ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN
BÀI GIỮA KỲ
MÔN: SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN-THƯ VIỆN
1
Thư viện có một lịch sử hết sức lâu đời, từ khoảng 2500 năm TCN. Cùng
với sự ra dời của các thư viện là các sản phẩm và dịch vụ thư viện nhăm phục vụ
cho nhu cầu của người dùng tin. Theo một tác giả, sản phẩm dưới hình thức các
phiếu mục lục thư viện đã xuất hiện vào khoảng 2000 năm TCN. Trải qua hang
ngàn năm tồn tại, cho tới đầu thế kỷ thứ 3 TCN, tại thư viện Alecxandre đã có
những nhăm liệt kê tài liệu (lúc này vẫn là các bản chép tay), ngoài ra còn có các
yếu tố thư mục, các bản tóm tắt nhằm giúp người đọc lựa chọn thong tin thuận
lợi hơn. Điều đó có thể giúp chúng ta khẳng định các sản phẩm và dịch vụ thông
tin đã ra dời cùng với các hình thức thư viện cổ sơ nhất. Ban đầu cac dịch vụ còn
hết sức đơn giản như phục vụ đọc, mượn tài liệu. Dần dần theo thời gian các
dịch vụ này cũng ngày càng phát triển và trong bài viết này tôi xin giới thiệu các
sản phẩm và dịch vụ thông tin phổ bién nhất hiện nay đang và đã được áp dụng
khá rộng rãi ở hầu hết các thư viện với các quy mô lớn nhỏ khác nhau.
I. CÁC SẢN PHẨM THÔNG TIN
1. Khái niệm sản phẩm thông tin
Sản phẩm thông tin thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do cá
nhân, tập thể nào đó thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu người dung tin.
Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm chính là quá trình xử lý thông tin
(bao gồm biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng
quan…cũng như các quá trình phân tích tổng hợp thông tin khác). Người thực
hiện quá trình xử lý thông tin không ai khác chính là các chuyên gia làm việc tại
các cơ quan, tổ chức thông tin nào đó.
Các sản phẩm thông tin được hình thành nhằm thoả mãn những nhu cầu
thông tin, chíng phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu và sự biến động của nhu cầu.
+ Mục lục tổng quát
+ Mục lục các kho riêng
+ Mục lục thư viện
+ Mục lục liên hợp
- Căn cứ vào hình thức:
3
+ Hệ thống mục lục off-line
Mục lục phiếu
Mục lục sách
Mục lục tờ rơi
Mục lục dạng phiếu lỗ
Mục lục đọc máy
Mục lục trên các vật vi bản(vi phim, vi phiếu…)
+ Hệ thống mục lục on-line: mục lục truy nhập trực tuyến(OPAC)
- Căn cứ vào phương thức phản ánh các phiếu mô tả:
+ Mục lục chữ cái
+ Mục lục phân loại
+ Mục lục chủ đề
+ Phiếu tiêu đề các cấp
+ Phiếu chỉ dẫn.
2.2. Hệ thống phiếu tra cứu dữ kiện
Là tập hợp các phiếu chứa các thông tin dữ kiện về vấn đè cụ thể, được
sắp xếp theo một trật tự xác định.
2.3. Thư mục
Là một sản phẩm thông tin thư viện mà phần chính là tập hợp các biểu
ghi thư mục (có hoặc không có tóm tắt, chú giải ) được sắp xếp theo một trật tự
xác định phản ánh các tài liệu có chung một hoặc một số dấu hiệu về nội dung
hoặc hình thức.
Có các loại nhóm thư mục khác nhau như:
- Dựa vào hình thức của sản phẩm:
cập tới nhũng vấn đè có liên quan đến các tài liệu đã được xuất bản trước đó.
2.6. danh mục
Là một bảng liệt kê cho phép xác định thông tin về một hoặc một nhóm
đối tượng nào đó thuộc các lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc khu vực địa lý .
Đối tượng dược phản ánh:cá nhân ,cơ quan , đơn vị hành chính, đơn vị
kinh tế.
