nào? Trường này
so với trường khác thế nào? Do đó phương pháp dạy phổ biến hiện nay dạy luyện thi
học sinh giỏi, đáp ứng mục tiêu cụ thể trực tiếp là có nhiều học sinh đạt giải.
Người giáo viên có kinh nghiệm sẽ nghiên cứu chương trình, tư liệu có trong tay,
tham khảo các đề thi đã ra, nghe ngóng, phán đoán và soạn bài dạy, soạn đề cho học
sinh luyện tập. Học sinh miệt mài học, học để thi, thi để đạt giải.
Người giáo viên giỏi là người phải biết đưa ra các hoạt động thích hợp để phát hiện
ra những điểm yếu, điểm mạnh của học sinh và biết cách khắc phục những nhược điểm
đó cũng như biết cách động viên phát huy tối đa những điểm mạnh của học sinh. Điều
này còn phụ thuộc vào cách đặt vấn đề giúp học sinh có thể khác thác tốt nội dung kiến
thức đã có để giải quyết một vấn đề diễn ra trong thực tiễn cuộc sống. Đây là xu hướng
chính của các đề thi hiện nay.
Tuy nhiên, bộ môn sinh học ở các trường THPT hiện nay có rất ít giáo viên(từ 3
đến người) được đào tạo từ các trường đại học khác nhau nên trình độ, kinh nghiệm
công tác khác nhau. Do vậy để học tập được kĩ năng, kinh nghiệm từ đồng nghiệp
thường có nhiều khó khăn; mặc dù hiện nay ở Đồng Nai đã có Hội đồng bộ môn và
hằng năm đã mở được một số chuyên đề về chuyên môn nhằm hỗ trợ cho giáo viên
nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng nhu cầu nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên.
Để giúp các giáo viên có tài liệu tham khảo và đồng thời định hướng cách dạy,
cách khai thác kiến thức trong sách giáo khoa… tôi xin trình bày một số dạng câu hỏi
nhằm giúp giáo viên có tư liệu tham khảo.
B. Một số dạng câu hỏi minh họa
1) Để học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng của các bào quan
(Sinh học 10) có thể đưa ra dạng câu hỏi sau:

a) Đọc sách giáo khoa và hoàn thành câu hỏi sau: ARN là gì? Nguồn gốc và phân
loại ARN ở tế bào nhân chuẩn? Nêu những điểm giống nhau và khác nhau trong
cấu trúc và chức năng của các loại ARN đó.
b) Các em hãy dựa vào thông tin SGK và phân tích sự phù hợp giữa cấu trúc khảm
động với chức năng của màng sinh chất.
c) Các em hãy dựa vào thông tin SGK và cho biết sự hợp lý giữa số lượng, cấu trúc
và chức năng của ti thể được thể hiện như thế nào?
d) Các em hãy dựa vào thông tin SGK “Mục VI. Bài 9. Tế bào nhân thực” (Sinh
học 10) và cho biết:
- Sự khác biệt về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm chức năng của các cấu trúc bên
ngoài màng sinh chất ở tế bào thực vật và tế bào động vật? Từ đó rút ra nhận xét
về mối quan hệ cấu tạo – chức năng.
- Điểm khác biệt của chất nền ngoại bào ở mô biểu bì và mô xương ở người?
4) Sử dụng các câu hỏi trong các đề thi tuyển sinh đại học để kích thích học sinh
nắm vững kiến thức, củng cố kiến thức… và giúp HS thấy việc lĩnh hội kiến thức
để thi HS giỏi hay thi đại học cũng như nhau, chỉ khác về hình thức kiểm tra.
Điều này giúp cho học sinh có hứng thú, có lợi ích khi tham gia vào đội tuyển
học sinh giỏi.
a) Dạng bài tập trích từ các đề thi đại học được phân loại theo các dạng bài tập.
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
8/23
• (ĐH 2009): Trong trường hợp giảm phân và thụ tinh bình thường, một gen quy định
một tính trạng và gen trội là trội hoàn toàn. Tính theo lí thuyết, phép lai AaBbDdHh
x AaBbDdHh sẽ cho kiểu hình mang 3 tính trạng trội và 1 tính trạng lặn ở đời con
chiếm tỉ lệ
A. 81/256. B. 9/64. C. 27/256. D. 27/64.
Hướng dẫn: Số cá thể mang 3 tính trạng trội là 1 tính trạng lặn sẽ là ¾ x ¾ x ¾ = 27/64
à Đáp án D.
• (ĐH 2009): Ở đậu Hà Lan, gen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với alen a quy
định thân thấp. Cho cây thân cao giao phấn với cây thân cao, thu được F

