môn đường lối cách mạng của đảng cộng sản- giới thiệu lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Pdf 25

MỤC LỤC
trang
Mở đầu………………………………………………………………………………………………1
Nội dung…………………………………………………………………………………………….1
1. Hoàn cảnh lịch sử……………………………………………………………………… 1
2. Nội dung lời kêu gọi…………………………………………………………………… 1
2.1 Bản chất kẻ thù… ….………………………………………………………………………… 2
2.2 Sức mạnh chính nghĩa của dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng
và khát vọng hòa bình của dân tộc ta……………………………………………………………… 3
2.3 Niềm tin vào cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc
qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến…………………………………………………… 4
2.4 Tư tưởng nhân văn và quan điểm chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến…………………………………………………… …… 4
a. Tư tưởng nhân văn……………………… …………………………………………………… 4
b. Quan điểm chiến tranh nhân dân…………………… ………………………………………….5
3. Ý nghĩa lời kêu gọi……………………………………………………………… …… 6
Kết thúc………………………… …………………………………………………………………6
1
MỞ ĐẦU
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước công
nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh
dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, đang
có nguy cơ bị cướp mất. Tình thế cách mạng lúc này như “ngàn cân treo sợi tóc”, mong manh như “trứng
để đầu gậy”, phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm. Một
số hiệp ước hòa hoãn của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tỏ rõ thiện chí hòa
bình, cố gắng nhân nhượng đến mức có thể, nhằm đẩy lùi chiến tranh. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng
thì thực dân Pháp càng lấn tới! Mọi nỗ lực cứu vãn hòa bình của ta đều vô hiệu. Pháp đưa ra những yêu
cầu vô lí, buộc chúng ta phải thực hiện, nếu không chậm nhất là ngày 20/12/1946 chúng sẽ hành động.
Trong thời điểm khó khăn như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
NỘI DUNG

súng cầm súng, ai có gươm cầm gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra
sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến, ta phải
hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng
2
kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng
chiến thắng lợi muôn năm!”.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước,
là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất
khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí
“quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi kháng chiến của Bác Hồ là một bản
cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát cao, chứa đựng tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh
nhân dân, toàn dân đánh giặc, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi. Từng câu, từng chữ trong
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ nhanh chóng ăn sâu, bám rễ, thấm nhuần vào sâu tâm
khảm nhân dân, trở thành mệnh lệnh trái tim thúc giục triệu triệu quân dân nước Việt, là hiệu lệnh tổng
tiến công của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trên khắp dải đất hình chữ S nói chung và Thủ đô
Hà Nội nói riêng. Đúng 20 giờ ngày 19-12-1946, ánh đèn trên các đường phố Hà Nội phụt tắt. Tiếp đó,
tiếng súng pháo đài Láng, Xuân Canh… vang dậy khắp thành phố, báo hiệu cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ, đồng thời sự kiện này đánh dấu ngày đầu tiên Hà Nội trong 60 ngày đêm khói lửa, giam chân
địch trong lòng thành phố, ngăn chặn địch đánh bung ra các vùng lân cận, phá vòng vây của địch trong nội
thành, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân Thủ đô sơ tán trở lại vùng tự do, căn cứ địa cách
mạng an toàn, thực hiện sách lược “vườn không nhà trống”. “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc tiếp tục làm sứ
mệnh lịch sử là hậu phương, căn cứ địa cách mạng, nơi tập trung cơ quan đầu não của Trung ương Đảng
lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc Việt Nam. Tại đây,
bằng trí tuệ, bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước vừa chiến đấu
vừa phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng hậu phương căn cứ địa vững chắc, thực hiện chính sách “thực
túc binh cường, ăn no đánh thắng”, vừa kháng chiến vừa xây dựng đất nước - là cơ sở vững chắc để quân
và dân ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.
2.1 Bản chất của kẻ thù.

