Một số bài tập tình huống kinh tế thương mại tham khảo và cách giải quyết cụ thể - Pdf 25

Bài tập tình huống kinh tế thương mai tham khảo và
cách giải quyết cụ thể
Bài tập 1: – trang 4
(8đ) Sưu tầm 1 ví dụ thực tiễn về hoạt động quảng cáo bị cấm thực hiện và phân
tích rõ các khía cạnh trái pháp luật trong ví dụ thực tiễn đã nêu.
Bài tập 2 : - trang 7
A, B, C và D cùng nhau thành lập công ty cổ phần Thái Bình kinh doanh sản
xuất đồ gỗ, nội thất với số vốn điều lệ là 3,5 tỷ đồng, được chia thành 350.000
cổ phần. Trong đó có 200.000 cổ phần phổ thông, 100.000 cổ phần ưu đãi biểu
quyết và 50.000 cổ phần ưu đãi cổ tức.
Hãy nhận xét về các sự kiện sau đây:
1. Các cổ đông sáng lập chỉ đăng ký mua và thanh toán đủ tiền mua
200.000 cổ phần tương đương với 2 tỷ đồng.
2. A đăng ký mua 50.000 cổ phần phổ thông, 20.000 cổ phần ưu đãi biểu
quyết. Nhưng hết thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp
GCNĐKDN, A mới chỉ thanh toán 30.000 cổ phần phổ thông và 20.000 cổ
phần ưu đãi biểu quyết.
3. B sở hữu 30.000 cổ phần phổ thông, 40.000 cổ phần ưu đãi biểu quyết và
10.000 cổ phần ưu đãi cổ tức. B muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho
người khác.
C sở hữu 20.000 cổ phần phổ thông. C đề nghị công ty chuyển đổi toàn bộ
cổ phần này thành cổ phần ưu đãi biểu quyết nhưng công ty không chấp
nhận, vì vậy C yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình.
Bài tập 3 : trang 17
Phân tích quá trình biến đổi cách tiếp cận của pháp luật quốc tế trong lĩnh
vực người khuyết tật
Bài tập 4 : trang 37
Công ty Hồng Hà chuyên kinh doanh mặt hàng điện tử. Tháng 6 năm 2013,
Công ty Hồng Hà ký hợp đồng giao đại lý số 18/HĐĐL cho Công ty Sơn Tùng với
một số điều khoản sau:
- Công ty Sơn Tùng chịu trách nhiệm bán toàn bộ 10.000 tivi nhãn hiệu FTV

Ngày 28/10, do ảnh hưởng trực tiếp từ cơn bão Sơn Tinh, nhà xưởng của B bị
sập, trong đó làm 6 chiếc máy may thuê của C bị hỏng.
1. Xác định các loại hợp đồng có thể có và hình thức của hợp đồng
2. Giá trị pháp lý của chứng thư giám định trong trường hợp này?
3. Thiệt hại tài sản do ảnh hưởng từ cơn bão do ai chịu trách nhiệm?
Bài tập 1:(8đ) Sưu tầm 1 ví dụ thực tiễn về hoạt động quảng cáo bị cấm thực hiện
và phân tích rõ các khía cạnh trái pháp luật trong ví dụ thực tiễn đã nêu
LỜI MỞ ĐẦU
Quảng cáo là một hình thức tiếp thị được sử dụng phổ biến tại tất cả các thị
trường mua bán trên thế giới. Nó tác động trực tiếp tới quyết định mua bán của
khách hàng và là nhân tố quan trọng góp phần tăng tính cạnh tranh, phát triển thị
trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do sự hám lợi nhuận của các
doanh nghiệp, sự nhẹ dạ cả tin của người tiêu dùng mà hoạt động quảng cáo đang
ngày càng có nhiều biểu hiện tiêu cực, trái pháp luật. Để làm rõ hơn vấn đề này,
bài tiểu luận của em xin đi sâu tìm hiểu và phân tích các khía cạnh trái pháp luật từ
một ví dụ thực tiễn : quảng cáo sữa của công ty cổ phần G&P-Mama sữa non.
NỘI DUNG CHÍNH
Hẳn rất nhiều người tiêu dùng trong nước, đặc biệt là các ông bố, bà mẹ có
con nhỏ đã từng một hay nhiều lần nghe tên về sản phẩm sữa dành cho trẻ sơ sinh
của công ty cổ phần G&P-Mama sữa non được quảng cáo rầm rộ trên các phương
tiện thông tin đại chúng trong một thời gian khá dài. Với mục đích khuyến khích
các bậc cha mẹ mua sản phẩm Mama sữa non cho con nhằm bù đắp những thiếu
hụt của sữa mẹ về chất dinh dưỡng, về lượng sữa trong giai đoạn đầu sau sinh .
Đoạn clip quảng cáo cho sản phẩm này đã mượn lời của một bà mẹ trẻ từng nuôi
con nhỏ và bị mất sữa trong những ngày đầu tiên con chào đời. Trong clip có đoạn
tâm sự của bà mẹ: “sau khi sinh em bé ra tôi bị mất sữa, nên tôi đã tìm đến bác sĩ
và nhờ vậy, tôi mới biết Mama sữa non được bổ sung sữa non, tốt cho em bé ở giai
đoạn sơ sinh nên tôi an tâm hơn khi dùng Mama sữa non, thấy bé phát triển rất
tốt” , đồng thời trong quảng cáo cũng nhấn mạnh thành phần sữa non của bò trong
sản phẩm Mama sữa non :“Sữa non của bò cũng có tính chất tương tự như sữa non