2
tự thụ phấn cho được F
3
.
Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, tỉ lệ phân li kiểu hình ở F
3
là:
A. 1 cây thân cao: 1 cây thân thấp B. 3 cây thân cao: 5 cây thân thấp
C. 3 cây thân cao: 1 cây thân thấp D. 5 cây thân cao: 3 cây thân thấp.
Hướng dẫn: Ở F
2
có 3 kiểu gen 1AA: 2Aa: 1aa
AA tự thụ cho ra 100% AA.
2 Aa tự thu cho ra
2
4
AA:
4
4
Aa:
2
4
aa.
aa tự thụ cho ra 100% aa. Cộng tất cả vào ta được tỉ lệ phân li kiểu hình ở F
3
là: 5 cây
thân cao: 3 cây thân thấp à Đáp án D.
• (ĐH 2013): Ở một loài thực vật, lôcut gen quy định màu sắc quả gồm 2 alen, alen A
quy định quả đỏ trội hoàn toàn so với alen a quy định quả vàng. Cho cây (P) có kiểu gen
dị hợp Aa tự thụ phấn, thu được F

A. X
A
X
a
Y, X
a
Y. B. X
a
Y, X
A
Y. C. X
A
X
A
Y, X
a
X
a
Y. D. X
A
X
A
Y, X
a
Y.
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
9/23
Hướng dẫn: Theo giả thiết kiểu gen của người bố X
A
Y, kiểu gen của người mẹ X

(mù màu)
G
p
: X
A
Y; O X
a
F
1
: 1X
A
X
a
Y (không mù màu): X
a
O (mù màu, tơcnơ)
Từ 2 trường hợp trên ta nhận thấy đứa con trai sinh ra của cặp vợ chồng có thể có kiểu
gen X
a
Y và X
A
X
a
Y à Đáp án D.
• (ĐH 2011): Ở ruồi giấm, alen A quy định mắt đỏ trội hoàn toàn so với alen a quy
định mắt trắng. Trong trường hợp không xảy ra đột biến, phép lai nào sau đây cho
đời con có kiểu hình phân li theo tỉ lệ 2 ruồi cái mắt đỏ : 1 ruồi đực mắt đỏ : 1 ruồi
đực mắt trắng?
A. X
A


X
A
Y
Hướng dẫn:- F1 thu được 4 tổ hợp giao tử = 2 x 2 => ruồi cái: X
A
X
a
.
- F1 không có ruồi cái mắt trắng X
a
X
a
=> ruồi đực P phải có kiểu gen X
A
Y.
• (ĐH 2011): Ở gà, alen A quy định tính trạng lông vằn trội hoàn toàn so với alen a
quy định tính trạng lông nâu. Cho gà mái lông vằn giao phối với gà trống lông nâu (P),
thu được F
1
có kiểu hình phân li theo tỉ lệ 1 gà lông vằn : 1 gà lông nâu. Tiếp tục cho F
1
giao phối với nhau, thu được F
2
có kiểu hình phân li theo tỉ lệ 1 gà lông vằn : 1 gà lông
nâu. Phép lai (P) nào sau đây phù hợp với kết quả trên ?
A. Aa × aa. B. AA × aa. C. X
A
X
a

