LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM TRONG VIỆC
THIẾT KẾ BÀI HỌC TÁC PHẨM VĂN TRƯƠNG
Lê Thị Hằng Nga
Trường PTTH DT nộ trú tỉnh Bắc Giang A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Đối với mọi cuộc cách mạng, khoa học kỹ thuật hay khoa học nhân văn, bao
giờ vấn đề phương pháp cũng nổi lên như một đòn bẩy.L. Tônxtôi đã nhấn mạnh
rằng: “Vấn đề quan trọng không phải là biết được trái đất tròn mà là làm sao biết
được trái đất tròn”. Caca Mác cũng từng nói: “Chính trong quá trình cải tạo thiên
nhiên, con người cũng cải tạo bản thân”. Những câu nói nổi tiếng đó có thể là cơ sở
cho chúng ta vận dụng vào việc “lấy học sinh làm trung tâm” trong giảng dạy.
Nội dung của việc lấy học sinh làm trung tâm giảng dạy là sự huy động
những năng lực chủ quan của học sinh một cách có cơ sở khoa học, phù hợp với
quy luật cảm thụ văn học để học sinh chủ động, tích cực, hứng thú tham gia vào
quá trình dạy và học văn, do đó có được sự phát triển toàn diện.
Lấy học sinh làm trung tâm trong việc thiết kế bài học tác phẩm văn chương
là quy trình được giáo viên thiết kế một cách khoa học bằng hệ thống những thao
tác, việc làm để học sinh thực sự hoạt động trí tuệ từ bước tri giác ngôn ngữ, âm
thanh đến hồi ức tưởng tượng, liên tưởng so sánh, phân tích khái quát theo con
đường cảm xúc hoá phù hợp với quy luật cảm thụ văn chương.
2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, tuy phương pháp dạy học văn theo tinh thần lấy học sinh làm trung
tâm đã được triển khai phổ biến kha rộng rãi, song một thực tế đáng lo ngại là việc
thấu triệt lý thuyết và áp dụng linh hoạt vào thực tế vẫn còn tồn tại, ví dụ:
+ Có giáo viên phủ nhận vai trò diễn giảng của giáo viên, chỉ thấy học sinh
làm việc, tưởng tượng, liên tưởng một cách chủ quan từ văn bản, hoặc đứng lên
sinh.
Phương pháp và biện pháp tương ứng
- Đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc to.
- Đọc phân vai
- Miêu tả tâm trạng nhân vật
- Dùng đồ dùng trực quan
-Tường thuật, tóm tắt
2. Hình thức hoạt động tìm tòi, phát hiện
Mục đích: Đòi hỏi học sinh tri giác ngôn ngữ nhệ thuật tưởng tượng, cắt nghĩa
chi tiết, các yếu tố để nắm bắt tác phẩm như một chính thể.
Phương pháp tương ứng: Phát vấn kết hợp diễn giảng
Câu hỏi gồm các thể loại sau:
- Câu hỏi phát hiện.
- Câu hỏi gợi mở vấn đề.
Chú ý: Câu hỏi phát hiện, tái hiện chỉ để làm tiền đề dẫn đến câu hỏi sáng tạo, gợi
mở, nêu vấn đề.
3. Hình thức hoạt động phân tích – Khái quát
Mục đích: Đòi hỏi học sinh trên kết quả tri thức vừa thu nhận nắm bắt được chủ đề,
linh hồn tác phẩm biết phân tích được ý nghĩa khái quát của mọi yếu tố cụ thể dưới
ánh sáng của tư tưởng chủ đề.
Phương pháp tương ứng: Dẫn dắt phát vấn.
Câu hỏi gồm các loại sau:
- Câu hỏi phân tích
- Câu hỏi khái quát.
4. Hình tức tự bộc lộ của học sinh
- Câu hỏi gợi mở
- Câu hỏi ứmg dụng (mở rộng vấn đề).
Trên đây là quy định đảm bảo đầy đủ các hình hoạt động của học sinh trong bản
thiết kế bài giảng tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, bản thiết kế không phải là một
khuôn mẫu xơ cứng. ình thức trình bày của bản thiết kế phản ánh những yêu cầu
nói trên nhưng có thể rất linh hoạt, hoạt động này kết hợp, bao hàm hoạt động khác,
phù hợp với đặc trưng nội dung từng tác phẩm, đặc điểm học tập từng đoói tượng
học sinh và tài năng sở trường từng giáo viên.
