I. KHOA HỌC QUẢN LÝ
1. Triết lý kinh doanh
Triết lý kinh doanh là tư tưởng chủ đạo cơ bản của mỗi doanh nghiệp
để bảo đảm doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, phát triển và trường tồn.
Ví dụ:
- Triết lý kinh doanh của Công ty Điện khí Matsushita: "Tinh thần xí
nghiệp phục vụ đất nước". "Quán triệt kinh doanh là đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng".
- Ở doanh nghiệp Honda: "Không mô phỏng, kiên trì sáng tạo, độc
đáo", "Dùng con mắt sáng của thế giới mà nhìn vào vấn đề".
- Công ty Máy tính điện tử IBM của Mỹ: "Thực hiện triệt để nhất yêu
cầu của người tiêu dùng".
- Triết lý kinh doanh - chí cốt làm giàu của Bạch Thái Bưởi (một
doanh nhân nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ XX) là vì đạo lý: "Chỉ dân
giàu thì nước mới giàu được".
Câu hỏi thảo luận:
1. Hãy giải thích cơ sở triết học, cơ sở tâm lý, sự cần thiết (vai trò, tác
dụng thực tiễn) của triết lý kinh doanh của những doanh nghiệp nêu trên!
2. Nếu là người quản lý (chủ) của một doanh nghiệp, bạn thấy cần xây
dựng cho doanh nghiệp triết lý kinh doanh cơ bản gì?
2. Triết lý kinh doanh của Bạch Khuê
Bạch Khuê là người thời Chu, có phương châm "lạc quan thời biến"
(vui nhìn tình hình biến đổi) chủ trương "người bỏ ta lấy, người lấy ta đưa",
cụ thể là "phàm mùa gặt thì mua thóc lúa, bán tơ lụa, mùa tằm thì mua sợi
bông, bán lương thực. Sao Thái âm đóng ở cung Mão là được mùa, năm sau
sẽ đói kém; đóng ở cung Ngọ thì bị hạn, năm sau sẽ khá, tới cung Tý là đại
hạn, sang năm sẽ khá. Bị lũ lụt mà sao Thái âm tới cung Mão, nên tích trữ gấp
đôi mọi năm. Muốn lãi nhiều thì mua thóc thường, có vốn lớn, mua gạo ngon.
Bình thường ăn uống tằn tiện, đè nén ham muốn, tiết kiệm quần áo, cùng vui
cùng khổ với tôi tớ trong nhà, gặp thời cơ thì chụp như thú dữ vồ chim. Bạch
Khuê thường nói: "Trong việc buôn bán, ta theo mưu kế Y Doãn, Lã Vọng
nhuận, lãi ít - bán nhiều, chẳng những trở nên giàu có mà còn được tiếng
thơm. Triết lý kinh doanh của họ cũng được thương nhân thành công ở các
đời sau là "thương nhân thành luật lương thiện" - kinh doanh thành thật, hiểu
được tín nghĩa, vui làm điều thiện, thích giúp đỡ người nghèo.
(Theo Bùi Văn Quang)
Thời báo Kinh tế Việt Nam,
Số 3, ngày 4 - 1 - 2003
Câu hỏi thảo luận:
1. Qua triết lý kinh doanh ở trên, anh (chị) có thể học tập được những
ý tưởng cơ bản gì trong kinh doanh của Bạch Khuê về:
a) Phân tích chớp thời cơ và biến nó thành vàng.
b) Thuật dùng người.
c) Thuật tạo vốn.
d) Nguyên tắc kinh doanh "lãi ít, bán nhiều, lợi lớn".
2. Có những điểm nào trái với quan điểm kinh doanh trong điều kiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Tại
sao?
3. Triết lý và văn hoá kinh doanh
của Matsushita Konosuke
Matsushita được nhân dân Nhật Bản gọi là "Thần kinh doanh". Ông
sinh năm 1894, mất năm 1989.
Lúc nhỏ đi làm thuê lấy 2 bữa ăn thay lương. Đến năm 16 tuổi đi làm
ở một cửa hàng xe đạp, rồi học việc ở Công ty Đèn điện Osaka cho đến 1918.