5
Lĩnh vực hoạt động xã hội là:nghiên cứu và triển khai, các ngành dịch vụ,
các ngành sản xuất, giáo dục-đào tạo…
Khu vực địa lý là:một hoặc một phấn tỉnh,thành phố,một số tỉnh, thành
phố, quốc gia, một số quốc gia thậm chí toàn thế giới.
2.7. tổng luận
là bài trình bày cô đọng, có hệ thống các thông tin và sự tổng hợp về các
vấn đề dược dề cập đến, tức là về hiện trạng, mức độ và xu hướng phát triển của
chúng.
Có các loại tổng luận sau:
- Dựa vào tính chất của quá trình xử lý thông tin để bien soạn:
+ Tổng luận tóm tắt
+ Tổng luận phân tích
- Dựa vào phạm vi ngành, vấn đề mà tổng luận phản ánh:
+ Tổng luận đa ngành
+ Tổng luận chuyên ngành.
- Ngoài ra còn một loại tổng luận đặc biệt do các trường đại học, cơ quan
nghiên cứu, trung tâm phân tích thông tin, các hiệp hội khoa học và công
nghệ…biên soạn và được xuất bản hang năm gọi la tổng luận hàng năm.
2.8. Cơ sở dữ liệu
Là một tập hợp các bản ghi hoặc tệp có quan hệ logic với nhau và được
lưu giữ trên bộ nhớ của máy tính.
- Có các loại cơ sở dữ liệu sau:
+ CSDL tích hợp
* Ngày 8/5/1975, thay mặt Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã ký quyết định số 93/CP về việc thành lập Viện Thông tin KHXH
* Viện được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 cơ quan thuộc Uỷ ban Khoa
học xã hội Việt Nam : Ban Thông tin Khoa học xã hội (thành lập 1973) và Thư
viện Khoa học xã hội (thành lập 1968)
* Thư viện KHXH là cơ quan tiếp nhận, bảo quản và phục vụ vốn sách
báo, tư liệu khoa học về phương Đông mà thư viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (có
trụ sở tại Hà Nội từ năm 1902) bàn giao lại cho Việt Nam năm 1957
7
* Năm 1978 ra Tập san Thông tin Khoa học xã hội, chuyển thành Tạp chí
Thông tin KHXH từ năm 1979
Tạp chí “Thông tin Khoa học xã hội” được xuất bản hàng tháng, là cơ
quan ngôn luận của Viện Thông tin KHXH, là diễn đàn của giới KHXH Việt
Nam, có nhiệm vụ “nghiên cứu về mặt lý luận và phổ biến những thành tựu mới,
luận điểm mới, phương hướng mới và phương pháp mới của các bộ môn KHXH
ở Việt Nam và trên thế giới”.
Và dưới đây là giới thiệu sơ qua về đội ngũ cán bộ nhân viên chịu trách
nhiệm về việc xuất bản, cũng như địa chỉ lien hệ để đóng góp ý kiến cũng như
để đặt mua tạp chí trên :
. TỔNG BIÊN TẬP
PGS. TS. Hồ Sĩ Quý
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
PGS. TS. Hồ Sĩ Quý (Chủ tịch), PGS. TS. Nguyễn Văn Dân, PGS.TS.
Vương Văn Toàn, TS. Phạm Thái Việt, Ths. Trần Mạnh Tuấn, CN. Bùi Thị
Thanh Hương, CN. Phùng Diệu Anh
ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ:
Toà soạn Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội
Phòng 608, Toà nhà số 1 Liễu Giai, Hà Nội
Điện thoại: (04) 2.730446
Dịch vụ thông tin thư viện được tạo ra nhằm kích thích nhu cầu tin, sử
dụng sản phẩm thông tin thư viện của người dung tin, đồng thời nâng cao hiệu
quả sử dụng thông tin. Tất cả các cơ quan thông tin tạo ra các dịch vụ đều nhằm
một mục đích cao nhất là người dung tincó thể sử dụng thông tin trong cơ quan
mình.
Một số khái niệm liên quan đến dịch vụ thông tin thư viện:
* Dịch vụ khoa học kỹ thuật: là một thuật ngữ được sử dụng trong kinh tế
học và quản lý hoạt động khoa học, công nghệ. Nó bao gồm các hoạt động nhằm
9
hỗ trợ và đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuậy vào sản xuất cũng như các lĩnh
vực khác.
