THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 - Pdf 25

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
ThS. Lê Thị Phương Nam
(1)

ThS. Hoàng Văn Lợi
(2)Nhằm phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật về giáo dục đại học, năm
2010, nhóm cán bộ, chuyên viên Vụ Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên
và Nhi đồng do ThS. Lê Thị Phương Nam – Phó Vụ trưởng làm Chủ nhiệm đã
triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực trạng và giải pháp nâng
cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010-2015”. Đề tài đã đạt
được nhữ
ng kết quả đáng ghi nhận trong việc đánh giá chung về thực trạng đội
ngũ giảng viên đại học (GVĐH) hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất
nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GVĐH giai đoạn 2010-2015 và kiến nghị
một số nội dung chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án Luật giáo dục đại học.
1. Chất lượng
đội ngũ GVĐH
Giảng viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảng dạy ở
các trường đại học, cao đẳng. Trên thế giới, nhà giáo đại học thường gắn với một
chức vụ khoa bảng hoặc do các trường đại học đề bạt hoặc do Chính phủ bổ nhiệm.
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật giáo dục 2005, GVĐH là những nhà giáo làm
nhiệm vụ giảng dạy tạ
i các trường đại học, cao đẳng và được phân chia thành các
ngạch giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp
(3)
.
GVĐH trước hết là một nhà giáo, vì thế chất lượng của đội ngũ GVĐH được

ết
phải có phẩm chất, năng lực của một nhà giáo, có nhân cách tốt, bản lĩnh chính trị
vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, yêu nghề, yêu thương học trò,
công bằng, tôn trọng nhân cách của người học. Đồng thời, GVĐH phải có năng lực
chuyên môn tốt, có kiến thức chuyên sâu, làm chủ được tri thức, ham hiểu biết tri
thức mới và không ngừng tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ, kỹ năng. Bên c
ạnh đó,
GVĐH phải nắm vững kiến thức và kỹ năng về dạy và học, có phương pháp luận,
kỹ thuật dạy và học nói chung và trong từng chuyên ngành cụ thể.
Chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ: Đội ngũ GVĐH
được biết đến như một lực lượng cán bộ học thuật có trình độ, chất lượng cao; bởi
vậy, ngoài vi
ệc dạy học, GVĐH phải chủ động tham gia nghiên cứu khoa học
(NCKH) để bổ sung, cập nhật kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo;
khuyến khích, hướng dẫn, rèn luyện cho sinh viên phương pháp học thông qua
nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn. Để làm được điều đó, người
GVĐH cũng phải biết nghiên cứu, tìm tòi, giải thích và dự báo các vấ
n đề của tự
nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải.
Chất lượng các dịch vụ xã hội: Đối với nhà trường và sinh viên, GVĐH cần
thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính,
tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho
sinh viên Trong lĩnh vực chuyên môn, GVĐH làm phản biện cho các tạp chí
khoa học, tham dự và tổ chức các hội thả
o khoa học. Đối với cộng đồng, GVĐH
trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp
thông tin, viết báo, áp dụng các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng, truyền
bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí …
Tóm lại, chất lượng của đội ngũ GVĐH chịu sự tác động của nhiều nhân tố
khác nhau, từ chủ quan như năng lự

(4)
, cao hơn nhiều so với quy định hiện hành
(5)
.
Về cơ cấu, tỉ lệ giảng viên
có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm
chưa tới 50% tổng số GVĐH,
trong đó trình độ tiến sĩ chiếm
10,16% (giảm so với thời điểm
năm 1997) và chỉ có 3,74% giảng
viên có chức danh Phó Giáo sư,
Giáo sư. Con số này còn quá thấp
so với mục tiêu của Bộ Giáo dục

(4)
Kết quả giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo
chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy ĐH DL
Ngoại ngữ tin học TP HCM: 47,3 SV/GV, ĐH Tây Đô: 44,2 SV/GV, ĐH Mở TP HCM: 41,2
SV/GV, ĐH Hồng Bàng: 40,2 SV/GV…;
(5)
Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
"Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010” quy định tỷ lệ SV/GV là
từ 5 - 10 SV/1 GV đối với các ngành đào tạo năng khiếu; từ 10 - 15 SV/GV đối với các ngành đào
tạo khoa học kỹ thuật và công nghệ và từ 20 - 25 SV/GV đối với các ngành đào tạo khoa học xã
hội, nhân văn và kinh tế - qu
ản trị kinh doanh.
Biểu 1: So sánh tốc độ tăng trưởng đội ngũ GV với
tốc độ tăng quy mô SV và số lượng các cơ sở GDĐH
và Đào tạo đề ra là đến năm 2020 phải đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến
sĩ. Đội ngũ GVĐH có trình độ cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, Giáo sư có độ tuổi

GDĐH cùng với sự gia tăng nhanh chóng về quy mô đào tạo trong khi số lượng
đội ngũ cán bộ giảng dạy không tăng kịp theo tốc độ tăng quy mô
(7)
. Thực tế này

(6)
Tuổi trung bình của GS trong đợt phong tặng tháng 11/2009 là 57 (thấp nhất là 45 và cao nhất
là 69; độ tuổi trung bình của các PGS là 50 (thấp nhất là 32 và cao nhất là 71). Theo số liệu năm
2004, trong tổng số 1.131 GS thì có 975 người đang sống và làm việc tại Hà Nội (86,2%), TP. Hồ
Chí Minh có 107 người (9,5%), các địa phương khác chỉ có 49 người (4,3%).

