bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao - Pdf 25



4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Bài tập hóa học : BTHH
Công thức cấu tạo : CTCT
Công thức phân tử : CTPT
Công thức tổng quát : CTTQ
Đối chứng : ĐC
Giáo viên : GV
Hệ thống bài tập : HTBT
Học sinh : HS
Phương trình hóa học: PTHH
Sách giáo khoa : SGK
Sách tham khảo : STK
Thực nghiệm : TN
Trung học phổ thông : THPT
Bảng 3.22. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp 5 bài kiểm tra 95
Bảng 3.23. Tổng hợp kết quả học tập của 5 bài kiểm tra 96
Bảng 3.24. Tổng hợp các tham số đặc trưng của 5 bài kiểm tra 96 6 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1. Chu trình tự học 6
Hình 1.2. Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập 9
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 86
Hình 3.2. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 86
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 88
Hình 3.4. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 88
Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 3 90
Hình 3.6. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 90
Hình 3.7. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 4 92
Hình 3.8. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra lần 4 92
Hình 3.9. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 5 9
Hình 3.10. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra lần 5 94
Hình 3.11. Đồ thị đường lũy tích 5 bài kiểm tra 96
Hình 3.12. Đồ thị tổng hợp kết quả học tập của 5 bài kiểm tra 96

2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 22
2.3. Các dạng bài tập điển hình và hướng dẫn giải phần hóa học hữu cơ thuộc hóa
học 11 nâng cao ………………………………………………………… 23
2.4. Hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh tự học …………………………… 54
2.5. Sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học phần hóa học hữu cơ
11 nâng cao 79
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm 81
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 81
3.3. Đối tượng thực nghiệm 81
3.4. Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 82
3.5. Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 83
3.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 8
PHỤ LỤC 104
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, chúng ta đang sống trong xã hội tri thức. Xã hội có sự phát triển
như vũ bão của khoa học kĩ thuật đã và đang dẫn đến bùng nổ thông tin.
Trong giai đoạn này, nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập quốc tế là con người. Trước tình hình đó, để hội nhập với xu thế phát
triển chung của thế giới, của thời đại, một yêu cầu hết sức cấp bách đang đặt ra với
nền giáo dục nước ta là phải liên tục đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp
dạy học. Giáo dục phải tạo ra những con người có năng lực, đầy tự tin, có tính độc
lập, sáng tạo, những người có khả năng tự học, tự đánh giá, có khả năng hòa nhập

3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
3.2. Sưu tầm và xây dựng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học phần hoá học hữu
cơ thuộc Hóa học 11 nâng cao.
3.3. Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả.
3.4. TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp
đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất.
3.5. Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH bồi dưỡng việc tự học cho
HS trong quá trình dạy học.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Việc xây dựng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS phần hóa học hữu cơ thuộc Hóa học 11 nâng cao .
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận về việc HS tự học.
- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi
- Phỏng vấn.
- TN sư phạm đánh giá hiệu quả, tính khả thi của HTBT và các biện pháp bồi
dưỡng HS tự học đã đề xuất.
5.3. Xử lí kết quả TN sư phạm bằng các phương pháp thống kê toán học.
10

6. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức được giới hạn trong 6 chương : “Đại cương về hoá học
hữu cơ”, “Hiđrocacbon no”, “ Hiđrocacbon không no”, “Hiđrocacbon thơm - nguồn


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về BTHH và việc sử dụng BTHH trong dạy
học hoá học. Ở trong nước có GS.TS. Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về
bài toán; PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường nghiên cứu về bài tập thực nghiệm định
lượng; PGS.TS. Lê Xuân Trọng, PGS.TS. Đào Hữu Vinh, PGS.TS. Cao Cự Giác và
nhiều tác giả khác quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán, Các tác giả
ngoài nước như Apkin G.L, Xereda. I.P, nghiên cứu về phương pháp giải toán.
Đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành hóa học nghiên cứu về
vấn đề sử dụng hệ thống BTHH ở trường THPT ở các khía cạnh, mức độ khác nhau
như :
1. Hoàng Kiều Trang (2004), Tăng cường năng lực tự học phần hoá vô cơ
(chuyên môn I) cho HS ở trường Cao đẳng Sư phạm bằng phương pháp tự
học có hướng dẫn theo môđun, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần
hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP. Hồ
Chí Minh.
3. Văn Thị Ngọc Linh (2008), Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức lớp 11- chương trình chuẩn,
Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
4. Vũ Thị Phương Linh (2009), Thiết kế E-book hỗ trợ việc dạy và học phần
Hóa hữu cơ lớp 11 THPT (chương trình nâng cao), Luận văn thạc sĩ giáo
dục học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
5. Phạm Thùy Linh (2009), Thiết kế E-book hỗ trợ khả năng tự học của HS lớp
12 chương “Đại cương về kim loại” chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ
giáo dục học, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
6. Lại Tố Trân (2009), Xây dựng HTBT phát triển tư duy cho HS phần hóa hữu

nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có
khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có
chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý
muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu 13
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [23, tr.59 - 60].
Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh
tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình
nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.2.2. Các hình thức của tự học
Theo TS. Trịnh Văn Biều [ 10, tr.38], có 3 hình thức tự học :
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận
dụng các kiến thức trong đó. Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người
học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao.
- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
bằng các phương tiện thông tin khác.
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp : Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học.
1.2.3. Chu trình tự học của học sinh [23]
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời :
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn.
Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả
của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn. Có phương pháp tự học tốt sẽ
đem lại kết quả học tập cao hơn. Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây
dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành,
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo”.
Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo
dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông. Đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học. Vì
vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân
loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông.
Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt
đối với HS THPT. Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu
thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng, … HS sẽ khó thích ứng
do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt. Hơn thế nữa, nếu không có khả
năng tự học thì chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà
Hội đồng quốc tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4 năm 1996.
1.3. Bài tập hóa học
1.3.1. Khái niệm bài tập hóa học
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc 15
thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương
pháp dạy học hiệu quả. Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy
kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng
phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng
cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý

cách biến đổi, thao tác trí tuệ, ). Hình 1.2. Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập
Thông thường trong sách giáo khoa và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người
ta hiểu bài tập là nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích
chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư
duy hoá học và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn.
1.3.2. Tác dụng của bài tập hóa học [22], [29]
 BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy
HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên
cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của
chính mình. Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp
nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành
thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”.
 Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú. Chỉ có
vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc.
 Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt
nhất.
 Rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằng phương
trình phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kỹ năng
thực hành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hoá chất
 Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu
sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải

Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi
khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH mới thật sự
có ý nghĩa.
1.3.3. Phân loại bài tập hóa học [12]
Theo quan niệm thông thường, bài tập gồm cả câu hỏi và bài toán. BTHH
được chia làm 2 loại là bài tập trắc nghiệm tự luận (thường quen gọi là bài tập tự
luận) và bài tập trắc nghiệm khách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm).
- Bài tập tự luận là loại bài tập, HS phải trình phải tự viết câu trả lời, HS phải
tự trình bày, lí giải, chứng minh bằng ngôn ngữ của mình.
- Bài tập trắc nghiệm là loại bài tập khi làm bài HS chỉ phải chọn câu trả lời
trong số các câu trả lời đã được cung cấp. Do không phải viết câu trả lời nên thời
gian dành cho việc đọc, suy nghĩ và chọn câu trả lời chỉ từ 1 – 2 phút. Gọi là trắc 18
nghiệm khách quan do cách chấm điểm rất khách quan. Bài làm của HS được chấm
bằng cách đếm số lần chọn được câu trả lời đúng nên không phụ thuộc vào sự đánh
giá chủ quan của người chấm.
1.3.4. Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa
học [13]
1.3.4.1. Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau :
a) Nghiên cứu đầu bài
+ Đọc kỹ đầu bài.
+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ
cho dễ sử dụng).
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.
+ Viết các PTHH có thể xảy ra.
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Xây dựng tiến trình luận giải thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm

niệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi
tương ứng”.
 Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹ
năng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh.
 Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận
dụng được.
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến
thức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác. Đây là mức độ tối thiểu
mà HS cần đạt được trong giờ học tập.
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được
nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân. Nói cách khác, hiểu một kiến thức
là nêu đúng ngoại hàm và nội diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và
hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống
quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo.
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm
được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ
mới. Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc
hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho
mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi. Mặt khác, trong khi
vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được 20
hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao.
 Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn
cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều
hình thức tập luyện khác nhau. Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ
dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất. Theo
nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập. Vì vậy, kiến thức
sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến

học ở các trường THPT ở Tp.Hà Nội. Số phiếu thu hồi được là 66 phiếu.
- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 600 HS (13 lớp) ở các trường
THPT khác nhau ở Tp. Hà Nội. Số phiếu thu hồi được là 597 phiếu.
1.4.3. Kết quả điều tra
1.4.3.1. Phiếu điều tra cho học sinh
Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:
a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
Câu 1: Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Thái độ
Số ý kiến
Tỉ lệ %
Rất thích
66
11,1
Thích
231
38,7
Bình thường
270
45,2
Không thích
30
5,0
Câu 4: Ứng xử của HS khi gặp một bài tập khó
Phương án
Số ý kiến
Tỉ lệ %
Mày mò tự tìm lời giải
117
19,7