sản phẩm Mama sữa non của công ty cổ phần G&P-Mama sữa non đã vi phạm
nghiêm trọng quy định của pháp luật về quảng cáo, đem so sánh thành phần có
trong sản phẩm sữa của mình với nguồn sữa mẹ tự nhiên, coi nhẹ khuyến cáo nuôi
con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời mà bộ Y tế và tất cả các bà mẹ có con nhỏ
hướng đến.
Ngoài ra, xét về mặt chất lượng sản phẩm, kết quả kiểm nghiệm sản phẩm
của thanh tra y tế Hà Nội thời gian qua cũng cho thấy sản phẩm sữa non của công
ty cổ phần G&P-Mama sữa non không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực
phẩm so với hồ sơ công bố. Chỉ tiêu men vi sinh công bố trên nhãn sản phẩm là 10
mũ 6 trong khi đó kết quả kiểm tra của thanh sở y tế chỉ đạt 10 mũ 5, đây là hành
vi quảng cáo sai sự thật, đã được quy định cấm tại khoản 7, điều 109, Luật thương
mại. Theo đó, các quảng cáo thương mại bị cấm gồm “7.Quảng cáo sai sự thật về
một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ
hàng hóa, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng
hoá, dịch vụ”.
Như vậy, với việc không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cùng
những vi phạm trong hoạt động quảng cáo kể trên, công ty cổ phần G&P-Mama
sữa non hoàn toàn phải chịu sự xử lí của pháp luật đồng thời chịu trách nhiệm
trước những thiệt hại gây ra cho người tiêu dùng.
KẾT LUẬN
Trước sự phát triển của thị trường hàng hóa trong nước nói chung, thi
trường sữa dành cho trẻ em nói riêng, các doanh nghiệp, các nhà phân phối
đang ngày càng có nhiều cơ hội cạnh tranh hơn, điều đó cũng đồng nghĩa
với việc nảy sinh nhiều hơn những chiêu trò, những cách thức luồn lách
pháp luật để tận thu lợi nhuận và vượt lên trên đối phương của mình. Hoạt
đông quảng cáo vi phạm pháp luật là một ví dụ điển hình như vậy. Bởi lẽ
đó, các cơ quan chức năng, các ban ngành có liên quan cần chủ động hơn
trong việc thắt chặt quản lí, phát hiện và đẩy lùi những quảng cáo trái pháp
luật, mang đến một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích của
người tiêu dùng. Còn về phía người tiêu dùng, hãy sáng suốt trong việc lựa