Năm 23 tuổi lập nghiệp kinh doanh, sáng lập "cơ sở sản xuất đồ điện
Matsushita". Lúc đầu làm ổ cắm điện 2 pha, sau làm lò sấy điện, bàn là, xe
đạp. Trải qua hơn 70 năm kinh doanh, cơ sở lúc đầu chỉ có 3 người, sau lên
đến 70.000 người, doanh số hàng năm hơn 30 tỷ USD, trở thành tập đoàn tài
chính lớn, đứng hàng đầu trong ngành đồ điện, trong toàn ngành chế tạo Nhật
Bản - đứng thứ 4 sau công nghiệp xe hơi Toyota, Nissan, Công ty thép Nhật
Bản; được cả thế giới chú ý đến kỳ tích này.
2. Tính thần quang minh chính đại.
3. Tinh thần hoà thuận nhất trí.
4. Tinh thần phấn đấu vươn lên.
5. Tinh thần lễ độ khiêm nhường.
6. Tinh thần hoà nhập thoả đáng.
7. Tinh thần biết ơn và đền đáp công ơn.
Điều lệ dịch vụ tiêu thụ của Công ty "Điện khí Matsushita":
1. Dịch vụ tiêu thụ là "dịch vụ phục vụ xã hội loài người", được thu
lợi nhuận như là một khoản đương nhiên.
2. Không được giận dữ đối với khách hàng, cũng không thể có tâm lý
bực dọc.
3. Chú ý đến cửa hàng lớn hay nhỏ, không bằng chú ý đến môi trường
có tốt hay không, lại không bằng chú ý đến hàng hoá tốt hay xấu.
4. Giá kê hàng đẹp, buôn bán chưa chắc đã tốt; trong cửa hàng nhỏ tuy
là lộn xộn, nhưng tiện cho khách hàng, nên có thể bán hàng tốt.
5. Coi khách hàng như người thân, đối với họ có cảm tình hay không?
Điều đó quyết định cửa hàng thịnh vượng hay lụn bại.
6. Ngọt ngào trước khi bán hàng không bằng phục vụ tốt sau khi bán
hàng. Chỉ có như vậy mới có khách hàng thường xuyên.
7. Cần xem góp ý của khách hàng là lời nói thiêng liêng, phải vui vẻ
tiếp nhận bất kỳ lời phê bình nào.
8. Không ngại thiếu vốn, điều đáng lo nhất là thiếu tín nhiệm.
9. Yên tâm nhập hàng giản đơn là con đường phát triển thịnh vượng.
10. Cần phải có thái độ đối xử bình đẳng đối với khách hàng mua một
Yên và khách hàng mua 100 Yên, đó là cơ sở thịnh vượng của cửa hàng.
11. Không nên bán hàng nài ép khiên cưỡng, không nên bán cho
khách những thứ họ không thích.
12. Số lần vốn quay vòng càng nhiều càng tốt, 100 Yên quay vòng 10
lần biến thành 1000 Yên.
13. Khi khách đổi hoặc trả lại hàng, cần phải có thái độ nhã nhặn hơn
28. Cửa hàng cần có không khí phấn khởi và đông vui, tự nhiên sẽ thu
hút được nhiều khách hàng.
29. Cần luôn luôn chú ý tình hình thị trường và quảng cáo thương mại,
cần phải hiểu rằng, có người đặt mua thứ hàng mà mình không biết, là cái
nhục của người buôn.
30. Đối với người buôn, không cần biết là phồn vinh hay tiêu điều, dù
thế nào thì cũng phải kiếm tiền.
(Viện Nghiên cứu và đào tạo về quản lý (VIM):
Tinh hoa quản lý - 25 tác giả và tác phẩm
nổi tiếng nhất về quản lý trong thế kỷ XX,
Nxb Lao động, H, 2002, tr. 388 - 399)
Câu hỏi thảo luận:
1. Những bí quyết và nguyên nhân thành công của Công ty Điện khí
Matsushita?
2. Nếu là một giám đốc doanh nghiệp, bạn thấy có thể học tập được
những điều gì trong triết lý và văn hoá kinh doanh của công ty này để vận
dụng vào doanh nghiệp mà mình phụ trách?
4. Nghệ thuật quản lý của Nhật Bản
(Richard T. Pascal và Anthony Athos - Mỹ)
Mô hình 7 chữ S - 3 yếu tố cứng và 4 yếu tố mềm:
1. Chiến lược kinh doanh (Strategy) với 3 đặc điểm
- Coi trọng sáng tạo trên nguyên tắc bảo đảm chiến lược kinh doanh.
- Dứt khoát coi trọng thị phần.
- Nhấn mạnh chất lượng và giá cả.
