1
CHƯƠNG 1:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, từ ngày chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống nhân dân
được nâng lên, người ta trở nên giàu có. Nhân cách con người cũng đã có nhiều
biến đổi, nhưng bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực,
như Đảng đã nhận định trong Nghị quyết TW 2, khóa VIII là : “Đặc biệt đáng
lo ngại là một bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ
nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bảo lập thân, lập nghiệp vì
tương lai của bản thân và đất nước”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Hiện
nay tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã
hội và phạm tội đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”. Chính vì vậy, một trong
những định hướng lớn trong quan điểm giáo dục đào tạo tại Đại hội lần này đã
xác định: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học
sinh- sinh viên và nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, kế
hoạch 5 năm 2005-2010 là chuyển biến mạnh mẽ trong việc xậy dựng văn hóa,
đạo đức và lối sống.
Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Bác Hồ khi về thăm trường ĐHSP Hà Nội
đã nói: “Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quan trọng
có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường XHCN. Dạy cũng như học
phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất
quan trọng”. Do đó nhiệm vụ của nhà trường hiện nay là phải làm sao tìm những
giải pháp có hiệu quả trong công tác GDĐĐ cho HS.
Hiện nay tuy nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt kinh tế,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, nhưng bên cạnh đó
những tiêu cực của cơ chế thị trường đã tác động đến một bộ phận thanh niên
như: lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bảo, không có lý tưởng rõ ràng.
Mặt khác những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, do chạy theo bệnh thành tích
làm cho một số nơi nặng về dạy chữ hơn là dạy người, những tiêu cực trong dạy
tế thị trường đã có những tác động mạnh mẽ đến tâm lý, đời sống của mọi
3
người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Hậu quả là vẫn còn học sinh có những hành vi lệch
chuẩn về đạo đức, vì thế công tác GDĐĐ cho HS vẫn còn nhiều khó khăn, bởi
hành vi lệch chuẩn về đạo đức của HS ngày càng diễn ra phức tạp và nghiêm
trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp quản lý công tác
GDĐĐ cho HS là vấn đề trở nên hết sức cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề
nêu trên, nên tôi chọn đề tài: “Những giải pháp quản lý nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Phước Thiền” với mong muốn
góp phần hoàn thiện hơn việc quản lý GDĐĐ cho HS ở nhà trường nói riêng và
ở các trường THPT của tỉnh Đồng Nai nói chung.
2. Dự kiến những đóng góp của đề tài.
- Thông qua đề tài giúp cho các nhà GD trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiểu
rõ hơn những cơ sở lí luận và thực tiển trong công tác GDĐĐ cho HS, từ đó có
sự nghiên cứu thật sự nghiêm túc và khoa học về việc GD toàn diện cho HS,
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tệ nạn xã hội đang từng giờ từng phút
xâm nhập vào trường học, nạn bạo lực học đường và từ đó nâng cao kỹ năng
sống cho HS.
- Thông qua việc thăm dò, lấy ý kiến của GV, HS, Đoàn TN, CMHS… sẽ
giúp nhà trường nói riêng và Ngành GD của tỉnh nói chung hiểu rõ những tâm
tư, mong đợi, trăn trở của HS và CMHS về tình hình đạo đức của HS và hiệu
quả thực sự của việc GDĐĐ hiện nay trên địa bàn tỉnh.
- Thông qua đề tài này giúp Ngành GD tỉnh thấy rõ hơn những nguyên
nhân đã gây ra sự suy giảm về đạo đức của một bộ phận HS, nguyên nhân gây ra
nạn bạo lực học đường đặc biệt là tìm ra “huyệt” của vấn đề, từ đó tìm ra những
giải pháp hiệu quả cho công tác GDĐĐ cho HS.
3. Nội dung quản lý công tác GDĐĐ học sinh
3.1 Quản lý việc xây dựng nội dung, chương trình, hình thức, biện pháp
GDĐĐ cho HS.
Cơ sở để xác định nội dung GDĐĐ cho HS là: nội dung chương trình môn
lượng GD ngoài nhà trường đạt kết quả tốt, HT cần có kế hoạch chặt chẽ, có sự
phân công cụ thể và biện pháp thực hiện của từng bộ phận. Các bộ phận cũng
5
cần lập kế hoạch riêng một cách cụ thể hơn về biện pháp phối hợp, đây cũng là
một trong những biểu hiện của công tác xã hội hóa về GD.