chúng triển khai thực hiện những ý đồ đã định sẵn vì lợi ích của nước Pháp nhằm củng cố và không ngừng
nâng cao uy tín, vị thế của một cường quốc trên trường quốc tế. Đúng vậy! Sau hơn bao nhiêu năm tiến
hành những cuộc hành binh man rợ, tàn sát đẫm máu những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta, thực dân
Pháp mới áp đặt được ách thống trị trên đất nước Việt Nam. Thực dân Pháp đã tăng cường đầu tư vào Việt
Nam, để khai thác được nhiều hơn kho tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn nhân công rẻ mạt; để
thắt chặt thị trường Việt Nam qua đó điều tiết thị trường Lào và Campuchia. Lợi ích kinh tế là một trong
những mục đích chủ yếu, xuyên suốt, và là động lực cơ bản nhất thôi thúc Pháp đưa quân xâm lược Việt
Nam và Đông Dương. Vì thế, chúng bất chấp đạo lý, bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế, ngang ngược
thực hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam. Bản chất, âm mưu xâm lược Việt Nam của kẻ thù không hề thay
đổi, có chăng chỉ là sự thay đổi các thủ đoạn và biện pháp xâm lược mà thôi. Pháp quay trở lại Việt Nam
một lần nữa không chỉ là việc quay trở lại “lãnh địa” cũ của mình mà còn là để ngăn chặn ảnh hưởng của
Liên Xô và phong trào chủ nghĩa xã hội ở khu vực này. Như vậy, bản chất, âm mưu và chính sách xâm
lược Việt Nam của thực dân Pháp trước sau là nhất quán, vì lợi ích kinh tế và chính trị của họ. Những cơ
sở nêu trên giúp cho chúng ta trả lời câu hỏi “Vì sao ta phải đứng dậy kháng chiến?” và trong tác phẩm
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tóm gọn tất cả “Chúng ta muốn hòa bình,
chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa!” Vâng! Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là sự tiếp tục sứ mệnh
lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Tám. Sứ mệnh ấy luôn đi cùng với tư tưởng bao trùm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong thời kì này là ý chí đấu tranh ngoan cường cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do,
hạnh phúc của nhân dân. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”.
2.2 Sức mạnh chính nghĩa của dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và khát vọng hòa bình của dân tộc
ta.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chính là bản thông điệp về sức mạnh chính nghĩa của dân tộc
Việt Nam. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp là một cuộc chiến tranh phi nghĩa vì
nó trà đạp lên quyền tự do và độc lập của toàn thể dân tộc Việt Nam. Còn cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh vệ quốc, là cuộc đấu tranh bảo vệ tự do, bảo vệ đất
nước. Vì vậy, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa,
là chiến tranh chính nghĩa. Do đó sẽ tập hợp được mọi cá nhân, giai tầng yêu nước, đó chình là sức mạnh

đen tối “quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Hoà bình không chỉ là mục tiêu của nhân dân Việt Nam, mà đó
còn là mục tiêu chung của cả nhân loại. Hoà bình chỉ có thể có được bằng cuộc đấu tranh không mệt mỏi
vì độc lập, tự do của các dân tộc và sự nỗ lực chung của cả cộng đồng trên thế giới. Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến đã làm sáng tỏ tư tưởng của Bác Hồ về cuộc kháng chiến, đã thể hiện sâu sắc tinh thần tự do,
độc lập dân tộc, niềm tin, ý chí quyết tâm và sức mạnh của toàn dân tộc. Tư tưởng đó có vai trò định
hướng cho toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cứu nước của nhân dân ta.
2.3 Niềm tin vào cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Niềm tin vào thắng lợi của kháng chiến chống xâm lược như là tổng hoà của hệ thống các niềm tin
được chứa đựng trong nhân tố chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội. Đó là lòng tin vào sức mạnh
có giác ngộ chính trị; có tinh thần yêu nước nồng nàn; có ý chí quyết tâm cao, tinh thần chịu đựng khó
khăn, hy sinh, gian khổ; tin vào sức mạnh của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân, toàn dân
đánh giặc; tin vào sức mạnh của vũ khí, phương tiện có trong tay… Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt niềm tin vững chắc vào sự phát triển có quy luật của chiến tranh:
- Sự xâm lược nước Việt Nam một lần nữa là có thật, đó là bản chất của thực dân Pháp.
- Sự tin tưởng rằng nước ta không thể rơi vào tay Pháp, dân ta không thể làm nô lệ cho thực dân
Pháp.
- Sự tin tưởng vào tinh thần hy sinh, chịu đựng gian khổ, khó khăn của nhân dân, của binh sĩ, tự
vệ, dân quân trong chiến tranh.
- Sự tin tưởng vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân, sức mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện
với các loại vũ khí có trong tay.
- Sự tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến vì mục tiêu độc lập và thống nhất.
Tất cả các vấn đề trên đã thống nhất lại tạo cơ sở cho niềm tin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh
trọng tuyên bố và đó cũng là tư tưởng chỉ đạo xây dựng niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống xâm lược: “Giờ cứu nước đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù
phải gian lao kháng chiến , nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định sẽ thuộc về ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