2. Cơ cấu tổ chức (Structure - của Công ty Matsushita) với 4 ưu điểm:
- Các giám đốc bộ phận tự chủ trong công việc, chuyên sâu mặt hành
kinh doanh, đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của họ.
- Thúc đẩy họ xác lập một cách vững chắc phương châm hướng về
người tiêu dùng.
- Các công ty lớn cũng linh hoạt, cơ động như các công ty nhỏ.
- Khiêm tốn, lễ độ;
- Điều chỉnh và tiếp thu;
- Cám ơn.
7. Kỹ năng (Skill): Tài năng đặc biệt của những người phụ trách chính
hoặc toàn thể công ty.
Tác giả cho rằng, trong các tổ chức của Nhật Bản, rất khó phân biệt
giữa cá nhân và tổ chức. Người Nhật có thiên tài về quản lý tầm cỡ thế giới.
So sánh Công ty Matsushita với một doanh nghiệp tương đối thành
công của Mỹ thấy rằng chúng không có sự khác nhau về mục tiêu chiến lược,
cơ cấu và thể chế tổ chức (3 yếu tố cứng) nhưng có sự khác biệt về phong
cách quản lý, phương châm nhân sự, chuẩn mực về giá trị tinh thần, và kỹ
năng quản lý - (những yếu tố phần mềm). Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt
về văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây (bao gồm tôn giáo, triết
học, ngôn ngữ, truyền thống, tâm lý xã hội, mô thức tư duy).
(Viện Nghiên cứu và đào tạo về quản lý (VIM):
Tinh hoa quản lý - 25 tác giả và tác phẩm
nổi tiếng nhất về quản lý trong thế kỷ XX,
Nxb Lao động, H, 2002, tr. 388 - 399)
Câu hỏi thảo luận:
1. Nếu là một giám đốc doanh nghiệp, bạn thấy có thể học tập được
những điều gì trong mô hình quản lý nói trên để vận dụng vào doanh nghiệp
mà mình phụ trách?
2. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, có thể gặp những thuận lợi và
khó khăn gì chủ yếu trong quá trình vận dụng đó? Những giải pháp tận dụng
những thời cơ và khắc phục những trở ngại đó?
5. Hai điều cần lưu ý trong quản lý
F. W. Taylor (1865 - 1915) được mệnh danh là người sáng lập lý
thuyết quản lý theo khoa học cho rằng, muốn quản lý thành công phải lưu ý
đến 2 điều:
1. Con người về bản chất là lười biếng, không muốn làm việc.
một chuyên gia sâu về tài chính hay kỹ thuật.
+ Nếu bạn là người mới đi vào con đường kinh doanh, hãy tìm một
người đã trải qua kinh nghiệm trong việc làm và trong giao tiếp (phải làm sao
có được quan hệ đó ngay từ đầu).
+ Nếu chọn một người bạn kinh doanh tồi trong quá khứ chắc sẽ khó
mang lại cho doanh nghiệp của bạn "đôi bàn tay vàng".
+ Cùng đi với một nhà kinh doanh giàu kinh nghiệm - một người đã
trải qua thời kỳ sở hữu và vận hành một doanh nghiệp tư nhân. Điều đó cũng
có nghĩa khẳng định: Một người điều hành doanh nghiệp không có kinh
nghiệm và không có năng lực đã có nghĩa là một sự thất bại của các doanh
nghiệp nhỏ.
+ Chọn người bạn hàng tương lai phải làm sao người đó cũng gắn bó
với lợi ích và sự thành bại của doanh nghiệp như bạn. Tốt nhất, yêu cầu người
bạn hàng tương lai đóng góp một số tiền vốn cho doanh nghiệp, như vậy mọi
người sẽ làm việc tích cực hơn khi tiền của bản thân mình đang bị đe doạ.
+ Bạn hãy cắt đứt quan hệ ngay với những bạn hàng không trung thực
và trong tổ chức doanh nghiệp của bạn không nên có chỗ cho các bạn thân.
Câu hỏi thảo luận:
1. Hãy phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn của những lời khuyên
trên!