x X
A
Y cho đời F2 3 lông vằn: 1 lông đen chỉ có ở gà
mái à Đáp án C.
• (ĐH 2013): Ở gà, gen quy định màu sắc lông nằm trên vùng không tương đồng của
nhiễm sắc thể giới tính X có hai alen , alen A quy định lông vằn trội hoàn toàn so với
alen a quy định lông không vằn. Gen quy định chiều cao chân nằm trên nhiễm sắc thể
thường có 2 alen, alen B quy định chân cao trội hoàn toàn so với alen b quy định chân
thấp. Cho gà trống lông vằn, chân thấp thuần chủng giao phối với gà mái lông không
vằn, chân cao thuần chủng thu được F1. Cho F1 giao phối với nhau để tạo ra F2. Dự
đoán nào sau đây về kiểu hình ở F2 là đúng ?
A. Tất cả gà lông không vằn , chân cao đều là gà trống
B. Tỉ lệ gà mái lông vằn, chân thấp bằng tỉ lệ gà mái lông không vằn, chân thấp
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
10/23
C. Tỉ lệ gà trống lông vằn, chân thấp bằng tỉ lệ gà mái lông vằn , chân cao
D. Tỉ lệ gà trống lông vằn, chân thấp bằng tỉ lệ gà mái lông không vằn, chân cao
Hướng dẫn:
P: ♂ lông vằn, chân thấp
A A
X X
bb x ♀ lông không vằn, chân cao XaYBB
F1: XAXa Bb : XaYbb
F2: …. => Tỉ lệ gà mái lông vằn, chân thấp bằng tỉ lệ gà mái lông không vằn, chân thấp
à Đáp án B.
• (ĐH 2009): Ở một loài thực vật, màu sắc hoa là do sự tác động của hai cặp gen (A,a
và B,b) phân li độc lập. Gen A và gen B tác động đến sự hình thành màu sắc hoa
theo sơ đồ :
Gen A gen B
enzim A enzim B


A.
3
8
B.
1
8
C.
1
6
D.
3
16
Hướng dẫn: Theo giả thiết, tỉ lệ phân li kiểu hình ở F
1
về tính trạng màu sắc là 12
trắng : 3 vàng : 1 đỏ. Ở đây khi không có gen át chế can thiệp thì tỉ lệ kiểu hình vàng/ đỏ
= 3/1, chứng tỏ vàng trội so với đỏ.
- Nếu kí hiệu vàng A thì đỏ là a là vàng, gen B là gen át chế màu sắc hạt, gen b là gen
cho màu sắc hạt biểu hiện. Để tạo ra 16 tổ hợp gen ở F
1
thì cơ thể P đem lai phải dị hợp
tử về 2 cặp gen, có kiểu gen AaBb. Theo giả thiết ở F
1
ta có 12/16 tổ hợp có kiểu hình
hạt trắng. Trong đó có 2/12 tổ hợp gen đồng hợp tử có kiểu hình trắng (1/12 AABB +
1/12 aaBB = 1/6) à Đáp án C.
• (ĐH 2010): Ở một loài thực vật lưỡng bội, alen A quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so
với alen a quy định hoa tím. Sự biểu hiện màu sắc của hoa còn phụ thuộc vào một gen
có 2 alen (B và b) nằm trên một cặp nhiễm sắc thể khác. Khi trong kiểu gen có alen B

3
là:
A.
1
16
. B.
81
256
. C.
1
81
. D.
16
81
.
Hướng dẫn: Số cây có KG đồng hợp lặn ở F
3
sẽ là:
1
16
(1)
- Chọn ngẫu nhiên hai cây có hoa màu đỏ ở F
2
cho giao phấn với nhau, để có được cây
hoa màu trắng ở F
3
thì hai cây hoa màu đỏ được chọn ngẫu nhiên ở F
2
cho giao phấn với
nhau đều có xác suất xuất hiện là:

