Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 65

TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 34/2019

101

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Hứa Thị Khuyên, Hoàng Minh Thúy
Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn
Tóm tắt: Để bắt kịp xu thế phát triển trên thế giới, các trường đại học ở Việt Nam cần đổi
mới, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó, nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên được coi là một nhiệm vụ quan trọng. Xuất phát từ thực tế giáo dục đại học
Việt Nam, chúng tôi đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
trong giai đoạn hiện nay: Một là, xây dựng, thống nhất và ban hành bộ quy định về tiêu
chuẩn giảng viên trong bối cảnh mới. Hai là, thực hiện những phương pháp linh hoạt
nhằm tạo động lực cho giảng viên. Ba là, tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn xã hội
khi bàn về vị trí của người thầy.
Từ khóa: Giải pháp, nâng cao, chất lượng, giảng viên, Việt Nam
Nhận bài ngày 05.7.2019, gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 20.10.2019
Liên hệ tác giả: Hứa Thị Khuyên; Email:

1. MỞ ĐẦU
Cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội toàn thế giới, đặc biệt đến kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật... Để
phát triển bền vững, lâu dài, mọi quốc gia đều phải điều chỉnh chiến lược của mình cho
phù hợp tình hình, xu thế chung. Giáo dục, trong vai trò là “quốc sách hàng đầu”, là lĩnh
vực trước hết cần quan tâm, đổi mới. Ý thức rõ điều này, ngày 4 tháng 11 năm 2013, tại
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 29/NQ-TW, về
“đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế”. Có thể nói, giáo dục nước nhà, trong đó có giáo dục đại học, đang đứng trước nhiều cơ

học tiên tiến khác, tỉ lệ sinh viên/giảng viên thường nằm trong khoảng 15-20/1 [5]. Đối
chiếu với chuẩn trung bình quốc tế trên đây thì hiện ngành giáo dục đại học nước ta đang
thiếu khoảng 30.000 - 40.000 giảng viên, tương ứng với thông tin mà lãnh đạo Giáo dục và
Đào tạo đưa ra: “Số giảng viên của ngành đại học nước ta chỉ đáp ứng được 60% nhu
cầu”. Thêm nữa, chính Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng thừa nhận: do giảng viên lên lớp quá
nhiều giờ, không có thời gian đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo
trình, bài giảng… nên việc nâng cao chất lượng chuyên môn còn nhiều hạn chế. Một trong
những thước đo chính xác chất lượng giảng viên, bên cạnh việc hoàn thành nghĩa vụ giảng
dạy, chính là thành tích nghiên cứu khoa học của họ. Điều này thì còn tồi tệ hơn nữa. Hiện
các công bố quốc tế về nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học là cán bộ, giảng viên
của các trường đại học trong nước còn hết sức khiêm tốn, đó là chưa đánh giá về thực trạng
chất lượng của các công trình đó. Bảng thống kê số lượng bài báo KH công bố quốc tế
cùng mức độ trích dẫn của một số trường đại học ở Việt Nam và Thái Lan năm 2016 dưới
đây đã cho thấy rõ điều này:


103

TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 34/2019
Tác giả đầu ngành

Tác giả đầu ngành

trong nước

ngoài nước

Trung
Tên các đại học



28

6,9

7

5,3

21

7,4

ĐHQG TP. HCM

26

4,2

19

4,1

7

4,4

ĐH Chulalongkorn

416

sung thêm rằng, về phương diện bài báo khoa học công bố quốc tế, Singapore đứng đầu
khu vực Đông Nam Á chứ không phải Thái Lan, và Việt Nam trong vài năm qua đã vượt
lên trên Indonesia và Philippines, còn Lào, Campuchia và Mianma chưa có mặt trong danh
sách so sánh.
Sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ giảng viên có trình độ bắt kịp khu vực và quốc tế
trong bối cảnh phát triển vũ bão của khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật và ngay cả các
ngành khoa học xã hội và nhân văn khác đặt ra yêu cầu bức thiết cần bổ sung. Nhưng bổ
sung như thế nào mới là vấn đề. Trước đây chúng ta đã có chủ trương, kế hoạch đào tạo
cấp tốc 20.000 tiến sĩ cả ở trong và ngoài nước, nhưng với cách thức và chất lượng đào tạo
nghiên cứu sinh như ở một số cơ sở đào tạo vừa qua, dự án này xem như đổ bể. Việc tiếp
nhận các giảng viên mới thay cho đội ngũ về hưu hàng năm đều được tiến hành, song
những người thực sự có năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy thì không mấy
mặn mà bởi lương bổng thấp và chế độ làm việc gò bó. Số lượng và chất lượng giảng viên
không tương ứng với sự tăng nhanh, mở mới các trường, các ngành nghề. Rốt cuộc, đội
ngũ giảng viên đại học vẫn vừa yếu vừa thiếu, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới cấp
thiết giáo dục đại học, chưa nói gì đến cập nhật, nắm bắt và hòa nhịp với những yêu cầu,
đòi hỏi của kỉ nguyên công nghệ 4.0.