3.4 Quản lý về hoạt động tự quản của các tập thể HS để GDĐĐ cho HS.
Trong công tác này, vai trò của GVCN, GVBM, Đoàn TN rất quan trọng.
HT phải chỉ đạo và quản lý các lực lượng này trong việc tổ chức, GD hình thành
tính tự quản của HS thông qua các nội dung cơ bản: Xác định tầm quan trọng
trong công tác tự quản của HS, hướng dẫn HS xây dựng nội quy học tập, rèn
luyện đạo đức, bồi dưỡng năng lực tự tổ chức, điều hành hoạt động của lớp, …
3.5 Quản lý về các điều kiện hỗ trợ công tác GDĐĐ cho HS.
Để công tác GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả cao, một yếu tố không thể xem
nhẹ đó là các điều kiện hỗ trợ cho công tác. Các điều kiện hỗ trợ công tác
GDĐĐ cho HS bao gồm: Việc bồi dưỡng đội ngũ CB-GV-NV; công tác thi đua
khen thưởng; cơ sở vật chất, kinh phí, môi trường sư phạm trong nhà trường;…
Nội dung quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ CB-GV-NV trong việc
GDĐĐ cho HS: HT cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo từng chuyên đề hoặc
theo từng chủ điểm; phát động phong trào tự học, tự bồi dưỡng của CB-GV-NV.
Nhà trường thực hiện nghiêm túc các đợt bồi dưỡng do cấp trên tổ chức; phân
công GV có kinh nghiệm trong công tác GDĐĐ, báo cáo điển hình về cách làm
hay đã mang lại hiệu quả trong nhà trường. Định kỳ, HT cũng có kế hoạch kiểm
tra, đánh giá công tác này để rút kinh nghiệm và làm tốt hơn công tác này.
Thi đua khen thưởng là biện pháp tác động tích cực nhất đến đội ngũ CB-
GV-NV trong công tác GDĐĐ: HT nên có kế hoạch phát động phong trào thi
đua và khen thưởng cho những cán bộ, GV, công nhân viên có nhiều nổ lực
trong công tác điều hành và chỉ đạo sát sao trong tác này. Nhưng cũng cần có
hình thức xử lý đối với những việc làm sai đi ngược lại với chủ trương của nhà
trường, phản tác dụng GDĐĐ cho HS.
Quản lý về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho công tác GDĐĐ cho HS
THPT PHƯỚC THIỀN
2.1 Thực trạng về đạo đức của học sinh THPT.
Bảng 1 Thống kê xếp loại hạnh kiểm của học sinh trường.
Năm học
Tổng
số HS
Xếp loại hạnh kiểm
Tốt Khá Trung bình Yếu
TS
Tỷ lệ
(%)
TS
Tỷ lệ
(%)
TS
Tỷ lệ
(%)
TS
Tỷ lệ
(%)
2010-2011 1177 956 81,2 174 14,8 47 4 0 0
2011-2012 1081 914 84,6 150 13,9 17 1,6 0 0
2012-2013 1038 913 88 112 10,8 13 1,2 0 0
Qua bảng xếp loại hạnh kiểm ta thấy cho thấy:
Phần lớn HS ở trường THPT Phước Thiền đều chăm ngoan, có ý thức
rèn luyện đạo đức tốt, HS xếp loại đạo đức loại tốt, khá chiếm tỷ lệ khá cao và
tăng lên các năm nhất là HS có hạnh kiểm tốt. Xếp loại hạnh kiểm của HS loại
trung bình chiếm một tỷ lệ thấp theo thứ tự các năm, đặc biệt là trong 03 năm trở
lại đây không có học sinh hạnh kiểm yếu. Nhưng nếu nhà trường chủ quan,
không có những biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS một cách phù hợp thì tỷ lệ
ngoài lớp; gây mất vệ sinh hay xả rác nơi công cộng, vi phạm các qui định về nề
nếp; mê chơi các trò chơi điện tử như: game, chat. Ngoài ra còn có những biểu
hiện vi phạm khác, mặc dù tỷ lệ HS vi phạm ít nhưng mang tính chất rất nghiêm
trọng như xem thường và vô lễ với GV, tình trạng HS uống rượu- bia, hút thuốc,
quan hệ không đúng mực, phá hoại tài sản và làm hư hỏng bàn ghế, vi phạm an
toàn giao thông đường bộ…
2.2 Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học
sinh.