chứng nhận đăng kí kinh doanh hay không vì pháp luật nước ta quy định
rất chặt chẽ, rõ ràng về công ty cổ phần nên ở đây với câu hỏi này ta có thể
chia thành 2 tình huống để xem xét.
Tình huống 1: Các cổ đông đăng kí và thanh toán đủ tiền mua 200.000 cổ
phần và thanh toán đủ số tiền mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày doanh
nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.
Do không nêu rõ 200.000 cổ phần mua nên ta có thể chia nhỏ thành các
trường hợp sau:
- Các cổ đông sáng lập đăng kí mua và thanh toán đủ tiền mua 200.000 cổ
phần phổ thông trong tổng số 350.000 cổ phần phát hành.
- Các cổ đông sáng lập đăng kí và thanh toán đủ tiền mua 200.000 cổ phần
nói chung trong tổng số 350.000 cổ phần phát hành.
Thứ nhất: Trong trường hợp các cổ đông mua và thanh toán đủ số tiền
200.000 cổ phiếu phổ thông trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày doanh
nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Trong trường hợp
này là không thể xảy ra được và là trái với quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 3 điều 78 Luật
doanh nghiệp có quy định: “ chỉ có tổ chức được chính phủ ủy quyền và cổ
đông sáng lập lắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ
đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp
giấy chứng nhân đăng kí kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu
quyết của cổ đông sáng lập phải được chuyển đổi thành cổ phần phổ
thông”
Như vậy pháp luật doanh nghiệp quy định doanh công ty cổ phần
chỉ thành lập được nếu như các cổ đông của công ty phải sở hữu cổ phần
ưu đãi biểu quyết ( trong đề bài không nhắc tới tổ chức được chính phủ ủy
quyền nên ta không xét tới) như vậy trường hợp các cổ đông chỉ mua cổ
phần phổ thông là trái quy định của pháp luật và không thể xảy ra.
Thứ hai: các cổ đông sáng lập đăng kí mua và thanh toán hết số tiền
mua 200.000 cổ phần nói chung trong tổng số 350.000 cổ phần phát hành

phổ thông, và 20.000 cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Trong trường hợp này ta thấy việc A chưa thanh toán hết 20.000 cổ
phần ưu đãi biểu quyết trong thời hạn 90 ngày là trái với quy định của pháp
luật.
Bởi theo khoản 1 Điều 80 Luật Doanh nghiệp quy định về nghĩa vụ
của cổ đông phổ thông như sau: “Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua
trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ
tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.”
Trên thực tế A đăng ký mua 50.000 cổ phần phổ thông, 20.000 cổ
phần ưu đãi biểu quyết. Nhưng hết thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty
được cấp GCNĐKDN, A mới chỉ thanh toán 30.000 cổ phần phổ thông và
20.000 cổ phần ưu đãi biểu quyết. Nghĩa là A vẫn còn 20.000 cổ phần phổ
thông cam kết mua nhưng chưa thanh toán.
Về việc A chưa thanh toán 20.000 cổ phần cam kết mua thì pháp luật
đã quy định như sau:
Tại điểm c khoản 5 điều 23 nghị định 102/2010 NĐ – CP của chính phủ
năm 2010 quy định “Trường hợp cổ đông không thanh toán đủ số cổ phần
đã đăng ký mua, số cổ phần còn lại được xử lý theo quy định tại khoản 3
Điều 84 của Luật Doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày cuối
cùng cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua; đồng thời, công
ty phải đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 6 Điều
này.”
Khoản 3 điều 84 luật doanh nghiệp quy đinh: “Trường hợp có cổ
đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ
phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các
cách sau đây:
a) Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ
phần của họ trong công ty;
b) Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó;

cổ phần cho người khác.
C sở hữu 20.000 cổ phần phổ thông, C đề nghị công ty chuyển đổi
toàn bộ cổ phần này thành cổ phần ưu đãi biểu quyết nhưng công ty
không chấp nhận, vì vậy C muốn công ty mua lại cổ phần của mình.
Trường hợp 1: B sở hữu 30.000 cổ phần phổ thông, 40.000 cổ phần ưu đãi
biểu quyết và 10.000 cổ phần ưu đãi cổ tức. B muốn chuyển nhượng toàn
bộ cổ phần cho người khác.
Theo khoản 10 điều 23 Nghị Định 102/2010 NĐ CP . Hạn chế
chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập quy định tại khoản 5 Điều
84 của Luật Doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với số cổ phần đăng ký mua tại
thời điểm đăng ký doanh nghiệp lần đầu và đã góp trong thời hạn 90 ngày,
kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Khoản 5 Điều 84 “Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được
cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác,
nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người
không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng
cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần
không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người
nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công
ty.”
Như vậy trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần Thái Bình
được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp thì B có quyền chuyển nhượng
30.000 cổ phần phổ thông của mình cho các cổ đông khác là A, C và D.
Nếu muốn chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người khác
không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của Đại hội
đồng cổ đông. Trong đại hội cổ đông thì nếu B dự định chuyển nhượng cổ
phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập thì B
không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng phần cổ phần phổ thông
đó và (giả sử B chuyển nhượng cho E) thì E trở thành cổ đông sáng lập của

thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng
cổ đông”.
Như vậy theo quy định của pháp luật thì số cổ phần phổ thông của
ông C không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi, mà ở đây là cổ phần ưu đãi
biểu quyết nên việc từ chối chuyển đổi cổ phần của Hội Đồng cổ đông là
hợp lý và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 90 LDN 2005 quy định về việc mua lại cổ phần
theo yêu cầu của cổ đông: “ Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về
việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy
định tại Điều lệ của công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của
mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ
đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu cồn ty
mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm
việc, kể từ ngày Đại hội cổ đông thông qua quyết định về các vấn đề quy
định tại khoản này”.
Vậy đối với việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần của ông C thì
theo như quy định của pháp luật , Ông C chỉ có quyền yêu cầu công ty mua
lại cổ phần khi biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty,
còn trong trường hợp này, ông C yêu cầu công ty mua lại cổ phần vì bị
công ty từ chối trong việc chuyển đổi theo yêu cầu của ông là chuyển toàn
bộ số cổ phần phổ thông của ông C thành cổ phần ưu đãi biểu quyết . Như
vậy lý do yêu cầu của ông C là không hợp lý.
Như vậy, cả hai yêu cầu của ông C đều không hợp lý và vi phạm luật
định nên sẽ không được chấp thuận.
Trên đây là toàn bộ phần nhận xét về các tình huống của nhóm3. Trong quá
trình làm bài không tránh khỏi những sai sót nên nhóm mong được sự
thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo để bài làm của nhóm được hoàn
thiện hơn!
Bài tập 3 :

Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì sự biến đổi cách tiếp cận trong lĩnh vực
NKT đó là sự thay đổi từ quan điểm cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật dưới
góc độ y tế (y học) sang quan điểm xã hội; từ cách tiếp cận mang tính nhân đạo, từ
thiện sang cách tiếp cận nhân quyền; từ chỗ coi NKT là "nhóm đặc biệt" sang quan
điểm coi những NKT là bộ phận của cộng đồng xã hội, thừa nhận tính đa dạng của xã
hội
II. Quá trình biến đổi cách tiếp cận của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực NKT
1. Nhận thức chung về người khuyết tật trên thế giới
Trong thế kỉ trước, người ta đã chứng kiến cuộc cách mạng lớn về vấn đề NKT,
qua đó thay đổi cách đề cập, nhìn nhận, tương tác và hỗ trợ đối với họ. Từ mô hình
“chăm sóc y tế” của những năm 50, trong suốt thời gian dài vấn đề NKT được xem là
vấn đề phúc lợi xã hội, theo đó quan niệm phổ biến là NKT cần được hỗ trợ, chăm sóc
và họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc sống của mình. Nói cách
khác, NKT bị coi là các đối tượng của phúc lợi xã hội mà không phải là chủ thể có
quyền như công dân bình thường.
Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người được các nước
phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960, như: Tuyên ngôn toàn thế giới của Liên
hợp quốc về quyền con người năm 1948, Công ước của Liên hợp quốc về quyền kinh
tế, văm hóa, xã hội năm 1966, Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính
trị năm 1966…tất cả các văn bản này đều không đề cập đến NKT. Đến năm 1970,
xuất phát từ Hoa Kỳ, bằng nhiều hình thức khác nhau, NKT và các hiệp hội của họ đã
chứng minh rằng họ hoàn toàn có khả năng, có quyền được sống và lao động như
những người bình thường. Sự nỗ lực bền bỉ của họ cùng với sự thay đổi về nhận thức
trong xã hội đã dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ về chính sách và pháp luật của Hoa
Kỳ về NKT.
Đến những năm 1980 những quan niệm nhân quyền tiến bộ của Hoa Kỳ về NKT
được phổ biến ở nhiều nước như: Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…Tư
tưởng cốt lõi của nhận thức mới này là các vấn đề NKT được xem xét dưới góc độ
quyền con người, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có quyền được sống cuộc
sống đầy đủ và có phẩm giá được ghi nhận trong tuyên ngôn toàn thế giới về quyền