2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Để có thể thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nước nhà theo tinh
thần Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương


104

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Đảng tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI), cần đổi mới trước hết đội ngũ cán bộ làm công
tác giáo dục và đào tạo. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục đại học là bậc cao
nhất, nơi đào tạo “máy cái”, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu

nguồn học liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng.
Có thể thấy, Thông tư quy định về chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm đã bổ sung
những tiêu chuẩn, tiêu chí quan trọng và cần thiết đối với người giảng viên trong bối cảnh
đa thông tin, đa phương pháp hiện nay. Nhiệm vụ của người giảng viên là phải cung cấp


TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 34/2019

105

cho người học cả tri thức khoa học lẫn hệ thống những năng lực cần thiết để giải quyết
những vấn đề thực tiễn. Điều này đòi hỏi người giảng viên cần có đầy đủ các năng lực,
phẩm chất cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Vì vậy, khi Thông tư được ban hành và
có hiệu lực, các tiêu chí này đã được cụ thể hóa hơn và có thể trở thành thước đo để đánh
giá năng lực của giảng viên. Dựa trên những tiêu chí xây dựng cho giảng viên trường sư
phạm, có thể bổ sung, điều chỉnh hợp lý các tiêu chuẩn, tiêu chí trở thành khung tiêu chuẩn
chung cho toàn bộ đội ngũ giảng viên thuộc các ngành nghề, các cơ sở đào tạo chuyên
ngành khác nhau.

 Xây dựng kế hoạch bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Thực hiện điều này không dễ vì áp lực của chính sách biên chế, yêu cầu tinh giản cơ
cấu bộ máy nhân sự hiện nay. Thực tế cho thấy ở hầu hết các cơ sở giáo dục đại học, tỉ lệ
cán bộ, giảng viên trực tiếp giảng dạy so với bộ phận cán bộ phòng, ban… phục vụ đào tạo
gần như ngang nhau. Vậy nên, nếu tính tổng số cán bộ giảng viên, viên chức của một
trường thì có thể là lớn, song số cán bộ giảng dạy, nghiên cứu lại không nhiều. Hiện các
trường đại học đều vấp phải bài toán khó trong việc cân đối, điều chỉnh đội ngũ để vừa bảo
đảm yêu cầu về tinh giản cán bộ, vừa bổ sung, tiếp nhận, nâng cao số lượng cán bộ giảng
dạy, đặc biệt cho các ngành đào tạo mới. Do vậy, cần xây dựng kế hoạch, chiến lược dài
hơi bổ sung đội ngũ bằng cách mạnh dạn đề xuất nhu cầu tiếp nhận mới thông qua thi
tuyển dụng, đồng thời khuyến khích, yêu cầu các giảng viên chưa cập chuẩn tham gia/buộc

cách giáo dục sẽ gặp vô vàn những khó khăn, chưa kể sẽ gây ra những tổn thất về nhân sự
do tiền lương hiện tại không đủ để giảng viên gắn bó và tâm huyết với nghề. Sự thay đổi
và chế độ ưu tiên về tiền lương trong hệ thống tiền lương sẽ là một “cú hích” mạnh mẽ và
cơ bản.
Bên cạnh đó, cần thấy rất rõ rằng, còn quá nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
tác động đến đời sống và quá trình thực hiện chuyên môn nghiệp vụ của giảng viên. Thứ
nhất, một trong những hạn chế lớn của giảng viên Việt Nam trong việc giao lưu trao đổi,
chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong nghiên cứu, giảng dạy thời kì hội nhập chính là khả
năng ngoại ngữ. Cơ hội để tiếp cận, cập nhật các thông tin, tư liệu, tri thức khoa học mới
của thế giới cũng như việc công bố các bài báo, công trình khoa học ra quốc tế gặp nhiều
khó khăn, còn ít… cũng vì hạn chế này. Ngoại ngữ cần được xem là một trong những yêu
cầu bắt buộc với giảng viên. Muốn vậy, cần có chủ trương, chính sách đào tạo hoặc hỗ trợ
kinh phí để giảng viên tự bồi dưỡng ngoại ngữ nhằm đáp ứng yêu cầu. Từ năm 2008, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã triển khai đề án bồi dưỡng ngoại ngữ (tiếng Anh) đến năm 2020,
nhưng chẳng những người dạy, mà người học cả nước, sinh viên, học sinh… cũng không
mấy được hưởng lợi. Thứ hai, cần đầu tư thích đáng và tương xứng về cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu cho đội ngũ giảng viên. Hiện hầu hết các trường
đại học, cao đẳng chỉ có các cơ sở vật chất tối thiểu để phục vụ đào tạo. Các phòng thí
nghiệm, nghiên cứu chuyên ngành hầu như không có hoặc không đầy đủ. Kinh phí cho
nghiên cứu khoa học hạn hẹp. Việc thực hiện đề tài nghiên cứu cho bảo đảm đủ giờ nghiên
cứu bắt buộc; nghiên cứu bỏ xó, không có khả năng ứng dụng hoặc không thể ứng dụng…
đang là phổ biến. Điều này vừa lãng phí chất xám, vừa làm mai một các ý tưởng sáng tạo
của đội ngũ này. Thứ ba, cần nâng cao khả năng hội nhập quốc tế cho đội ngũ giảng viên
bằng việc tạo điều kiện cho họ tham gia các lớp, khóa, chương trình đào tạo; hội nghị, hội
thảo quốc tế; các chương trình hợp tác nghiên cứu, các đề tài, dự án song phương… với đối
tác nước ngoài. Những kinh nghiệm, mối quan hệ, cách thức tổ chức nghiên cứu, quản lí,
ứng dụng họ học tập, tích lũy được sẽ vừa phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ đào tạo nghiên
cứu chung, vừa là động lực để họ tiếp tục sáng tạo, nâng cao trình độ của bản thân.
Tất nhiên, yêu cầu, mong muốn thì không bao giờ là đủ, còn và cần phải căn cứ vào
khả năng đáp ứng của thực tế; song rõ ràng là nhận thức đúng những hạn chế, thiếu hụt thì