9
Sau khi lấy ý kiến một số giáo viên, nhân viên, cha mẹ học sinh và cán bộ lớp
( 145 phiếu) trong trường, thì kết quả nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm
chuẩn mực đạo đức của học sinh như sau:
Bảng 3 Những nguyên nhân làm đạo đức HS đang sa sút
TT Nội dung trả lời Số ý kiến Tỷ lệ ( % )
1 Do quản lý nhà trường chưa tốt 15 10,3
2 Do GV chưa gương mẫu 23 15,8
3 Do CMHS chưa gương mẫu 26 17,9
4 Do tác động tiêu cực của xã hội 65 44,8
5 Do HS học yếu kém 62 42,8
6 Do cách GD chưa phù hợp (nặng
dạy chữ, nhẹ dạy người) .
34 23,4
Qua khảo sát cho ta thấy:
Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến đạo đức học sinh trường bị sa sút do
sự tác động nhiều mặt ngoài xã hội như: Trên địa bàn huyện có nhiều nhà máy,
công ty được hình thành kéo theo nhiều người dân ở tỉnh ngoài đến sinh sống và
làm việc. Nhiều nhà trọ mọc lên nên một số tệ nạn xã hội xâm nhập vào địa bàn
huyện, một số dịch vụ văn hóa thiếu lành mạnh (những tụ điểm cà phê không
lành mạnh, phim ảnh, dịch vụ Internet, bi da, quán nhậu…), đây là nguyên nhân
quan trọng dẫn đến tình trạng HS trốn học, bỏ tiết, gây gỗ đánh nhau, vi phạm
đình và xã hội phải quan tâm, đòi hỏi mọi người cùng nhận thức đúng đắn và
hãy cùng nhau tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất cho việc GDĐĐ và quản lý
GDĐĐ cho HS nhằm góp phần GD toàn diện cho HS trong tình hình hiện nay.
CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDĐĐ CHO HS Ở
TRƯỜNG THPT PHƯỚC THIỀN.
3.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ CB-GV-NV, HS,
CMHS và chính quyền địa phương.
Để thực hiện thành công nhiệm vụ GDĐĐ cho HS trong giai đoạn hiện
nay, việc nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ CB-GV-NV, HS,
11
CMHS và chính quyền địa phương là yếu tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến
chất lượng GDĐĐ cho HS.
* Mục tiêu của giải pháp:
Giúp đội ngũ CB-GV-NV, CMHS và chính quyền địa phương nhìn nhận
được một cách sâu sắc về tầm quan trọng và sự cấp thiết của công tác GDĐĐ
cho HS trong nhà trường. Qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tham
gia các hoạt động nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS nói riêng
và chất lượng GD toàn diện của nhà trường nói chung.
Giúp HS nhận thức, củng cố và phát huy khả năng tự ý thức, tự GD, tích
cực vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức.
* Nội dung của giải pháp:
Nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia các hoạt động
của các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm góp phần nâng cao chất
lượng GDĐĐ cho HS. Giúp họ hiểu được công tác GDĐĐ cho HS là nhiệm vụ
của toàn xã hội, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong nhà
trường.
Cán bộ quản lý, GV, CMHS và các lực lượng trong nhà trường phải quán
triệt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; các qui định, qui chế của
Ngành Giáo dục hướng dẫn của các cơ quan quản lý GD về công tác GDĐĐ cho
Minh”… để thực hiện GD toàn diện và nâng cao chất lượng GD của nhà trường.
+ Chỉ đạo thực hiện đầy đủ về chương trình giáo dục hướng nghiệp,
chương trình rèn luyện kỹ năng sống …để HS có thể định hướng nghề nghiệp
của mình và chọn nghề thích hợp sau khi học xong chương trình THPT.
+ Có kế hoạch phối hợp với phòng Tư pháp, Công an Huyện, Huyện
Đoàn, Hội Cựu Chiến binh… tổ chức tốt các buổi nói chuyện chuyên đề hay tổ
chức các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn
xã hội, giáo dục truyền thống tốt đẹp của địa phương… cho HS.
- Đối với Đoàn TN:
13
Đoàn TN phải nắm rõ mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước,
nhà trường, các kế hoạch hoạt động của Huyện đoàn để có kế hoạch hoạt động
xuyên suốt trong năm học với nhiều nội dung và hình thức sinh hoạt tập thể
phong phú, đa dạng, thiết thực và hấp dẫn nhằm GDĐĐ cho HS có hiệu quả.