ngăn trẻ sơ sinh khuyết tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ
bình thường sinh ra nó.
Để chứng minh làm sáng rõ quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức Y tế thế
giới - WHO, có 3 thuật ngữ liên quan đến người khuyết tật là: Khiếm khuyết
(impairments); khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) để nói về mức độ khuyết
tật.
Theo định nghĩa trong "Luật NKT Mĩ năm 1990", NKT là người bị khiếm khuyết
về cơ thể hoặc tinh thần, bị hạn chế cơ bản trong một hoặc nhiều mặt sinh hoạt. Một
người được coi là NKT nếu đã có một khiếm khuyết nào đó từ trước. Những khiếm
khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ.
Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có
thể được coi là NKT. Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay từ
lúc sinh ra ở một người nào đó.
Vào những năm 1970, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ tiếng Anh
"disability" (khuyết tật hay tàn tật) và "handicap" (không hội nhập được) để nói về
NKT. Từ "disability" được dùng để nói về một loạt những hạn chế về mặt chức năng
khác nhau xuất hiện ở bất cứ cộng đồng dân cư và bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Người ta có thể bị khuyết tật về cơ thể, trí tuệ hoặc giác quan. Những khiếm khuyết ấy
có thể là lâu dài và cũng có thể là nhất thời. Có nghĩa là từ "disability" giải thích vấn
đề "tàn tật" từ góc độ y học và chẩn đoán. Còn "handicap" có nghĩa là thiếu hoặc bị
hạn chế những cơ hội để tham gia vào đời sống của cộng đồng một cách bình đẳng
như những người khác. Nó mô tả sự đụng độ giữa NKT với môi trường sinh hoạt.
Mục đích của từ này là muốn nhấn mạnh đến những sự thiếu hoàn chỉnh của môi
trường sinh hoạt và trong nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, chẳng hạn như các
lĩnh vực thông tin, giao tiếp và giáo dục, sự thiếu hoàn chỉnh ấy đã góp phần làm ngăn
cản NKT được tham gia một cách bình đẳng. Có nghĩa là từ "handicap" giải thích vấn
đề "tàn tật" từ góc độ thiếu hoàn thiện của môi trường xã hội. Hai từ "disability" và
"handicap" thường được dùng không rõ ràng và nhiều khi lẫn lộn với nhau, vì thế mà
nhiều khi đã dẫn đến sự hướng dẫn chưa được thích đáng cho phía hoạch định chính
sách và thi hành chính sách.

dạng khuyết tật. Nhưng bên cạnh đó, có mặt trái là các “chuyên gia” có xu hướng
không đếm xỉa đến kinh nghiệm và hiểu biết của các cá nhân khuyết tật hay gia đinh
họ, chỉ quan tâm tới việc phục hồi chức năng cho NKT và quên việc cải tạo môi
trường xung quanh.
2.2 Cách tiếp cận của pháp luật quốc tế về NKT theo quan điểm xã hội.
Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nôi trội trong những nghiên
cứu về khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất. Mô hình
xã hội là mô hình có cơ sở lý thuyết và có quy tắc riêng, được coi là nền tảng của
những biến chuyển của vấn đề NKT.
Theo đó những rào cản và định kiến của xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những
nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật. Mô
hình này cho rằng một số người có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể
chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực
chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong
cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực. Mô hình xã hội
nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội.
Trong mô hình xã hội, khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và
phân biệt. Bởi vì xã hội được tổ chức không tốt nên những NKT phải đối mặt với một
số phân biệt đối xử như: Thái độ, thể hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểubiết và kỳ vọng (ảnh
hưởng bởi văn hóa và tín ngưỡng). Môi trường dẫn đến việc không tiếp cận về vật
cht, nh hng n tt c cỏc mt ca i sng nh trng hc, ca hng, giao
thụngTh ch, l nhng phõn bit mang tớnh phỏp lý. Nh khụng c lp gia ỡnh
hay cú con, khụng c nhn vo trng hc
Mụ hỡnh xó hi a ra nhng vn phc tp v khuyt tt. Nú th hin khuyt tt
l lp ct ngang cỏc vn xó hi v chớnh sỏch c bn lm thay i tỡnh trng v
hon cnh m NKT b hn ch hay ngn cn tham gia y nh cụng dõn bỡnh ng.
Mụ hỡnh xó hi v khuyt tt cho rng nhiu ngi b khim khuyt cỏc cỏch khỏc
nhau nhng ch xó hi bin h thnh khuyt tt; con ngi b khim khuyt nhng xó
hi b khuyt tt. Núi cỏch khỏc, mụ hỡnh xó hi khuyt tt coi xó hi l vn , gii
phỏp l phi thay i xó hi. Chớnh xó hi v chớnh sỏch cn phi ci t ch khụng