A. hai gen không alen tương tác với nhau theo kiểu cộng gộp quy định.
B. một gen có 2 alen quy định, alen trội là trội không hoàn toàn.
C. một gen có 2 alen quy định, alen trội là trội hoàn toàn.
D. hai gen không alen tương tác với nhau theo kiểu bổ sung quy định.
Hướng dẫn: Dựa vào giả thiết, khi lai F
1
với cây hoa trắng thuần chủng P đời con cho tỉ
lệ kiểu hình 3 trắng : 1 đỏ chứng tỏ có hiện tượng tương tác gen bổ sung giữa 2 gen trội
không alen à Đáp án D.
• (ĐH 2011): Cho giao phấn hai cây hoa trắng thuần chủng (P) với nhau thu được F
1
toàn cây hoa đỏ. Cho cây F
1
tự thụ phấn, thu được F
2
gồm 89 cây hoa đỏ và 69 cây hoa
trắng không xảy ra đột biến, tính theo lí thuyết. tỉ lệ phân li kiểu gen ở F
2
là:
A. 1: 2 :1 :2 :4 :2 :1 :1 :1 B. 1 : 2 : 1 : 1 : 2 : 1 :1 :2 :1
C. 4 :2 : 2: 2 :2 :1 :1 : 1 :1 D. 3 : 3 : 1 :1 : 3 : 3: 1: 1 : 1
Hướng dẫn:F2 có tỉ lệ KH: 89 : 69

9 : 7 = 16 tổ hợp giao tử = 4 x 4 => F1: AaBb. Tỉ
lệ kiểu gen ở F2 là ( 1: 2: 1)
2
= 1: 2: 1: 2: 4: 2: 1: 2: 1.
• (ĐH 2011): Ở ngô, có 3 gen không alen phân li độc lập, tác động qua lại cùng quy
định màu sắc hạt, mỗi gen đều có 2 alen (A, a; B, b; R, r). Khi trong kiểu gen có mặt
đồng thời cả 3 alen trội A, B, R cho hạt có màu; các kiểu gen còn lại đều cho hạt

toàn cây hoa trắng. Cho F
1
giao phấn với nhau thu được F
2
gồm
81,25% cây hoa trắng và 18,75% cây hoa đỏ. Cho F
1
giao phấn với tất cả các cây hoa đỏ
ở F
2
thu được đời con. Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lý thuyết, ở đời con số cây
có kiểu gen đồng hợp tử lặn về hai cặp gen trên chiếm tỉ lệ
A. 1/12 B. 1/24 C. 1/8 D. 1/16.
Hướng dẫn:
- Để cho đời con có kiểu gen đồng hợp lặn 2 cặp gen thì ở F
2
cây hoa đỏ có kiểu gen dị
hợp 1 cặp aaBb chiếm tỷ lệ
2
3
.
- Kiểu gen F
1
AaBb x aaBb cho ra đời đời con có kiểu gen aabb chiếm
1
8
.
- Tích 2 kết quả trên ta được
2
3

Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
13/23
1 cây quả bầu dục. Cho cây F
1
tự thụ phấn thu được F
2
. Cho tất cả các cây quả tròn F
2
giao phấn với nhau thu được F
3
. Lấy ngẫu nhiên một cây F
3
đem trồng, theo lí thuyết,
xác suất để cây này có kiểu hình quả bầu dục là:
A. 1/9 B. 1/12 C. 1/36 D. 3/16
Hướng dẫn: F
B
cho 4 tổ hợp giao tử àF
1
dị hợp 2 cặp gen AaBb. F
B
cho tỉ lệ 1 dẹt: 2
tròn: 1 bầu dục àtương tác gen kiểu bổ trợ.
Quy ước: A-B-: dẹt; A-bb, aaB-: tròn; aabb: bầu dục.
F
1
x F
1
à F
2

, ta có
A. 100% cây hoa đỏ. B. 100% cây hoa trắng.
C. 75% cây hoa trắng, 25% cây hoa đỏ. D. 75% cây hoa đỏ, 25% cây hoa trắng.
Hướng dẫn:Đây là kết quả của phép lai tính trạng do gen ngoài nhân quy định.
• (ĐH 2009): Ở cừu, kiểu gen HH quy định có sừng, kiểu gen hh quy định không sừng,
kiểu gen Hh biểu hiện có sừng ở cừu đực và không sừng ở cừu cái. Gen này nằm trên
nhiễm sắc thể thường. Cho lai cừu đực không sừng với cừu cái có sừng được F
1
, cho F
1
giao phối với nhau được F
2
. Tính theo lí thuyết, tỉ lệ kiểu hình ở F
1
và F
2

