Bi kịch trong "Hồn Trương Ba da Hàng thịt" của Lưu Quang Vũ
Em hãy phân tích bi kịch và cuộc đấu tranh bảo vệ những phẩm tính cao quý , khát
vọng hoàn thiện nhân cách của hồn Trương Ba trong đoạn trích Hồn Trương Ba , da
hàng thịt của Lưu Quang Vũ .
I . Mở bài .
Lưu Quang Vũ ( 1948-1988 ) là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn học
Việt Nam . Tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của ông là vở kịch Hồn Trương Ba , da hàng thịt
. Đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba , da hàng thịt ( SGK Ngữ văn 12 ) là văn bản đặc sắc ,
qua việc khắc hoạ mâu thuẫn giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt , với người thân đã phản
ánh bi kịch và khát vọng hoàn thiện nhân cách của nhân vật hồn Trương Ba .
II . Thân bài .
1.Giới thiệu chung .
Vở kịch Hồn Trương Ba , da hàng thịt được sáng tác năm 1981 , đến năm 1984 mới ra mắt
công chúng . Đây là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ , đã công diễn
nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước . Vở kịch được sáng tác trong không khí đổi
mới tư duy , ý thức dân chủ trong đời sống , phong trào đấu tranh chống tiêu cực trong xã
hội . Vở kịch gồm 7 cảnh , được tác giả sáng tác dựa trên một cốt truyện dân gian .
Đoạn trích Vở kịch Hồn Trương Ba , da hàng thịt nằm ở cảnh 7 của vở kịch , qua việc xây
dựng xung đột giữa tâm hồn thanh cao của Trương Ba với thể xác phàm tục của anh hàng
thịt đã khắc hoạ bi kịch tha hoá và cuộc đấu tranh gay gắt bảo vệ , hoàn thiện nhân cách
của con người . Từ đó tác giả đã phê phán một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội và gửi
gắm triết lý nhân sinh sâu sắc về yêu cầu thống nhất giữa thể xác và tâm hồn .
2. Phân tích bi kịch của Trương Ba .
Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba
"ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy" với một lời độc thoại đầy khẩn thiết:"- Không.
Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này
lắm rồi! . Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ thể hiện trong
những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải . Hồn bức bối bởi
không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn
là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng
lúc càng rơi vào trạng thái tuyệt vọng.
tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã
khiến Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ
lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào.
Nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng
lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết
liệt: "Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu
thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? "Chẳng còn cách nào khác"! Mày nói như
thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có thật không còn cách nào khác?
Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!". Đây là lời độc thoại có tính chất
quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan
niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của Hồn trong cảnh này có một ý
nghĩa đặc biệt quan trọng: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi
muốn được là tôi toàn vẹn… Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không
nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là
cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời
thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể
có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối
bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an
ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra con người
quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là
mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng
tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi
đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết
tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.
Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ
không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả của một quá
trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới
chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và