2. Bạn có thêm những lời khuyên nào nữa không?
7. Nắm luật pháp để kinh doanh
Luật pháp về kinh doanh có hàng ngàn điều quy định. Nếu chủ doanh
nghiệp không chú ý đầy đủ đến những quy định đó để điều chỉnh doanh
nghiệp của mình thì thực sự là một sai lầm nghiêm trọng và hậu quả có thể sẽ
rất bi đát. Các luật này có đầy đủ quyền lực với hàm răng sắc nhọn được thiết
kế để đảm bảo sự tuân thủ. Nhưng trong thực tế, làm sao người chủ doanh
nghiệp "tiêu hoá" hết các quy định trong những văn bản pháp luật đầy phức
tạp đó. Chiến lược khôn ngoan là phải tìm ra một cách gì hợp lý nhất. Đó là
nhận thức ra quyền lực và tính nghiêm túc của các luật điển hình mà doanh
Bạn hãy nêu danh mục và trình bày ưu tiên những giải pháp cần thiết
để khắc phục những dấu hiệu trên!
9. Mô hình quản lý Bắc Âu
Đặc điểm chung của mô hình quản lý ở Bắc Âu được quy tụ thành
những điểm sau:
1. Kinh tế là trung tâm.
2. Tập trung chăm lo con người.
3. Thời gian là cốt tử.
4. Triệt để uỷ quyền.
5. Bảo đảm tính chính xác.
6. Nhận thông tin và xử lý thông tin.
Câu hỏi thảo luận:
Bạn hãy bình luận về những nội dung trên và cho lời khuyên về vận
dụng quản lý các doanh nghiệp Việt Nam.
10. Các dấu hiệu tốt lành
của một công ty
Một công ty hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thường có các
biểu hiện sau:
- Có khả năng cạnh tranh tốt.
- Lãi nhiều và khá ổn định.
- Đáp ứng nhanh yêu cầu của khách hàng.
- Thỏa mãn chất lượng yêu cầu.
- Giá cả khách hàng chấp nhận được.
- Đáp ứng các dịch vụ của khách hàng.
- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động.
- Kiểm tra chặt chẽ và có trạng thái tài chính lành mạnh.
Câu hỏi thảo luận:
Bằng những kinh nghiệm thực tiễn của mình, bạn hãy nêu mối quan
hệ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên. Những giải pháp chủ yếu nào
nhằm duy trì được trạng thái hoạt động tốt trên của doanh nghiệp?
là 5 nguyên tắc làm giàu của Beni. 5 nguyên tắc đó là:
1. Để thoả mãn yêu cầu của khách, phải phục vụ một cách tốt nhất.
2. Hàng hoá phải có chất lượng tốt, giá cả phải hợp lý.
3. Không ngừng tự đánh giá bản thân, để khỏi mắc sai lầm trong kinh
doanh.
4. Có thể kiếm lời một cách hợp lý, tuyệt đối không kiếm lời quá
đáng.
5. Phải thường xuyên tự kiểm điểm xem mình có làm gì sai không.
Tuân thủ các nguyên tắc này nên trên toàn nước Mỹ có tới hơn 1.600
cửa hiệu mang tên Beni; rất nhiều nhân viên của ông đã trở thành chủ nhân
của một phân hiệu có khả năng kinh doanh lớn, lợi nhuận cao nhưng không
một ai trong họ kiếm lời quá đáng bằng những thủ đoạn bất chính.
Câu hỏi thảo luận:
1. Các nguyên tắc làm giàu trên được đưa ra từ gần một thế kỷ trước
đây, nay còn phù hợp không? Tại sao?
2. Các nguyên tắc làm giàu trên có trái với quy luật cạnh tranh trong
thị trường hiện đại không? Tại sao?
3. Có thể rút ra bài học gì cho bản thân từ những nguyên tắc trên khi
tiến hành lập nghiệp?
13. Mẹo kinh doanh của cửa hàng
thực phẩm Mỹ Vị Hương
Vào dịp lễ tết, nhiều người ở Đài Bắc muốn mua một số thực phẩm đồ
hộp để tặng bạn thân hoặc khi mua một chút ruốc thịt, thịt ướp sấy khô ăn cho
bõ thèm khát, thì đều có liên tưởng ngay tới cửa hàng thực phẩm Mỹ Vị
Hương nằm ngay cạnh bưu điện Đài Bắc cạnh đường Bắc Ái. Đây là một cửa
hàng kinh doanh 50 năm nay, chẳng một ai nghĩ rằng phương pháp để duy trì
uy tín của nó lại là mỗi ngày chỉ sản xuất một lượng sản phẩm có hạn, nếu có
khách hàng tới mà không mua được đồ thì bèn nói với anh ta rằng "ngày mai
tới sớm".