A. F
1
: 1 có sừng : 1 không sừng ; F
2
: 1 có sừng : 1 không sừng
B. F
1
: 1 có sừng : 1 không sừng ; F
2
: 3 có sừng : 1 không sừng
C. F
1
: 100% có sừng ; F

phân li độc lập và không có đột biến xảy ra. Tính theo lí thuyết, trong tổng số các cá thể
thu được ở đời con, số cá thể có kiểu gen đồng hợp về một cặp gen và số cá thể có kiểu
gen đồng hợp về hai cặp gen trên chiếm tỉ lệ lần lượt là:
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
14/23
A. 50% và 25% B. 25% và 50% C. 25% và 25% D. 50% và 50%
Hướng dẫn: Giả sử kiểu gen của cây lưỡng bội đó là AaBb khi tự thụ phấn ta có 9 kiểu
gen ở đời con có tỉ lệ: 1AABB: 2AABb: 1AAbb: 2AaBB: 4AaBb: 2 Aabb: 1aaBB:
2aaBb: 1aabb. Từ đó suy ra tỉ lệ % cây có kiểu gen đồng hợp về 1 cặp gen là: 50%; tỉ lệ
% có kiểu gen đồng hợp tử về 2 cặp gen là: 25%.
Vậy đáp án của bài toán là A. 50 % và 25 %
• (ĐH 2011): Cho biết mỗi gen quy định một tính trạng, alen trội là trội hoàn toàn và
không xảy ra đột biến. Trong một phép lai, người ta thu được đời con có kiểu hình phân
li theo tỉ lệ 3A-B- : 3aaB- : 1A-bb : 1aabb. Phép lai nào sau đây phù hợp với kết quả
trên ?
A. Aabb × aaBb. B. AaBb × AaBb.
C. AaBb × Aabb. D. AaBb × aaBb.
Hướng dẫn:F
1
phân li kiểu hình theo tỉ lệ 3: 3: 1: 1= (3: 1)(1:1). Đáp án A cho tỉ lệ kiểu
hình (1:1)(1:1) và đáp án B là (3:1)(3:1) =>loại. Đáp án D cho tỉ lệ kiểu hình là: (1A- :
1aa)(3B- : 1bb) = 3 A-B- : 3aaB- : 1A-bb : 1aabb => Đáp án D.
• (ĐH 2012): Ở một loài thực vật lưỡng bội, alen A quy định thân cao trội hoàn toàn
so với alen a quy định thân thấp; alen B quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với alen b
quy định hoa vàng, các gen phân li độc lập. Cho cây thân cao, hoa đỏ (P) tự thụ
phấn, thu được F
1
gồm 4 loại kiểu hình. Cho cây P giao phấn với hai cây khác nhau:
- Với cây thứ nhất, thu được đời con có kiểu hình phân li theo tỉ lệ 1:1:1:1.
- Với cây thứ hai, thu được đời con chỉ có một loại kiểu hình.

dục; 30 cây thân cao, quả bầu dục; 150 cây thân thấp, quả tròn.
Cho biết : Tình trạng chiều cao cây được quy định bởi một gen có hai alen (A và a), tình
trạng hình dạng quả được quy định bởi một gen có hai alen (B và b), các cặp gen này
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
15/23
đều nằm trên nhiễm sắc thể thường và không có đột biến xảy ra. Kiểu gen của cây lưỡng
bội (I) là :
A.
AB
ab
B.
Ab
ab
C.
aB
ab
D.
Ab
aB
Hướng dẫn: Theo bài ra ta biện luận được kiểu gen của cây lưỡng bội I dị hợp về 2 cặp
gen, 2 gen này có hoán vị gen ở cây lưỡng bội I với tần số 25% (cách tính dựa vào tỉ lệ
cây thấp, bầu dục ở phép lai 1 hoặc 2) => tỉ lệ giao tử là: ab = AB = 18,75%; Ab = aB =
12,5% => Kiểu gen của cây lưỡng bội I là:
AB
ab
-> Đáp án A.
• (ĐH 2010): Lai hai cá thể đều dị hợp về 2 cặp gen (Aa và Bb). Trong tổng số các cá
thể thu được ở đời con, số cá thể có kiểu gen đồng hợp lặn về cả 2 cặp gen trên chiếm
tỉ lệ 4%. Biết hai cặp gen này cùng nằm trên một cặp nhiễm sắc thể thường và không có
đột biến xảy ra. Kết luận nào sau đây về kết quả của phép lai trên là không đúng?