C. ÁP DỤNG THỰC TẾ
Tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp, đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hoạt
động của học sinh trong việc thiết kế bài giảng một tác phẩm cụ thể.
Truyện ngắn
HAI ĐỨA TRẺ
-
Thạch Lam-
A. Mục tiêu bài dạy: Hướng dẫn học sinh.
1. Hình dung, cảm nhận được “bóng tối” và những cuộc đời chìm ngập trong
bóng tối một cách âm thầm vô vọng.
2. Nắm được tư tưởng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Thạch Lam.
Tấm lòng thương yêu đôn hậu, nhạy bén với những kiếp người nghèo khổ, tối tăm
Nghệ thuật xây dựng truyện ngắn không có cốt truyện nhưng chất chứa bao nhiêu
cảnh đời, bao nhiêu tâm trạng sâu nắng tinh tế.
3. Hiểu rõ: Cùng các nhà văn hiện thực và các tác phẩm lãng mạn khác,
Thạch Lam Bằng con đường nghệ thuật riêng đã dựng lên một mảnh đời u ám đầy
bóng tối của xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng tháng tám.
4. Biết cách phân tích mmọt truyện ngắn viết tương đối dài theo phương pháp
- Cảnh phố huyện là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm.
- Nhân vật vợ chồng bác xẩm, gia đình trị, cụ Thi điên, lũ trẻ nhặt nhạnh ở
chợ, bác phở Siêu, chị em Liên – An
Câu Hỏi 1 (phát hiện): Khi miêu tả cảnh đời phố huyện và cảnh người phố huyện,
tác giả đặc biệt sử dụng một hình ảnh gì?
Câu hỏi 2 (Nêu vấn đề): Vì sao đọc truyện ngắn này người đọc đều cảm nhận một
cái gì đó u buồn tăm tối?
(Cả hai câu hỏi này giúp học sinh phát hiện ra hình ảnh bóng tối bao trùm cảnh vật
và con người phố huyện tác giả dụng công miêu tả từ nhiều thời điểm, từ nhiều góc
nhìn nhiều tâm cảnh khác nhau.
Dự kiến học sinh trả lời:
Tác giả miêu tả “Bóng tối” với nhiều trạng thái của phố huyện.
1.Hướng dẫn học sinh phân tích “Bóng tối” và những con người chìm
trongbóng tối.
Giáo viên hướng dẫn học sinh chọn đọc một vài đoạn (đoạn mở đầu hoặc đoạn
“trời đã bắt đầu đậm trong đêm).
Câu hỏi( phát hiện): Em hãy liệt kê xem tác giả nhắc đến bóng tối bao nhiêu lần
(với nhiều cách nói khác nhau)?
Dự kiến học sinh trả lời: Khoảng 30 lần ví dụ như “Buổi chiều như hòn than sắp
tàn; mặt đen lại; chiều, chiều rồi; bóng tối ngập đầy; bước của buổi chiều; ngày tàn.
Câu hỏi ( phân tích): Hãy phân tích xem gắn với những trạng thái khác nhau của
cảnh vật phố huyện bóng tối được miêu tả như thế nào?
Dự kiến học sinh trả lời:
+ Bóng tối đến với tiếng trống thu không trên chòi cao.
+ Bóng tối sắp đến với những đám mây hồng như hòn than sắp tàn.
+ Bóng tối đến với dãy tre làng đen lại
+ Bóng tối đến với cảnh muỗi bay vo vo.
+ Bóng tối đến với từng hòn đá nhỏ trên con đường mấp mô.
+ Bóng tối trùm nên đường phố và các ngõ huyện.
+ Bóng tối về khuya ngắn sâu với tiếng trống cầm canh ngắn, khô khan
tầu đêm.
Câu hỏi (phát hiện): Hãy tìm những chi tiết nói rõ tâm trạng của Liên?
Dự kiến học sinh trả lời:
- Khi tàu đến “Liên dắt em đứng dậy”.