Vậy thì tại sao không làm nhiều hàng một chút để tiện cho đáp ứng
Vị Hương. Những nhận xét cần rút ra sau khi phân tích những nguyên tắc
trên!
3. Theo anh (chị), ông chủ cửa hàng thực phẩm Mỹ Vị Hương đã áp
dụng thủ thuật gì trong công tác bán hàng?
4. Đặt tên khác thích hợp cho tình huống quản lý trên.
14. Henry Ford và Alfred P. Sloun Em
Henry Ford và Alfred P. Sloun Em là những nhà lãnh đạo lớn. Họ là
những đối thủ của nhau trong những năm 20 của thế kỷ XX khi mà lần đầu
tiên xuất hiện quan điểm về quản lý như là một nghề và một lĩnh vực khoa
học.
Henry Ford là một thí dụ điển hình của nhà kinh doanh độc đoán:
thích đơn độc, có tính tự chủ cao, luôn đi theo con đường riêng của mình,
khinh thường lý luận và việc đọc sách "vô bổ", coi các nhân viên của mình là
những "người giúp việc". Nếu "người giúp việc" dám làm trái ý Ford hoặc tự
ý ra một quyết định quan trọng thì người đó có nguy cơ mất việc. Trong hãng
"Ford Motor" chỉ có một người duy nhất ra các quyết định với mọi hậu quả.
Ford đã đánh giá đề xuất của Alfred P. Sloun về việc tổ chức lại "General
Motor" như sau: "bức tranh với một trái bí to ở giữa Con người buộc phải la
cà đi đi lại lại, và mọi người lảng tránh trách nhiệm, bắt chước kiểu thông thái
của những kẻ lười, rằng hai cái đầu sẽ hơn một cái". Các nguyên tắc chung
của Ford có thể nói ngắn gọn trong một câu: "Mọi khách hàng có thể nhận
được chiếc xe hơi với màu mà họ muốn, trong khi nó hãy còn là màu đen".
Ford có đầy đủ cơ sở để chế nhạo những ý tưởng mới lạ của Sloun đối
với "General Motor". Ford đã sản xuất ra loại xe "T" rẻ đến mức bất kỳ người
nào có việc làm cũng có thể mua được. Sau khoảng 12 năm, Ford đã biến một
hãng nhỏ thành một ngành khổng lồ góp phần làm thay đổi xã hội Mỹ. Hơn
nữa, ông đã làm được điều là sản xuất ra chiếc ôtô bán chỉ có 290 đô la và trả
cho công nhân của mình mức lương cao nhất thời bấy giờ - 5 đô la một tuần.
Vì vậy đã có rất nhiều người mua loại xe "T" và năm 1921 thị phần xe con
của "General Motor" chiếm 56% ở Mỹ và hầu như toàn bộ thị trường thế giới.
1. Phân tích và so sánh quan điểm quản lý của Ford và Sloun! Bạn ủng
hộ quan điểm nào? Tại sao?
2. Những yếu tố bên trong và bên ngoài nào ảnh hưởng tới sự thành
công của các hãng "Ford Motor" và "General Motor"? Những yếu tố nào ảnh
hưởng tới sự xuống dốc của hãng "Ford Motor"?
3. Nguyên nhân nào là quan trọng nhất đối với sự thất bại của "Ford
Motor"?
15. Đi máy bay đến Hàn Quốc
sẽ được ăn Sushi
Hãng hàng không Asiana Airlines Hàn Quốc đã quyết định sẽ phục vụ
những hành khách Nhật Bản và Trung Quốc đến Hàn Quốc trong thời gian
diễn ra vòng chung kết World Cup 2002 một món ăn dân tộc đặc biệt như
Sushi - vịt quay Bắc Kinh Ngoài ra cũng trong thời gian này, Asiana
Airlines cũng mời khách một món ăn tráng miệng là chiếc bánh ngọt trang trí
theo hình sân bóng đã với một quả bóng đặt ngay giữa trung tâm sân. Người
phát ngôn hãng hàng không này cho biết việc phục vụ các món ăn đặc biệt là
nhằm tạo cảm giác gần gũi và thân mật trên các chuyến bay.
Câu hỏi thảo luận:
Những cơ hội gì do World Cup đem đến cho Hãng hàng không Asiana
Airlines Hàn Quốc trong dịp Thế vận hội bóng đá này? Những giải pháp trên
chứng tỏ hãng hàng không này đã vận dụng những nguyên tắc gì của quản lý
kinh doanh trong cơ chế thị trường?