Vậy đáp án đúng là C.
• (ĐH 2011): Trong quá trình giảm phân ở một cơ thể có kiểu gen
D d
e E
AaBbX X
đã xảy
ra hoán vị gen giữa các alen D và d với tần số 20%. Cho biết không xảy ra đột biến, tính
theo lí thuyết, tỉ lệ loại giao tử
d
e
abX
được tạo ra từ cơ thể này là :
A 2,5% B. 5,0% C.10,0% D. 7,5%
Hướng dẫn:Xét riêng từng cặp:
- Cặp X
D
e
X
d
E
-> giao tử X
d
e
= 10%
- Cặp AaBb -> giao tử: ab = 25%
=> Tổ hợp: abX
d
e
= 0,25 x 0,1 = 0,025 = 2,5% -> Đáp án A.
• (ĐH 2011): Ở một loài thực vật, alen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với alen

A.7,5% B. 45,0% C. 30,0% D. 60,0%
Hướng dẫn:Ở F
1
có kiểu hình thân đen, cánh cụt, mắt trắng (
d
ab
X Y
ab
) = 2,5% mà ruồi
mắt trắng F
1
là ruồi đực (X
d
Y) chiếm tỉ lệ 25%, mắt đỏ chiếm 75%.
=> Ruồi đen, cụt ở F
1

ab
ab
= 2,5% : 25% = 10% ⇒Xám, dài = 50% + 10% = 60%
Vậy, tỉ lệ kiểu hình thân xám, cánh dài, mắt đỏ ở F
1
là: 60% x 75% = 45% ⇒ Đáp án B.
• (ĐH 2012): Ở ruồi giấm, xét hai cặp gen nằm trên cùng một cặp nhiễm sắc thể
thường. Cho hai cá thể ruồi giấm giao phối với nhau thu được F
1
. Trong tổng số cá thể
thu được ở F
1
, số cá thể có kiểu gen đồng hợp tử trội và số cá thể có kiểu gen đồng hợp

(P)
AB
ab
DE
de
x
AB
ab
DE
de
trong trường hợp giảm phân bình thường, quá trình phát sinh
giao tử đực và giao tử cái đều xảy ra hoán vị gen giữa các alen B và b với tần số 20%,
giữa các alen E và e có tần số 40%, cho F
1
có kiểu hình thân cao, hoa tím, quả đỏ, tròn
chiếm tỉ lệ:
A.38,94% B.18,75% C. 56,25 % D. 30,25%
Hướng dẫn: Xét riêng từng cặp NST tương đồng:
- P:
AB
ab
x
AB
ab

G: (0,4 AB; 0,4 ab; 0,1 Ab; 0,1 aB) ( 0,4 AB; 0,4 ab; 0,1 Ab; 0,1aB)
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
17/23
F1: Thấp, trắng
ab

dd B.
Ad
aD
Bb ×
ad
ad
bb C. Aa
BD
bd
× aa
bd
bd
D.
AD
ad
Bb ×
ad
ad
bb
Hướng dẫn: Xét tính trạng chiều cao và màu sắc quả ở đời lai F
1
có tỉ lệ kiểu hình 1: 1:
1: 1 chứng tỏ A và B di truyền độc lập.
- Xét tính trạng chiều cao và hình dạng quả ở đời lai F
1
có tỉ lệ kiểu hình 1 cao dài: 1
thấp tròn, chứng tỏ 2 gen này liên kết hoàn toàn trên 1 NST. Đây là phép lai phân tích,
cơ thể mang 2 gen trội dị hợp tử chéo:
Ad
aD