môn… sẽ là người chủ động mang đến những phương pháp giáo dục mới và truyền cảm
hứng học tập cho người học. Một vai trò hết sức quan trọng khác, đó là sự ví von người
thầy như những “kỹ sư tâm hồn” cũng để khẳng định vai trò, vị trí không thể thay thế được
của người thầy trong toàn xã hội. Bản thân thầy cô sẽ là những tấm gương đạo đức. giúp
các em học sinh, sinh viên hình thành, tiếp nhận và thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã
hội. Vì vậy, việc đầu tiên để thay đổi quan niệm của toàn xã hội về vị trí, vai trò của người
thầy chính là bản thân họ phải hiểu rõ thế mạnh của mình, từ đó, có sự tích cực, chủ động
trong việc nâng cao năng lực, phẩm chất để đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới.
Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần có sự chuyển biến nhận thức về vị trí, vai trò
của người thầy. Gia đình cần phối hợp với thầy cô trong việc đôn đốc, dạy bảo con em
mình. Sự hợp tác giữa gia đình và nhà trường phải dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và thái
độ cầu thị nhằm hướng đến mục tiêu chung là giáo dục cho con trở thành những người vừa
“hồng”, vừa “chuyên”. Gia đình không nên giữ quan điểm “trăm sự nhờ thầy cô” và cũng


108

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động giảng dạy của thầy cô, can thiệp vào kết quả
học tập của con em mình.
Mỗi nhà trường cần có những nội quy hoạt động, vừa dựa trên những quy định chung
của Nhà nước, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh để tạo ra những
điều kiện thuận lợi nhất phục vụ công tác giảng dạy. Tại tọa đàm “Đổi mới giáo dục- Nhìn
từ góc độ người thầy” diễn ra ngày 11/11/2017 do báo Nhân dân tổ chức, Bà Nguyễn Thị
Mai Hoa- Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng cho rằng: “chúng ta cần trả người thầy về đúng vị trí của người thầy, đúng tâm thế
của người thầy, giúp cho người thầy có một môi trường làm việc an lành nhất”; GS.TS
Đinh Quang Báo cho rằng: “cần phải trao cho giáo viên quyền lực cao nhất ở các trường
học. Họ phải có quyền sáng tạo cao nhất, là người có nhu cầu đổi mới, đề xuất đổi mới và

109

từng khâu, từng vấn đề. Hiệu quả thực hiện cũng không thể đạt được nếu chỉ thực hiện các
giải pháp đơn lẻ, mà phải là sự phối kết hợp đồng bộ các giải pháp, tạo ra sự chuyển biến
trong chính đội ngũ giảng viên và thay đổi quan niệm của toàn xã hội, bởi xét cho cùng,
theo UNESCO: “Chất lượng giáo dục không vượt khỏi chất lượng nhà giáo”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013, về “đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

2.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư liên tịch số 36/2014/ TT-BGDĐT-BNV ngày 28 tháng 11
năm 2014 quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các
cơ sở giáo dục đại học công lập.

3.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT, ngày 31 tháng 12 năm 2014, quy
định chế độ làm việc đối với giảng viên.

4.

Tổng cục Thống kê (2017), Niên giám thống kê năm 2016, - Nhà xuất bản Thống kê.

5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status