16. Kymdan thua kiện
Công ty Cao su Kymdan đã bị Tòa án phúc thẩm buộc đính chính và
xin lỗi về hành vi quảng cáo của mình trên một số tờ báo hồi giữa năm vừa
qua. Tòa cho rằng nội dung quảng cáo của Kymdan đã nói xấu sản phẩm của
các công ty khác để mưu lợi cho sản phẩm của mình, vi phạm Điều 192, Luật
Thương mại; Điều 6, Nghị định 194 về quảng cáo. Đại diện công ty Kyndan
cho biết Công ty sẽ kháng án. Câu chuyện diễn biến như sau: Vào đầu năm
2001, sau khi Kymdan đăng quảng cáo với nội dung cho rằng chất lượng nệm
Vào thời gian đó, chỉ có ít khách sạn cung cấp các dịch vụ tương tự,
nhưng giá đều cao hơn giá ở khách sạn của ông Sơn. Để thu hút khách, ông ta
chỉ cần làm cho mọi người biết loại dịch vụ mà ông cung cấp. Ông Sơn đăng
quảng cáo trên một số ấn phẩm bằng tiếng Anh tại Việt Nam và trả 10% hoa
hồng cho bất cứ ai giới thiệu khách tới khách sạn của mình. Công việc kinh
doanh của ông ta nhanh chóng thành công trong một thị trường du lịch cầu
đang vượt cung.
Lợi nhuận thu được từ khách sạn trong giai đoạn 1990 - 1994 đạt
trung bình từ 750 đến 800 triệu đồng mỗi năm. Ông Sơn chính thức thành lập
Công ty Minh Hoàng, công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân của mình vào năm
1992, theo Luật Công tu của Việt Nam.
Năm 1994, ông chủ Công ty Minh Hoàng cảm thấy thời kỳ cực thịnh
của du lịch đã qua rồi, cho dù ông vẫn tiếp tục thu được lợi nhuận từ kinh
doanh khách sạn. Cung đã vượt cầu và ông quyết định đó là thời điểm phải
chuyển lĩnh vực kinh doanh. Việc chuyển sang lĩnh vực khác là một quyết
định sáng suốt vì cuối năm 1994, toàn bộ ngành du lịch bắt đầu suy giảm. Các
khách sạn mini mọc lên như nấm nhưng tốc độ khách du lịch vào Việt Nam
đã giảm đáng kể. Trong hai năm 1995, 1996, Công ty Minh Hoàng lỗ từ 3 đến
5 triệu đồng mỗi tháng.
Trong bối cảnh đó, ông Sơn đã tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới. Sau
khi tham quan rất nhiều nơi, ông nhận ra rằng ở các khu vực xung quanh như
Hồng Kông, Thái Lan và Trung Quốc, các nhà hàng loại này luôn luôn đầy
khách. Cũng có những nhà hàng như vậy ở miền Nam Việt Nam, nhưng ở Hà
Nội chỉ có hai nhà hàng và cả hai đều quá đắt đối với phần lớn người Việt
Nam.
Nhà hàng hải sản tươi sống của Công ty Minh Hoàng mang tên Sao
Biển cũng có không khí vui vẻ như ông chủ của nó đã thấy trong các nhà
hàng tương tự ở các nước khác nhưng giá thấp hơn đáng kể so với giá của các
đối thủ. Ví dụ, Sao Biển bán tôm hùm với giá 600.000 đồng/kg trong khi hai
đối thủ của nó bán với giá hơn 1 triệu đồng/kg.
xúc tác cho những thay đổi đó. Nối mạng toàn cầu sẽ làm tăng tốc độ, hiệu
quả và quy mô kinh doanh vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Phụ nữ sẽ
tham gia trong quá trình làm tăng nhanh các hoạt động kinh doanh trực tiếp
liên quan đến nối mạng, đến truyền thông và công nghệ thông tin.
Môi trường kinh doanh toàn cầu mới sẽ đòi hỏi một loại hình cao về
chất lượng con người - nhận thức có trình độ chuyên môn - do tính nhạy cảm
cao và hiểu biết rộng về các vấn đề đa văn hoá, là cấu thành quan trọng đối
với thành công trong các vấn đề kinh doanh.