2
chiếm tỉ lệ :
A. 49,5% B. 54,0% C. 16,5% D. 66,0%
Hướng dẫn: F
2
có kiểu hình thân thấp, hoa vàng và quả dài
ab
ab
dd = 4 % =
ab
ab
* 25 %
(với 25 % là tỉ lệ dd chiếm 25 % trong phép lai ứng với cặp gen Dd x Dd)
=>
ab
ab
= 4 % : 25 % = 16 % => Kiểu hình cao, đỏ
AB
− −
= 50% + 16% = 66% (1)
- Mà trong phép lai Dd x Dd sẽ tạo ra 75 % D- (2)
Từ kết quả (1) và (2) ta có kết quả cuối cùng tính theo lý thuyết cây có kiểu hình thân
cao, hoa đỏ, quả tròn ở F
2
chiếm tỉ lệ : 66 % x 75 % = 49,5% => Đáp án A.
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
18/23
• (ĐH 2013): Ở một loài sinh vật, hai cặp gen A,a và B,b cùng nằm trên một cặp
nhiễm sắc thể và cách nhau 20cM. Hai cặp gen D,d và E, e cùng nằm trên một cặp
nhiễm sắc thể khác và cách nhau 10cM. Cho phép lai:

Ad
Bb
aD
C.
AD
Bb
ad
D.
Bd
Aa
bD
Hướng dẫn: Xét riêng từng tính trạng đều có tỉ lệ 3 : 1 => Kiểu gen P: (Aa,Bb,Dd).
- Tỉ lệ F1 là 3:1:6:2:3:1 => có 16 tổ hợp kết luận có 2 cặp gen cùng nằm trên 1 cặp
NST.
- F1 không có kiểu hình thấp, trắng, dài (aa,bb, dd) nên bố mẹ không thể cho giao tử
(a,b,d) => a và b không cùng nằm trên 1 cặp NST vì nếu chúng liên kết thì thế hệ sau sẽ
có KH thấp, trắng, dài. => chỉ có thể a liên kết với D hoặc b lk với D: Xét a lk với D KG
của P là
Ad
Bb
aD
tỉ lệ đời con là (1cao, dài: 2 cao tròn: 1 thấp tròn)(3 đỏ: 1 trắng)= 3cao,
đỏ, dài: 1cao, trắng, dài: 6cao, đỏ, tròn: 2 cao, trắng, tròn: 3 thấp đỏ tròn: 1 thấp trắng
tròn . Đúng với kết quả F1 => Kiểu gen P là :
Ad
Bb
aD
=> Đáp án B.
• (ĐH 2013): Cho biết mỗi gen quy định một tính trạng, các alen trội là trội hoàn toàn,
quá trình giảm phân không xảy ra đột biến nhưng xảy ra hoán vị gen ở hai giới với tần

aB
D
a


=
Ab
D
b


= (25% - 17,64%) x 75% = 5,52%
AB
dd
− −
= 67,64% x 25% = 16,91%
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
19/23
=> Tổng: 2 x 5,52% + 16,91% = 27,95% =>Đáp án D.
• (ĐH 2009): Ở ruồi giấm, gen A quy định thân xám là trội hoàn toàn so với alen a
quy định thân đen, gen B quy định cánh dài là trội hoàn toàn so với alen b quy định cánh
cụt. Hai cặp gen này cùng nằm trên một cặp nhiễm sắc thể thường. Gen D quy định mắt
đỏ là trội hoàn toàn so với alen d quy định mắc trắng.Gen quy định màu mắt nằm trên
nhiễm sắc thể giới tính X, không có alen tương ứng trên Y. Phép lai :
AB
ab
X
D
X
d

Y = 0,2 x 0,25 = 0,05 = 5% =>Đáp
án A.
• (ĐH 2012): Ở ruồi giấm, alen A quy định thân xám trội hoàn toàn so với alen a quy
định thân đen; alen B quy định cánh dài trội hoàn toàn so với alen b quy định cánh
cụt; alen D quy định mắt đỏ trội hoàn toàn so với alen d quy định mắt trắng. Thực
hiện phép lai P:
AB
ab