Vũ biến thành một nông phu nho nhã, đôn hậu, cần mẫn, cao khiết - một người trồng cây,
một người làm vườn say mê xã hội mà “toàn dân chạy chợ” (ta nhận ra một xã hội hôm nay,
mặc dù ở đấy, những nhân vật tác oai tác quái khoác áo chức sắc thời xưa). Một hiện thân
của linh hồn giữa nhân quần cần đến rất nhiều thứ khác, nhưng không mấy tha thiết với linh
hồn. Cái linh hồn tự tôn ấy của Trương Ba sống không được ấm cúng trong thế gian này:
ngay trong gia đình nó là đối tượng thương xót cho vợ y là chướng ngại vật cho con trai y -
một con người “hiện đại” sống với một thế hệ giá trị đã đổi khác hoàn toàn. Ít toả sang ngay
trong nhà mình, cái linh hồn ấy lại càng không toả sang được trong làng xã, mà xem ra nó
cũng không có chí hướng toả sang, mà chỉ mong bảo toàn được mình, không hoà tan vào
dòng đời đục bẩn. Vì thế cho nên khi do sự cẩu thả của các quan nhà trời, một tai biến đến
với nó – nó phải chết đi rồi sống lại trong thân xác kẻ khác, những người xung quanh lại
càng không dễ thừa nhận sự tồn tại của nó. Lí Trưởng cùng Trương Tuần đến kiểm tra (trái
ngược với truyện cổ tích và giống hệt “kịch phi lí” hiện đại!) dở sổ đinh của làng ra và nói với
hồn Trương Ba: “ở đây làm gì có mục nào nói về hồn vía, chỉ toàn những thông số về thân
xác, than xác này là của anh hàng thịt! Linh hồn, chính vì nó đã thành cái quá ư không thiết
dụng, thậm chí trở thành trở ngại đáng ghét, cho nên chỉ cần một cớ bề ngoài, người ta phủ
nhận nó sạch trơn, không do dự đổ đồng nó với xác thịt! và hồn Trương Ba cao đạo muốn
sống trên đời này, phải nhượng bộ hết vị trí này đến vị trí khác. Đội lốt đổ tể, nó phải đóng
vai đồ tể, thực hiện “chức năng xã hội” của đồ tể trước công chúng. Hơn thế nữa cái than
xác của đồ tể, với những nhu cầu và tập tính của nó, ngày càng lấn chiếm, chi phối, sai
khiến, làm biến hỏng cái linh hồn ấy. Một lớp kịch gây ấn tượng mạnh: “ cuộc đối thoại giữa
hồn và xác” (cảnh VII) Hồn Trương Ba và xác hang thịt, theo quy luật nghệt thuật biểu
tượng xuất hiện ở đaâ như hai thực thể đối lập, nhưng không thể tồn tại riêng rẽ, có cái này
mà không có cái kia, vấn đề là cái nào tranh dành được quyền chỉ huy cái nào. Trong cuộc
tranh chấp ấy, rõ ràng xác hàng thịt thắng thế. Nó thắng thế không phải vì xác bao giờ cũng
mạnh hơn hồn, mà vì trong trường hợp cụ thể này, cái xác đã từng hợp tác với một linh hồn
khác, chị ảnh hưởng sâu sắc của nó, có thể nói đã trở thành một sản phẩm cuả linh hồn ấy.
Tuân theo trực giác nghệ thuật nhiều hơn là nhận thức triết học rõ ràng, tác giả bằng một số
chi tiết cho ta thấy cuộc vật lộn giữa hồn “trương ba” và da “hàng thịt” thực chất là cuộc
giao tranh giữa hai linh hồn tron một than xác. Thân xác nguyên sinh của anh hàng thịt
phát triển thái quá, nó dẽ chuyển hoá (như trong triết học và văn học hiên sinh phương Tây
một thời làm mưa làm gió trong thế kỉ qua) thành một thứ chủ nghĩa bi quan giáo điều, phủ
định mọi khả năng chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, cái chân. Mà chủ nghĩa giáo điều, dưới
mọi hình thức của nó là tử thù cuả bi kịch thực thụ. Bi kịch miêu tả sự bại vong của cái đẹp,
cái thiện, cái chân, nhưng nó sống bằng sự phúc sinh của chúng, nó luôn luôn để chỗ cho
“phép lạ”, cho cái huyền nhiệm của sinh tồn. Trong vở kịch suất sắc của mình, Lưu Quang
Vũ không đi đến chủ nghĩa bi quan cực đoan – hình ảnh Trương Ba, người làm vườn, người
vun trồng sự sống tươi đẹp vẫn sống trong tư tưởng của vợ ông, con dâu ông, cháu gái ông
nhưng họ yếu đuối làm sao và bất lực làm sao trước xã hội, nơi những chủ nhận thực sự là
anh đồ tể sống lại trong than xác phù hợp với hắn, là con trai của Trương Ba thấm nhuần
phép tồn tại ở đời này, là lũ quan chức tham nhũng vô liêm sỉ. Những con người ấy sẽ thất
bại trong thành đạt của họ, họ sẽ giận dữ đập tan những giá trị hôm qua họ mới dựng lên
để chạy theo những giá trị mới mà không bao giờ mãn nguyện. Vở kịch của Lưu Quang
Vũ sở dĩ thu phục được nhiều khan giản nước ngoài, có lẽ bởi vì nó ứng hợp với tâm trạng
phổ biển trong xã hội hiện đại - xã hội đã đánh mất niềm tin cũ vào giá trị siêu nhân loại và
chưa tim thấy được cái gì để thay thế nó.