* Dịch vụ dữ liệu: là một thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực tin học
và lien lạc viẽn thông. Nó thực hiện các quá trình quản trị các ngân hang thông
tin dữ liệu và cho phếp khách hang của nó thâm nhập thông tin đố với một số
điều kiện nhất định.
* Dich vụ viễn tin: là một thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực tin học
và lien lạc viễn thông, đây là dịch vụ truyền thông tin cho phép tiếp nhận các
văn bản đồ hoạ dưới dạng được trình bày giống như nguyên bản trên giấy.
2. Các loại dịch vụ thông tin thư viện
Bao gồm 8 nhóm dịch vụ thông tin chủ yếu sau:
- Nhóm dịch vụ cung cấp tài liệu
- Nhóm dịch vụ tra cứu thông tin
- Nhóm dịch vụ trao dổi thông tin
- Nhóm các dịch vụ tư vấn
- Nhóm dịch vụ phổ biến thồg tin chọn lọc
- Nhóm dịch vụ phổ biến thông tin hiện tại
- NHóm dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện ư
- Một số các dịch vụ khác
2.1. Nhóm các dịch vụ cung cấp tài liệu
Là một dịch vụ cơ bản của các cơ quan thông tin thư viện nhằm giúp
- Dich vụ hỏi đáp thông tin
- Dịch vụ internet.
2.2.1. Dịch vụ tra cứu thông tin tại thư viện
Là dịch vụ nhằm cung cấp cho người dung tin những thông tin phù hợp
với yêu cầu của họ theo các dấu hiệu đã có thông qua các công cụ dung để tra
cứu như kho tra cứu, hệ thống mục lục, các bản tra cứu được biên soạn kèm theo
các tài liệu.
Hiện nay việc tra cứu thông tin tại các thư viện chủ yếu do người dung tin
thực hiện theo hai hình thức:
11
+ Tra cứu tin truyền thống: tìm tin thông qua hệ thống mục lục phiếu,
danh mục, thư mục, tài liệu tra cứu. Tốc độ tìm tin phụ thuộc vào mức độ phức
tạp cuatra cứu các biểu thức phản ánh, phụ thuộc vào cách thức tổ chức, lưu trữ
cũng như khả năng tra cứu thông tin của các phương tiện sử dụng.
+Tra cứu tự động hoá: là sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin được tổ
chức dưới dạng CSDL cà được lưu trữ trên bộ nhớ của máy tính đẻ đáp ứng nhu
cầu của người dung tin.
2.2.2. Dich vụ hỏi đáp thông tin
Đây là dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dung tin tại các cơ quan
thông tin thư viện. Cán bộ thông tin thư viện là người trực tiếp trả lời các câu
hỏi cử người dung tin…
2.2.3. Dich vụ internet
Internet đã trở thành công cụ tr cứu tin rrát hiện đại và tiện ích. Nhu cầu
sử dụng internet trong cac cơ quan thông tin thưu viện đã trở thành yêu cầu
không thể thiếu. nó đòi hỏi các coq quan thông tin thư viện phải có kế hoạch
trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị máy tính, đường truyền để tổ chức truy
nhập dịch vụ internet phục vụ người dung tin.
2.3. Nhóm dịch vụ trao đổi thông tin
Bao gồm các dịch vụ:
- Hội nghị, hội thảo, serminar
- Diễn đàn điện tử: là một loại dịch vụ rất phổ biến được nhiều người
quan tâm và sử dụng vì những mục đích chuyên môn cũng như giải trí. Người
tham gia vừa là người cung cấp thông tin, vừa là người dung tin.
2.4. Nhóm dịch vụ tư vấn
là hệ thống các hoạt động nhằm cung cấp các thông tin trợ giúp cho việc
ra quyết định.
2.5. Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc
Là dịch vụ cung cấp các thông tin có nội dung và hình thức đã được xác
định từ trước một cách chủ động và định kỳ tới người dung tin.