Câu 3: Chuẩn bị cho tiết bài tập
Phương án
Số ý kiến
Tỉ lệ %
Làm trước những bài tập về nhà
237
39,7
Đọc, tóm tắt, ghi nhận những chỗ chưa hiểu
147
24,6
Đọc lướt qua các bài tập
147
24,6
Không chuẩn bị gì cả
66
11,1
Câu 5: Số lượng bài tập HS làm được
A
i
%
12,5
37,5
62,5
87,5
Số ý kiến
63
252
201
81

36
6,0
Vừa đủ để theo dõi và ghi chép
348
58,3
Đủ để theo dõi nhưng chưa kịp ghi chép
144
24,1
Không đủ để theo dõi và ghi chép
69
11,6
Câu 8 : Những khó khăn mà HS gặp phải khi giải BTHH

Số ý kiến
Tỉ lệ %
- Thiếu bài tập tương tự
330
55,3
- Không có bài giải mẫu
387
64,8
- Các bài tập không được xếp từ dễ đến khó
291
48,7 23
- Không có đáp số cho bài tập tương tự
297
49,8

3
Học thêm (ở nhà GV hoặc trung tâm)
387
64,8
1
Dành nhiều thời gian tự học có sự hướng dẫn
của thầy cô
357
59,8
2
Câu 12 : Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc kiểm tra

Số ý kiến
Tỉ lệ %
Rất cần thiết
351
58,8
Cần thiết
201
33,7
Bình thường
36
6,0
Không cần thiết
9
1,5

Câu 13 : Lý do HS cần phải tự học

Số ý kiến

Để đọc lại bài trên lớp
390
65,3
Để chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn
318
53,3
Để đọc tài liệu tham khảo
282
47,2

Câu 15 : Cách thức tự học của HS

Số ý kiến
Tỉ lệ %
Chỉ học bài, làm bài khi cần thiết
336
56,3
Học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV
327
54,8
Chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thích thú
339
56,8
f) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác
động đến hiệu quả của việc tự học
Câu 16: Những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình tự học

Số ý
kiến
Tỉ lệ %

61,3
2

1.4.3.2. Phiếu điều tra cho giáo viên
Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:
a) Tình hình xây dựng HTBT của GV
Câu 2 : Sự đầy đủ các dạng và bao quát kiến thức của BTHH trong SGK và
sách bài tập 25

Thái độ
Số ý kiến
Tỉ lệ %
Rất đầy đủ
2
3,0
Đầy đủ
20
30,3
Chưa đầy đủ
44
66,7
Câu 3 : Sự cần thiết phải sử dụng thêm HTBT để nâng cao kết quả học tập
của HS

Số ý kiến
Tỉ lệ %
Rất cần thiết

Tỉ lệ %
sách tham khảo
50

Mạng internet
24

tự xây dựng
18

Câu 6 : HTBT được thiết kế theo

Số ý kiến
Tỉ lệ %
bài học
20

Chương
34

Chuyên đề
32

Câu 7 : Cách thức sử dụng HTBT

Số ý kiến
Tỉ lệ % 26

16
46
- Thí nghiệm thực hành
0
2
14
30
20
- Liên hệ giữa lý thuyết
và thực tế
0
0
12
34
20
c) Tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó
khăn gặp phải khi dạy BTHH
Câu 8 : Số lượng bài tập trung bình mà thầy cô hướng dẫn giải trong 1 tiết
học
A
i

2 bài
3 bài
4 bài
5 bài
> 5 bài
Số ý kiến
8
24

A

Câu 10 : Những khó khăn mà thầy cô gặp phải trong khi dạy BTHH
Nội dung
Mức độ khó khăn
1
2
3
4
5 27
- Không đủ thời gian
0
6
8
18
34
- Trình độ HS không đều
0
0
10
36
20
- Không có HTBT chất
lượng hỗ trợ HS tự học
0
5
7

5
- Soạn theo từng bài học
0
6
10
16
34
- Phân dạng
0
0
4
8
54
- Có hướng dẫn cách giải
cho từng dạng
0
4
4
12
46
- Có bài giải mẫu cho từng
dạng
0
2
4
20
40
- Có đáp số cho các bài tập
tương tự
0

tự nghiên cứu của HS lên một mức cao hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status