- Đối với giáo viên bộ môn:
Nhiệm vụ quan trọng của GVBM là nâng cao ý thức trách nhiệm GDĐĐ
cho HS thông qua bài giảng trên lớp và sự gương mẫu trong lối sống, tư cách,
lời nói, việc làm, sự mẫu mực trong ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống của GV.
- Đối với giáo viên chủ nhiệm:
Là người trực tiếp GDĐĐ cho HS, có vai trò rất lớn đến chất lượng
GDĐĐ cho HS. Vì vậy, GVCN phải có nhận thức đúng đắn mục tiêu GD, nắm
vững các nội dung yêu cầu của các kế hoạch, chỉ thị, chiến lược phát triển GD
với tinh thần trách nhiệm cao, vận dụng tốt các phương pháp GDĐĐ cho HS,
hết lòng chăm lo GD cho thế hệ trẻ và tất cả vì HS thân yêu.
- Đối với học sinh:
+ Nhà trường phải coi trọng GD chính trị tư tưởng và tuyên truyền phổ
biến pháp luật cho HS là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường.
Cụ thể: cần trang bị cho HS những hiểu biết về chuẩn mực đạo đức mà xã hội
yêu cầu cũng như nhận thức được những giá trị về đạo đức; những quan điểm về
đạo đức, vị trí, vai trò, chức năng của đạo đức trong đời sống thường ngày,
GDĐĐ cho HS và cung cấp thêm một số kiến thức về những vấn đề tâm lý để
GD con em như: không nên nuông chìu con quá mức, không nên bao che và
dung túng những việc làm sai trái của HS, GD con em bằng tình thương và trách
nhiệm không được phạt nặng, hay quá nghiêm khắc làm cho trẻ phải nói dối có
thể sẽ sinh ra tai họa khác. Về lâu dài là trẻ sẽ thiếu tự tin, vì thế đối với gia đình
việc GD con em nghiêm minh thì được chứ không nên nghiêm khắc, không
được để trẻ mất niềm tin, không nên xao lãng việc theo dõi và GD con em…HT
phải làm sao cho CMHS hiểu được rằng: công tác GDĐĐ cho HS của nhà
trường nhằm giúp HS trở thành những con người phát triển toàn diện có phẩm
chất đạo đức, có kiến thức phổ thông cơ bản, có kỹ năng bước đầu vận dụng
kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống, bản
15
thân và cộng đồng. Việc cho con học nên người, ngoài việc mang lại lợi ích cho
bản thân các em, cho gia đình mà còn mang lại lợi ích cho xã hội.
CMHS cũng cần hiểu gia đình là tổ ấm của các em, là trường học đầu đời
của em. Trẻ em từ tờ giấy trắng, nếu chúng được nuôi dưỡng trong một môi
trường GD tốt, được sự quan tâm chăm sóc của ba mẹ và nhà trường thì cái tốt
sẽ được phát huy. Ngược lại, nếu thiếu đi sự quan tâm chăm sóc dạy bảo, uốn
nắn, không có sự phối hợp tốt giữa cha mẹ và nhà trường trong việc GD nhân
cách, đạo đức tất yếu các em sẽ rất dễ lạc lối và dẫn đến sa ngã.
- Đối với chính quyền địa phương:
HT có ý kiến đề xuất với UBND các xã (có HS theo học), các đoàn thể
địa phương cần có sự phối hợp tốt với nhà trường trong công tác GDĐĐ cho HS
thông qua kế hoạch tháng, học kỳ và năm học. Chính quyền địa phương cần tạo
điều kiện để phối hợp tốt với nhà trường tiếp xúc với CMHS khi cần thiết.
* Điều kiện để thực hiện:
HT cần nắm vững các văn bản về chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, những định hướng phát triển GD của Ngành, Bộ, Sở GD-ĐT.
Lãnh đạo nhà trường cần nghiên cứu các tư liệu liên quan nội dung bồi
dưỡng kiến thức về đặc điểm tâm lý học sinh THPT trong quá trình GDĐĐ cho
chất và phương tiện thực hiện, các lực lượng phối hợp tham gia…
Để lập kế hoạch công tác quản lý GDĐĐ cho HS có tính khả thi, HT cần
nắm vững thực trạng tình hình vi phạm đạo đức của HS, nhận thức của các lực
lượng trong và ngoài nhà trường về công tác GDĐĐ cho HS, những thuận lợi và
khó khăn, những mặt mạnh và yếu, những biện pháp đã thực hiện, chất lượng
GD của nhà trường, về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT,…
Kế hoạch quản lý công GDĐĐ cho HS được thực hiện năm, tháng, tuần
theo từng chủ điểm trong năm học, đảm bảo yêu cầu về mục tiêu GD.