- Khi tàu đi Liên và em nhìn theo đến khi cái chấm đỏ của chiếc đèn treo
khuất sau rặng tre.
- Liên im lặng không đáp lời em, lặng theo mơ tưởng nhớ về Hà Nội xa xăm.
- Liên so sánh con tàu đưa lại thế giới hiện tại đang sống cùng với đêm tối
bao bọc xung quanh đất quê và đồng ruộng mênh mông yên lặng.
- Liên liên hệ cuộc đời mình với ngọn đền của chị Tí chỉ chiếu sáng một
vùng đất nhỏ, Liên thấy mình sống giữa bao sự xa xôi.
Câu hỏi (phân tích): Hãy phân tích các chi tiết trên và cho biết ánh sáng chuyến tàu
đêm có tác động thế nào với Liên?
Dự kiến học sinh trả lời:
- Liên khao khát chờ chuyến tàu đêm vì con tàu như đã đem lại cho Liên một
chút thế giới khác hẳn với vầng sáng của chị Tí và của bác Siêu.
- Con tàu đưa Liên đến những khoảnh khắc bừng sáng hấp dẫn trước một cái
gì sang trọng, sôi động, huyên náo của Hà Nội. Con tàu đánh thức Liên những kỷ
niệm thích thú của những ngày trước đây cô sống ở Hà Nội khi cha chưa mất việc.
Câu hỏi (nhận định khái quát): Em có nhận xét gì về cuộc đời người nghèo phố
huyện?
Dự kiến học sinh trả lời (giáo viên nhấn mạnh): Đó là những người lao động nghèo
khổ lam lũ sống lay lắt đắm chìm trong bóng tối “Chừng ấy người trong bóng tối
mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ”. Họ là
những diễn viên trên một sân khấu bi kịch, lần lượt đổi vai nhưng không đổi đời.
5. Hướng dẫn học sinh tự bộc lộ
Câu hỏi thảo luận ngắn: Em hãy troa đổi và cho biết trong các nhân vật trên ai là
người đau khổ nhất?
Dự kiến học sinh trả lời (giáo viên gợi ý):
- Liên là người đau khổ nhất bởi vì:
Dự kiến học sinh trả lời:
So sánh với “Toả nhị kiều”, “Đời thừa”, “Tắt đèn”, “Chí pheo” tất cả đều
phản ánh những tối tăm, bế tắc của con người nhiều hoàn cảnh và niềm khát khao
muốn vươn ra khỏi bóng tối khổ nhục đói nghèo để cuộc sống có chút ánh sáng và
giá trị làm người. Tất cả các tác giả đều có điểm nhìn nhân đạo, hiện thực với xã
hội Việt Nam đang chìm trong cảnh đời nô lệ tối tăm.
B. CỦNG CỐ:
Kếp hợp ở phần tổng kết
Hướng dẫn soạn những tác phẩm tiếp theo.
D. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU
Qua thực tế vận dụng linh hoạt các phương pháp bảo đảm các yêu cầu phát
huy vai trò chủ thể của học sinh, cùng kinh nghiệm ít ỏi của mình, tôi nhận thấy:
Học sinh có hứng thú với giờ học Văn, hoạt động của thầy đã phối hợp với hoạt
động của trò, học sinh bước đầu thực sự chủ động chiếm lĩnh tác phẩm dưới sự
định hướng của giáo viên.
Tồn tại:
Bên cạnh những kết quả khả quan bước đầu, vẫn còn những tồn tại sau:
- Học sinh đã quen với lối suy nghĩ, tiếp thu thụ động nên tính tích cực chủ
động chưa được phát huy thường xuyên, chưa được phát huy tối đa.
- Giáo viên rất vất vả trong việc thiết kế bài học và soạn giáo án bài giảng.
Trong giờ học giáo viên phải gợi mở và định hướng nhiều. (đặc biệt với đối tượng
học sinh của các trường THPT DT nội trú).
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Về phía giáo viên: Phải đầu tư nhiều thời gian để tham khảo các tài liệu đổi
mới phương pháp, học hỏi đồng nghiệp, tích luỹ kinh nghiệm để việc thiết kế bài