2.4 Tư tưởng nhân văn và quan điểm chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến.
a. Tư tưởng nhân văn.

do của dân tộc, tạo điều kiện cơ bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc chiến tranh đó không những đáp
ứng yêu cầu trước mắt mà còn đáp ứng mục tiêu cơ bản lâu dài của nhân dân: Dân tộc độc lập, nhân dân
làm chủ cuộc sống của mình. Cuộc chiến tranh vì quyền lợi của dân tộc, của dân, do dân tiến hành là cuộc
chiến tranh mang đậm tính nhân văn.
b. Quan điểm chiến tranh nhân dân.
- Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân xuất phát từ quan điểm của Người
về vai trò của nhân dân; về tính chất chính nghĩa, động lực của cuộc kháng chiến là bảo vệ độc lập dân tộc
và thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục đích chính nghĩa của cuộc kháng chiến và
lòng tin tưởng của Người vào sức mạnh ý chí bảo vệ độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân
các dân tộc Việt Nam. Đối với dân tộc Việt Nam, lòng quyết tâm, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc và thống
nhất Tổ quốc của nhân dân là sức mạnh tinh thần bảo đảm cho dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn và chịu
đựng được bất kỳ thử thách nào của chiến tranh đánh thắng bọn xâm lược, dù chúng có tàn bạo và hung ác
đến đâu.
- Quan điểm về phát huy sức mạnh của dân tộc, thực hiện toàn dân kháng chiến, lực lượng vũ trang làm
nòng cốt. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện ý chí toàn thể dân
tộc Việt Nam quyết “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để bảo vệ nền tự do và độc
lập của mình. Xuất phát từ quan điểm về con người, lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất
cả. Vì vậy phải dựa vào dân khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Nhân dân đối với Hồ Chí
Minh là toàn dân Việt Nam không phân biệt già trẻ, trai gái, giai cấp, đảng phái, dân tộc. Người giải thích
toàn dân kháng chiến nghĩa là ai cũng phải đánh giặc. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ ai cũng
tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do, nếu mất nước
thì ai cũng phải làm nô lệ. Người đã tìm thấy điểm tương đồng, chất keo kết dính các tầng lớp, giai cấp,
dân tộc đó là lợi thế tối cao của dân tộc. Kết hợp được lực lượng nòng cốt với lực lượng rộng khắp của
6
toàn dân lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ trên cả nước và từng khu vực tạo nên sức mạnh lớn nhất
tiêu diệt quân thù.
- Quan điểm kháng chiến toàn diện, đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh thực hành kháng chiến toàn diện là mỗi ngành, mỗi giới, mỗi lĩnh vực công tác, chiến đấu sản xuất,
công tác đều nỗ lực tạo ra hiệu quả to lớn để phục vụ cuộc kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt
một cách dễ hiểu về tính toàn diện của cuộc kháng chiến: Nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị ta

gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19 -12 -1946 đến nay vẫn còn nguyên giá trị,
thúc giục toàn Đảng, toàn dân ta chung sức đồng lòng tiếp tục đưa đất nước Việt Nam nhanh chóng bước
ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, phát triển bền vững, sánh vai và hội nhập với thế giới vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”!
7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2007.
2. Hỏi đáp: Môn Đường lối cách mạng của Đảng công sản Việt Nam.
TS. Bùi Kim Đỉnh (Chủ biên).
NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội - 2009.
3. Giáo trình Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
Hội đồng biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lê nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2004.
4.
5.
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status