(7)
Từ 1998 đến 2009, có 304 trường ĐH, CĐ được thành lập. Trong đó, có 230 trường được
nâng cấp từ bậc học thấp hơn; 9 trường ĐH được nâng cấp từ khoa trực thuộc ĐHQG, ĐH
vùng; 7 trường ĐH được thành lập theo phương thức sáp nhập, chia tách và có 58 trường ĐH,
CĐ được thành lập mới hoàn toàn. Đến nay, đã có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường ĐH
hoặc CĐ (chiếm 98%). Tính
đến tháng 9/2009, cả nước có 412 trường ĐH, CĐ, trong đó có 78
trường ngoài công lập. Tổng quy mô đào tạo ĐH, CĐ năm học 2008 - 2009 là 1.719.499 SV,
Năm học 2006-
2007
2007-
2008
2008-
2009
Tổng số GV (người) 22.792 26.798 30.121
GV

hữu


Cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ GVĐH hiện nay không phát huy hết tiềm
năng của cả đội ngũ và từng cá nhân, không kích thích được sự phấn đấu trong
chuyên môn; không sàng lọc được dễ dàng và thường xuyên những người y
ếu
kém. Cơ chế, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng, vẫn dựa chủ yếu vào khối
lượng giảng dạy và thâm niên công tác mà không căn cứ vào thành tích và khả
năng nghiên cứu của cá nhân; chưa bảo đảm cho GVĐH có cuộc sống đủ để có thể
toàn tâm, toàn ý cho việc bảo đảm chất lượng hoạt động giảng dạy và NCKH.
Những hạn chế về số lượng và chất lượng
đội ngũ GVĐH như đã đề cập trên
đây xuất phát từ 6 nguyên nhân chủ yếu: (1) Tiêu chuẩn về GVĐH được quy định
trong Luật giáo dục, các văn bản dưới luật có hiệu lực thấp, nội dung lạc hậu; (2)
Chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo chưa được cụ thể hóa thành các
quy hoạch, kế hoạch của các trường đại học; (3) còn tồn tại cơ ch
ế bao cấp trong
hệ thống đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo đại học, cao đẳng nói riêng; (4)
công tác đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ của đội ngũ GVĐH chưa trở thành điều kiện tiên quyết và bắt buộc đối
với các cơ sở GDĐH và chính đội ngũ GVĐH; (5) Công tác quản lý, sử dụng và
đánh giá về
hoạt động giảng dạy và NCKH còn nhiều bất cập; (6) Chính sách đãi
ngộ đối với đội ngũ nhà giáo nói chung và GVĐH nói riêng chưa bảo đảm.
Những kết quả đạt được, cũng như các hạn chế, yếu kém nêu trên đã ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, giảng dạy ở các cơ sở đào tạo đại học. Vì
vậy, việc tìm ra các gi
ải pháp để tháo gỡ những khó khăn, nâng cao chất lượng đội
ngũ GVĐH được xem là khâu mấu chốt để nâng cao chất lượng GDĐH đang trở
thành một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

tăng 13 lần so với năm 1987; tỷ lệ SV/số dân năm 1997 là 80 SV/1vạn dân thì đến năm 2009 là

sư phạm;
Thứ ba, đẩy mạnh công tác NCKH trong các cơ sở GDĐH, gắn NCKH với
đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy; xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm tăng
cường trao đổi học thuật, sáng kiến kinh nghiệm trong NCKH; tổ chức và khuyến
khích GVĐH tham gia hội ngh
ị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước nhằm trao
đổi kinh nghiệm giảng dạy và NCKH;
Thứ tư, đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá, sàng lọc đội ngũ
GVĐH theo hướng phân công, phân cấp về trách nhiệm, quyền hạn và giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở GDĐH;
Thứ năm, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ng
ũ
GVĐH tương xứng với thành tích và năng lực cá nhân; điều chỉnh chính sách
lương, phụ cấp ưu đãi, cơ chế đãi ngộ phù hợp để cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần, tạo động lực và điều kiện cho đội ngũ GVĐH nâng cao năng lực, trình
độ.
Nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi
mới và phát triển GDĐH; tạo hành lang pháp lý thuận lợi và thống nhất để điều
chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến GDĐH, góp phần đổi mới căn bản và
toàn diện GDĐH Việt Nam nh
ằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Luật giáo dục đại học sẽ được
Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII. Từ những kết
quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã có một số kiến nghị cụ thể để
xây dựng và hoàn thiện Dự
thảo luật này. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, đề nghị pháp điển hóa các chức danh GVĐH gồm trợ giảng, giảng
viên, giảng viên chính, Phó Giáo sư và Giáo sư. Trong đó, Giáo sư, Phó Giáo sư là
chức danh của GVĐH chứ không phải là danh hiệu để tôn vinh. Trao quyền tự chủ
cho cơ sở GDĐH bổ nhiệm chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư trên cơ sở kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status