D d
X X
×

AB
ab

D
X Y
thu được F
1
. Trong tổng số các ruồi ở F
1
,
ruồi thân xám, cánh dài, mắt đỏ chiếm tỉ lệ là 52,5%. Biết rằng không xảy ra đột
biến, theo lí thuyết, ở F
1
tỉ lệ ruồi đực thân xám, cánh cụt, mắt đỏ là
A. 3,75% B. 1,25% C. 2,5% D. 7,5%.
Hướng dẫn: Ruồi thân xám, cánh dài, mắt đỏ
AB

Ab
aB
d
X Y
thu được F
1
. Trong tổng số cá thể F
1
, số cá thể cái
có lông hung, chân thấp, mắt đen chiếm tỉ lệ 1%. Biết quá trình giảm phân không xảy ra
đột biến nhưng xảy ra hoán vị gen ở cả hai giới với tần số như nhau. Theo lí thuyết, số
cá thể lông xám dị hợp, chân thấp, mắt nâu ở F
1
chiếm tỉ lệ
A. 8,5% B. 17% C. 2% D. 10%
Hướng dẫn: Con cái hung, thấp, đen:
ab
ab
d d
X X
= 1% =>
ab
ab
= 1% : 25% = 0,04 = 0,4ab
x 0,1ab (vì theo đầu bài, hoán vị gen xảy ra ở 2 giới với tần số như nhau nên loại trường
hợp 0,04 = 0,2ab x 0,2ab ) => f
HVG
= 20%.
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
20/23

X
d
+ X
D
Y = 50% (2). Từ (1) và (2) => số cá thể lông xám dị hợp, chân thấp, mắt
nâu ở F
1
chiếm tỉ lệ 17% x 50% = 8,5% => Đáp án A.
b) Tập hợp các đề thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh môn Sinh học từ năm 2005
đến nay(kèm theo). Các đề thi đã được giám khảo các kì thi học sinh giỏi hằng năm góp
ý và hiệu chỉnh; và đã được trình bày tại hội nghị chuyên đề môn sinh học cấp THPT
cấp tỉnh năm học 2012 – 2013 tại trường THPT Dầu Giây.
Kết quả đạt được, nhờ cách hiểu như trên mà tôi khai thác sử dụng trong việc ra đề
thi học sinh giỏi cấp tỉnh các năm gần đây. Nhờ đó, đã giúp Sở GD&ĐT Đồng Nai đã
tuyển chọn được những học sinh giỏi đáp ứng chọn việc hình thành đội tuyển học sinh
giỏi môn sinh học dự thi cấp quốc gia của tỉnh liên tục đạt thành tích cao các năm qua.
Bên cạnh đó cũng định hướng cho giáo viên môn sinh học của tỉnh cách khai thác nội
dung kiến thức đã có trong sách giáo khoa, góp phần trong cách dạy học môn sinh học
hiện nay trong các trường THPT của tỉnh, và giúp duy trì tốt phong trào dạy, bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Sinh học ở trường THPT của Đồng Nai.
IV. KẾT LUẬN
- Trong bồi dưỡng học sinh giỏi rất cần có sự đầu tư về chuyên môn, đặc biệt với
những giáo viên mới, còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy. Kì vọng đây là tài liệu
giúp thầy cô giáo có thể tận dụng khai thác được kiến thức sẵn có trong sách giáo khoa
đã được khai thác qua các đề thi đại học, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Từ những câu hỏi
trong đề thi có thể chỉnh để kiểm tra, tuyển chọn học sinh giỏi mà vẫn bảo đảo tuyển
chọn được học sinh giỏi, có năng lực.
- Do hạn chế về khả năng, sự thiếu thốn về nguồn tài liệu tiếng Việt để tham khảo
vì vậy, trong quá trình dạy học tôi chỉ có thể tích luỹ dần, khai thác kiến thức của vấn đề
này qua các kỳ thi, coi đó là nguồn tài liệu chính để phục vụ cho dạy học và phần nào đã

- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào cuộc sống: Tốt  Khá  Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng: Tốt  Khá  Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
Nguyễn Quốc Tuấn - Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai - 2014 -
23/23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status