- Nội dung GDĐĐ cho HS cần được đổi mới, giảm thiểu những vấn đề
cao xa, lớn lao đối với HS, nên bồi đắp cho các em lòng nhân ái, tính trung thực,
tinh thần tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, biết đạo lý, sống có kỷ luật.
Nội dung được thực hiện trong chương trình chính khóa và ngoại khóa, đặc biệt
cần tập trung sự quan tâm và nguồn lực vào các vấn đề bức xúc nhất về đạo đức
17
của HS mà đơn vị quan tâm như: HS thường xuyên nghỉ học, thiếu ý thức trong
học tập, trốn tiết chơi game, vô lễ với GV-NV, nói tục-chửi thề, gây gỗ đánh
nhau, hút thuốc-uống rượu, phá hoại tài sản, vi phạm qui định về an toàn giao
thông, phòng chống ma túy, phòng chống tệ nạn xã hội…
- Hình thức GD phải thật sự hấp dẫn, lôi cuốn HS tham gia thông qua tổ
chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu, cuộc thi viết, tổ chức các buổi dã ngoại-cắm
trại, về nguồn, chăm sóc các gia đình thương bịnh binh, chăm sóc phần mộ các
Anh hùng liệt sỹ, tiết hoạt động GDNGLL của GVCN, tiết chào cờ đầu tuần,
phong trào văn nghệ, thể dục- thể thao, chương trình phát thanh học đường,
tham gia mùa hè xanh, về nguồn…
* Cách thực hiện giải pháp:
- Đầu mỗi năm học, HT cần đưa ra một kế hoạch GDĐĐ chung cho toàn
trường, bảo đảm phù hợp với mục tiêu giáo dục và mang tính khả thi.
Bản kế hoạch phải được đưa ra bàn bạc, thảo luận và lấy ý kiến của toàn
thể Hội đồng giáo dục và cả CMHS trước khi đua vào thực hiện. Có kế hoạch
bồi dưỡng kiến thức về công tác GDĐĐ cho đội ngũ CB-GV là điều vô cùng
tập thể trong nhà trường.
- Kế hoạch công tác GDĐĐ cho HS bao gồm những nội dung và hình
thức phải cụ thể cho từng tuần, từng tháng, cho toàn năm học với những chủ đề
khác nhau và phù hợp với đặc thù lứa tuổi HS.
Trong mỗi năm học dựa vào các văn bản pháp qui như Luật GD, Điều lệ
trường trung học, nhiệm vụ năm học của Bộ, Sở GD-ĐT, căn cứ vào tình hình
địa phương và đặc thù của trường. HT sau khi thống nhất với tập thể sư phạm
nhà trường soạn thảo chuẩn thi đua nề nếp đối với các lớp và bản nội qui đối
HS, cho in thành văn bản và giao về cho GVCN các lớp triển khai cho từng HS
nắm rõ và thực hiện cho nghiêm túc. Nhà trường cho từng HS viết bản cam kết
không tham gia vào các tệ nạn xã hội, nhất là không vi phạm việc phòng chống
ma túy, không vi phạm các qui định về an toàn giao thông. HT phải nhận thức
rằng mỗi buổi tập trung đầu tuần chính là buổi học đạo đức, đây là một tiết học
hiệu quả và sinh động về cách sống đẹp và cách làm người tốt cho các em. Nội
dung GDĐĐ thông qua các môn học là một trong những biện pháp cần được áp
19
dụng triệt để, nhất là môn GDCD. HT chỉ đạo giải quyết việc GDĐĐ thông qua
hoạt động giảng dạy các môn học và thực hiện trong quá trình học tại nhà
trường.
3.3 Tổ chức-Chỉ đạo quản lý công tác GDĐĐ cho HS
* Mục tiêu của giải pháp:
Xác định đúng lực lượng chủ yếu tham gia công tác GDĐĐ cho HS. Đảm
bảo thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của các lực lượng tham
gia GDĐĐ. Phát hiện, điều chỉnh, bổ sung nội dung kế hoạch cho phù hợp với
tình hình thực tế.