Chính vì vậy, phụ nữ không chỉ tham gia trong các hoạt động kinh tế
ở châu Á mà họ còn xuất sắc trong môi trường có tính nhạy cảm như thế. Thật
ra những điều này đã diễn ra ở nhiều nước phương Tây. Đã có những phụ nữ
là người lãnh đạo quốc gia ở châu Âu. Trong số 500 công ty lớn nhất nước
Mỹ, tổng giám đốc nữ chiếm khoảng 30%. Riêng châu Á, phụ nữ vẫn chỉ
chiếm một thiểu số lực lượng lao động, nhất là vị trí lãnh đạo thì càng ít. Ví
dụ ở Hàn Quốc, dưới 60% phụ nữ độ tuổi 20 đến 50 được thuê làm trong các
công ty. Thậm chí một thống kê không vui với chị em là trong số phụ nữ có
học vấn cao đẳng hay đại học, chỉ có dưới 30% được thuê, và thường chỉ
được làm các công việc phụ.
Tuy nhiên, trong vòng 15 năm gần đây, vai trò phụ nữ đã có khác, phụ
nữ nắm vị trí quản lý doanh nghiệp đã tăng lên nhiều. Song, so với các quốc
gia công nghiệp hoá phương Tây thì tỷ lệ này còn thấp đáng kể. Đài Loan
cũng sử dụng nhiều phụ nữ trong lực lượng lao động so với Hàn Quốc. Hệ
thống giáo dục ở Đài Loan rất tốt, vì vậy phụ nữ được chú ý đào tạo và họ
cũng dễ dàng được thu hút vào nền kinh tế. Tại Nhật Bản cũng tương tự như
Hàn Quốc, tỷ lệ phụ nữ là chủ doanh nghiệp không cao.
Dưới ảnh hưởng của những chuẩn mực văn hoá truyền thống, dường
như xã hội đã loại phụ nữ ra khỏi vai trò lãnh đạo trong nhiều nước ở châu Á.
Song bước vào thế kỷ XXI, thái độ của xã hội đối với sự tham gia của phụ nữ
trong cả hai vấn đề chính trị và kinh tế sẽ phải thay đổi để cho sự mất cân
bằng giữa nam và nữ sẽ được điều chỉnh lại cho thích đáng.
Bạn có suy nghĩ gì (đồng ý, không đồng ý, lý do) về ý kiến của tác giả
nêu trong bài này về năng lực, sở trường và triển vọng vai trò của phụ nữ
trong kinh doanh, đặc biệt là trong quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để phát
huy vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lĩnh vực này, theo ý bạn, từng chị em,
gia đình, tổ chức giới (phụ nữ), lãnh đạo doanh nghiệp và Nhà nước cần có
những giải pháp cơ bản, chủ yếu gì?
19. Khi chỉ còn một đồng xu dính túi
Khi đề cập đến tính cách đặc trưng của mỗi dân tộc gần như là một
yếu tố phổ biến, cố hữu, mà chúng ta nên biết khi giao tiếp ứng xử, ông
Watnabê Akira - giáo sư Trường đại học Wakayama (Nhật Bản) đã đưa ra
một nhận xét như thế này: Tính cách cơ bản nhất của mỗi người sẽ bộc lộ khi
có cách nào đó đẩy người ta vào hoàn cảnh buộc phải có lựa chọn duy nhất và
chỉ có thể có một lựa chọn duy nhất mà thôi cho hành vi của mình. Cách đó
theo ông giống như người ta làm phép tính vi phân vậy, và bằng cách để cho
người đó rơi vào hoàn cảnh chỉ còn 1 USD cuối cùng.