2.6. Dich vụ phổ biến thông tin hiện tại
13
Bao gồm một hệ thống các dịch vụ, thông qua việc tìm kiếm xác định
những tài liệu mới phù hợp với nhu cầu của người dung tin( cá nhân , nhóm cá
nhân), sau đó thông báo cho họ thông tin về các tài liệu này.
2.7. Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện
- Tài liệu đa phương tiện là nhóm tài, liệu mà thông tin được lưu trữ trên
các vật mang tin đặc biệt. Muốn khai thác, sử dung cần một số thiết bị phù hợp.
Trong nhóm này không bao gồm các nguồn thông tin được lưu trữ dưới dạng số
hoá và được xử lý trên bộ nhớ của máy tính điện tử.
- Các loại tài liệu đa phương tiện: tài liệu vi dạng, tài liệu nghe nhìn.
2.8. một số các dich vụ khác
- Dịch vụ xử lý và đào tạo nghiêp vụ
- Dịch vụ đảm bảo an toàn thông tin.
3. Liên hệ
Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQGHN được thành lập ngày
14/2/1997 trên cơ sở sát nhập thư viện của các trường thành viên thuộc
ĐHQGHN. Mục tiêu, nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất mà Trung tâm được
giao phó là: tổ chức, quản lý và cung cấp tin, tài liệu phục vụ tối đa nhu cầu
thông tin - thư viện của đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, học sinh trong
toàn ĐHQGHN. Suốt từ năm 1997 đến nay, trung tâm thông tin thư viện,
* NHẬN XÉT
Qua những nét giới thiệu về hai dịch vụ trên chúng ta có thể nhận thấy
được một số ưu nhược điểm của 2 dịch vụ trên và để đánh giá hiệu quả một hoạt
động nào đó chúng ta phải căn cứ vào những tiêu chí nhất định như: mức độ
thoả mãn cho người dùng tin, chất lượng, giá cả, thời gian…như vậy chúng ta
có thể thấy rõ dịch vụ mượn và trả tài liêụ của thư viện đại học quốc gia Việt
Nam đã góp phần giúp người dung tin có thể mượn và khai thác tài liệu một
cách có hiệu quả, giúp vốn tài liệu của thư viện được luân chuyển thường xuyên
đặc biệt là các tài liệu có giá trị cao. Người dung tin khi đến thư viện để tìm tài
liệu hay tra cứu thông tin không phải lúc nào cũng có thời gian để khai thác hay
đọc hết tài liệu mà mình tìm thấy vì nhiều lý do có thể là do thời gian của người
dung tin không cho phép, hoặc một phần khác là do thư viện mở cửa và đóng
15
cửa theo thời gian quy định nên đôi khi người dung tin chưa khai thác hết tài
liệu thì đã hết giờ, nên phải để đến hôm sau nhưng rất có thể không tìm được tài
liệu mà mình cần nếu như có người khác mượn mất. Do vậy hình thức mượn tài
liệu về nhà đã khắc phục rất lớn những hạn chế trên giúp người dung tin có hứng
thú hơn khi đến các dịch vụ của thư viện đặc biệt là khi họ tìm được những tài
liệu mà mình yêu thích hay quan tâm.
Song bên cạnh mặt tích cực trên thì hình thức dịch vụ này cũng gây
không ít khó khăn cho cả người dung tin và cả thư viện, như thời gian mượn đối
với tài kiệu tham khảo còn hơi hạn chế chỉ có một tuần cho sinh viên, nếu như
tài liệu dài và khá phức tạp về nội dung thì thời gian quả là một vấn đề đáng
ngại, và số lượng tài liệu cho một lần mượn cũng hơi hạn chế vì sinh viên hay
phải làm các bài báo cáo, tiểu luân đòi hỏi phải có nhiều kiến thức do vậy tài
liệu là thức không thể thiếu nhưng một lần chỉ được mượn 2 cuốn, số lượng đó
phải chăng là hơi hạn hẹp.
Nếu như mượn quá số ngày quy định thì sinh viên sẽ bị khoá thẻ, điều
này có ưu điểm nhằm giúp cho sinh viên có ý thức hơn trong việc mượn và trả
tài liệu song thông thường thời gian khoá thẻ quá lâu, thậm chí có sinh viên bị