* Nội dung thực hiện giải pháp:
Mỗi năm nhà trường phải thành lập Ban GDĐĐ cho HS của trường trong
đó trực tiếp HT làm trưởng ban. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ năm học, căn cứ
vào tình hình nhà trường Ban GDĐĐ xây dựng quy chế làm việc của từng thành
viên trong Ban một cách phù hợp đúng năng lực. Một điều cần lưu ý là phải chú
Đoàn TN. Lực lượng này giữ vai trò nòng cốt và mang tính quyết định sự thành
bại của công tác GDĐĐ cho HS. HT cần phát huy ý thức, trách nhiệm và mối
quan hệ phối hợp giữa các bộ phận để thực hiện một cách đồng bộ kế hoạch
GDĐĐ cho HS. Đồng thời thông qua bộ phận này, HT sẽ quản lý chặt chẽ,
thường xuyên nắm bắt kịp thời những thông tin của quá trình thực hiện để có kế
hoạch điều chỉnh, bổ sung kịp thời những nội dung, hình thức, biện pháp chưa
phù hợp để góp phần thực hiện thành công việc GDĐĐ cho HS.
Hàng tuần, HT cần tổ chức họp chủ nhiệm, để nắm bắt tình hình thực hiện
công tác GDĐĐ cho HS của từng lớp, có ghi nhận diễn biến quá trình GDĐĐ
cho HS các khối lớp đặc biệt là chú ý những HS chưa ngoan để đề xuất những
giải pháp GD cho HS một cách thích hợp nhằm đạt kết quả như mong muốn.
Song song với việc làm này, HT cần quy định thời gian cho các bộ phận báo
cáo định kỳ về công tác GDĐĐ cho HS theo từng tuần, tháng, học kỳ và năm
học. Nội dung báo cáo nêu quá trình thực hiện, những thuận lợi và khó khăn, kết
quả đã đạt được, tồn tại những vấn đề gì, phương hướng thực hiện, ý kiến đề
xuất, HT chỉ đạo các bộ phận trong nhà trường quan tâm nhiều đến HS nghèo,
21
HS có hoàn cảnh khó khăn, học sinh có nguy cơ bỏ học, HS chưa ngoan…có
biện pháp giúp đỡ khi các em gặp khó khăn trong học tập, trong sinh hoạt gia
đình. HT tham mưu với Chi bộ nhà trường, chỉ đạo các đảng viên, các tổ chức
đoàn thể trong nhà trường tham gia tích cực công tác GDĐĐ cho HS.
* Đối với giáo viên bộ môn:
HT luôn lưu ý GVBM, ngoài việc truyền thụ kiến thức văn hóa cho HS
trên lớp còn phải biết thông qua những tiết học, bằng phương pháp lồng ghép
hay tích hợp còn có thể GDĐĐ cho HS những điều hay lẽ phải, biết từ xa cái
xấu, hướng về cái thiện, cái mỹ ( đặc biệt là GV dạy các môn GDCD, Ngữ văn,
Lịch sử, Địa lý). Ví dụ:
Môn GDCD: thông qua những tiết học, GV sẽ giáo dục cho HS nắm
được những nội dung về pháp luật của Nhà nước để các em thực hiện cho tốt,
hay các em phải biết được những nhân cách nào cần có của người công dân
mọi đối tượng trong lớp tham gia nhằm GD tư tưởng đạo đức, phẩm chất và
nhân cách cho HS.
- Thường xuyên quan tâm đến đời sống của gia đình HS, nghiên cứu về
những vấn đề tâm sinh lý của lứa tuổi HS, quan hệ bạn bè, quan hệ người thân
để có biện pháp giúp đỡ khi các em gặp khó khăn. GVCN cũng cần phối hợp tốt
với GVBM, Đoàn TN, CMHS để nắm bắt những thông tin về HS trong quá trình
học các môn văn hóa, về mức độ tham gia hoạt động của Đoàn TN, quá trình
học tập và rèn luyện đạo đức ở nhà của HS. GVCN cũng có thể nắm bắt những
thông tin về quá trình học tập của HS thông qua bộ môn GVCN giảng dạy. Nếu
HS có những ý kiến đề xuất gì về GVBM hoặc với nhà trường thì GVCN chính
là chiếc cầu nối để thông tin đến những lực lượng này về những vấn đề mà HS
quan tâm để có cách giải quyết một cách thích hợp cho HS hiểu hơn.