Người Mỹ làm gì với 1 USD cuối cùng đó? Anh ta sẽ chạy ra đầu phố
mua quả táo và tìm cách bán quả táo đó ở cuối phố với giá 1,2 USD và cố
gắng cho 1 USD đó quay vòng thật nhiều trong ngày. Người Pháp: Anh ta sẽ
thở dài và đi mua một bông hoa cẩm chướng thật đẹp, tìm gặp người yêu, quỳ
dưới chân nàng, tặng nàng bông hoa và nói những lời có cánh thấm đẫm nước
mắt. Người Trung Quốc: Anh ta sẽ tìm gặp những người Trung Quốc khác
cũng cùng cảnh ngộ như thế (mà ở đâu chả có), bàn nhau cùng chung những
đồng USD cuối cùng để mở một gánh phá sa hay mì vằn thắn. Với người
Nhật thì sao? Anh ta sẽ liệng 1 USD cuối cùng của mình vào một xó xỉnh,
hay một gầm tủ khuất kín (đương nhiên không có chuyện ném ra ngoài cửa
sổ), cố gắng không nghĩ đến nó nữa, và tự đặt mình vào một tình thế cực
đoan: Nỗ lực thì sống, không nỗ lực thì chết. Để vài chục năm sau với nỗ lực
phi thường của mình, người Nhật đã kiếm được món tiền khá lớn. Lúc này
anh ta mới nghĩ đến xây lại căn nhà cũ của mình. Anh ta lục lại đống đồ cũ
tìm lại 1 USD trước kia, vuốt lại cho nó ngay ngắn và gắn nó trong một cái
được mục tiêu doanh thu nếu ông có kế hoạch cẩn thận và tạo ra các khuyến
khích cho đội ngũ nhân viên bán hàng và những người bán buôn của mình.
Ông muốn nâng hình ảnh của doanh nghiệp mình trong suy nghĩ của
công chúng mua hàng để họ sẽ nghĩ rằng HATV là một nguồn cung cấp tốt
nhất đáp ứng các nhu cầu sản phẩm điện tử của họ. Nhiều người Việt Nam
mua vô tuyến, đầu video, đài và thiết bị karaoke để sử dụng trong dịp Tết, và
ông còn muốn thu hút nhiều khách hơn tới doanh nghiệp mình. Ông quyết
định quảng cáo trên truyền hình, với tổng số 10 buổi phát quảng cáo vào
những ngày cuối tuần khi khán giả mục tiêu của ông thường hay xem truyền
hình. Ông thường cho quảng cáo trên truyền hình một vài lần trong thời gian
trước Tết và ông nhận thấy rằng số lần quảng cáo tăng lên sẽ giúp tăng nhanh
doanh số. Ông đã quyết định hỏi khách hàng tại sao họ chọn HATV và theo
dõi xem có bao nhiêu người nói tới các bản tin quảng cáo trên truyền hình
trong câu trả lời của họ.
Ông đề cập nhiều tới công ty điện tử đang có chương trình khuyếch
trương sản phẩm trong quảng cáo của mình, cũng như đề cập tới việc tặng quà
như balô, áo sơ mi, phích nước và túi thể thao cho tất cả những người mua
sản phẩm điện tử từ HATV. Ông đã nhận được các loại quà tặng này từ các
nhà sản xuất điện tử trong các chương trình khuyếch trương sản phẩm khác,
và ông vẫn còn giữ một số lượng lớn quà tặng. Ông nghĩ rằng những món quà
tặng nhỏ này có thể làm khách hàng lựa chọn sản phẩm từ HATV thay vì các
sản phẩm bán tại bất kỳ cửa hàng điện tử nào khác ở phố Hai Bà Trưng.
Ông Quân cho rằng việc khuyến khích các đại lý và nhân viên bán
hàng của mình thậm chí còn quan trọng hơn việc đẩy mạnh quảng cáo và tặng
quà cho khách hàng. Nếu các nhân viên bán hàng thấy được sự cấp thiết phải
đạt được mục tiêu doanh số và họ được nhận tiền thưởng dành cho sự nỗ lực
của mình thì ông cho rằng họ có thể dễ dàng thực hiện mục tiêu doanh thu của
ông.
Ông đã xây dựng một hệ thống tiền hoa hồng cho các đại lý bán buôn
của mình, cho tất cả các đại lý đạt được mức doanh thu thoả thuận trong tháng
Danh bạ
Tái bản tin quảng cáo
Biển quảng cáo
Biển hiệu trưng bày
Trưng bày tại điểm bán
Biểu tượng
Băng Video
Xúc tiến bán hàng
Các cuộc thi, trò chơi và trò chơi có thưởng
Hàng khuyến mại và quà tặng
Hàng mẫu
Hội chợ và trưng bày thương mại
Triển lãm
Biển diễn thực hành
Phiếu giảm giá
Trả lại một phần tiền hàng
Tài trợ lãi suất thấp
Giải trí
Quan hệ công chúng
Đăng tải trên báo chí
Bài phát biểu
Hội thảo
Báo cáo năm
Quyên góp từ thiện
Tài trợ
Các ấn phẩm
Các quan hệ cộng đồng
Vận động
Tạp chí doanh nghiệp
Các sự kiện đặc biệt