nói chung. Điểm yếu của mô hình này là do việc xác định phạm vi đối tợng rộng, với
nhiều mục tiêu bao trùm lên khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội nên tính khả thi,
tính thực chất không cao.
2.3 Cỏch tip cn ca phỏp lut quc t v NKT theo quan im nhõn quyn.
Ngoi hai cỏch tip cn nờu trờn, phỏp lut quc t cũn cp n cỏch tip cn t
quan im o c, t thin sang cỏch tip cn v quyn ca NKT.
Theo cỏc tip cn t thin: Nhỡn nhn NKT nh nhng nn nhõn ca vic suy gim
chc nng, khụng cú kh nng thc hin bt c iu gỡ. H l nhng nn nhõn, th
ng, bt lc. Khuyt tt l vn sc khe ca mt cỏ nhõn, h khỏc ngi thng,
vỡ vy cn nhng dch v c bit v nhng t chc c bit giỳp . u im ca
cỏch tip cn ny l NKT nng cú c hi c chm súc v nuụi dng. Nhng ngc
li h li b cụ lp trong mt mụi trng bit lp vi XH. NKT khụng cú c hi
xut ý kin; khụng thay i ý thc ca cng ng v kh nng ca NKT; NKT d sinh
li, trụng ch s giỳp ca ngi khỏc.
Nghiên cứu pháp luật NKT không thể không tiếp cận khái niệm quyền của NKT, vì
đây là xu hớng mới rất tiến bộ của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội liên quan đến NKT hiện nay. Theo đó, quyền của NKT chính là các quyền và tự
do cơ bản của con ngời thể hiện phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con
ngời với t cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và đợc chăm sóc, trợ giúp, bảo
vệ với t cách là nhóm ngời dễ bị tổn thơng, đợc thừa nhận, bảo hộ bằng pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia.
Quyền của NKT bao hàm tất cả những đặc điểm cơ bản của quyền con ngời, đó là
tính vốn có; tính phổ biến; tính không thể chuyển nhợng; tính không thể chia cắt và
phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm quyền. Ngoài ra, là nhóm ngời dễ bị tổn thơng
trong xã hội nên họ còn có thêm một số quyền u tiên có tính đặc thù. Các quyền này
về thực chất cũng không thoát li khỏi các quyền con ngời nói chung mà chỉ là những
điều chỉnh cần thiết mà xã hội dành cho họ, phù hợp với điều kiện của NKT, giúp họ
có cơ hội bình đẳng nh những thành viên khác trong việc hởng thụ các quyền con ng-
ời. Nh vậy, trong cơ cấu quyền của NKT chúng ta có thể thấy rõ gồm hai nhóm quyền,
đó là các quyền hoà nhập, nghĩa là những quyền con ngời chung cho cả ngời bình

nhất với thể chế quyền con ngời nói chung. Quan niệm ngang nhau về cơ hội hởng thụ
quyền là quan niệm phù hợp với phẩm giá con ngời, vì thế nó mang ý nghĩa định hớng

Trích đoạn Nguyờn nhõn của sự thay đổi cỏch tiếp cận về NKT của phỏp luật quốc tế Khỏi niệm và đặc điểm NKT trờn phương diện quốc tế 1 Khỏi niệm Khỏi quỏt tỡnh hỡnh NKT trờn thế giới và ở Việt Nam. Thiệt hại tài sản do ảnh hưởng từ cơn bóo do ai chịu trỏch nhiệm?
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status