- Xây dựng tốt quy chế tự quản cho HS trong các hoạt động như: tổ chức
học nhóm, lao động, sinh hoạt tập thể, khi GV vắng không đến lớp, sinh hoạt
đầu giờ học, truy bài, hội thảo… Phối hợp tốt với tổ chức Đoàn TN tổ chức tốt
phong trào thi đua hàng tuần theo từng chủ điểm trong năm. Có sơ kết hàng tuần
theo từng đợt phong trào theo từng chủ điểm. Mỗi chủ điểm cần có kế hoạch
23
một cách cụ thể: xác định mục tiêu nào là trọng tâm, có thang điểm cụ thể, quy
chế đánh giá và xếp hạng rõ ràng theo từng tuần.
- Tùy theo tình hình hoạt động của lớp mà GVCN cần xây dựng quy chế
thi đua giữa các tổ trong lớp một cách cụ thể và chi tiết hơn. Qua việc tổ chức
thi đua của HS và sinh hoạt các chủ điểm trong năm học, GVCN cần GD cho
HS tinh thần tập thể “Mình vì mọi gười, mọi người vì mình”, GD lòng yêu quê
hương đất nước, nhớ ơn các vị anh hùng dân tộc, ý chí phấn đấu vươn lên trong
học tập, tham gia tích cực các phong trào, chấn chỉnh tác phong, nề nếp sinh
hoạt. Có kế hoạch từng bước xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp, các
hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lặp đi lặp lại và trở
thành thói quen tốt trong quá trình thực hiện.
- Phối hợp với các lực lượng trong nhà trường có biện pháp giúp đỡ
nhà trường.
- Phối hợp với GVCN tổ chức tốt các hoạt động như: hoạt động
GDNGLL; tổ chức cho HS cam kết thực hiện tốt về an toàn giao thông, phòng
chống ma túy; thực hiện nói không với tiêu cực trong thi cử; tổ chức tốt việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức rèn luyện đoàn viên,
thông qua các hoạt động tạo điều kiện cho Đoàn TN hoạt động qua đó rèn luyện
thói quen, hành vi ứng xử đạo đức cho HS.
+ Có kế hoạch tổ chức nhiều chương trình có nội dung, hình thức, biện
pháp phong phú, đa dạng, phù hợp với lứa tuổi nhằm GDĐĐ cho HS được thực
hiện trong chương trình phát thanh học đường, chào cờ đầu tuần, cắm trại,
phong trào văn hóa- văn nghệ, thể dục- thể thao, Qua đó, giúp HS nhận thức
được các hành động, hành vi đạo đức sai trái cần phê phán; đồng thời giúp HS
tự tìm ra cách để tránh vi phạm, biết yêu thương, tương thân, tương ái và sống
lành mạnh, không vi phạm nội qui nhà trường và qui định Nhà nước.
+ Việc GDĐĐ cho HS phải gắn liền với rèn luyện thói quen hành vi đạo
đức. Điều này, đòi hỏi HT cần chỉ đạo cho cán bộ Đoàn phải có kế hoạch hàng
năm tổ chức cho HS tham gia các hoạt động xã hội như: chăm sóc mộ nghĩa
trang liệt sĩ, quét dọn các khu tưởng niệm, thăm hỏi các Bà mẹ Việt Nam anh
hùng, những gia đình thương binh-liệt sĩ, vận động quỹ hỗ trợ những gia đình có
25
hoàn cảnh khó khăn, dọn vệ sinh trong và ngoài nhà trường, tổ chức tham quan
các di tích lịch sử. Qua chuyến đi, Đoàn có kế hoạch cho HS viết những bài cảm
tưởng và suy nghĩ của các em về những việc đã làm, hoặc suy nghĩ về những
người có dịp được gặp gỡ. Từ việc làm này, đã giáo dục được cho HS biết nhớ
ơn những người đã hy sinh, những người đang làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương,
hải đảo cho các em được yên vui, học hành như ngày hôm nay.
* Điều kiện thực hiện giải pháp:
Lực lượng chủ yếu tham gia GDĐĐ cho HS phải có năng lực chuyên môn
tốt, nghiệp vụ sư phạm vững vàng; có năng lực tổ chức, có sức thu hút HS tham
gia phong trào; nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ; có tác phong đạo đức tốt; nắm