Trờng đại học kinh tế quốc dân
Nguyễn ThùY LINH
PHÂN TíCH BáO CáO TàI CHíNH CÔNG TY TNHH
KHOáNG SảN Và LUYệN KIM VIệT TRUNG
Chuyên ngành: Kế TOáN, KIểM TOáN Và PHÂN
TíCH
ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. NGUYễN HữU áNH
Hà Nội - 2014
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của để tài.
Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính là giúp người sử dụng thông tin đáng
giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển kinh doanh
của doanh nghiệp. Thông qua phân tích báo cáo tài chính, các nhà quản trị đánh giá
được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh
nghiệp cũng như có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về “ bức tranh tài chính” của
doanh nghiệp.
Phân tích báo cáo tài chính không chỉ có vai trò quan trọng đối với các nhà
quản trị, mà nó còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà cung cấp, nhà cho vay,
người lao động, cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư,… Phân tích báo cáo tài
chính giúp các nhà cung cấp tín dụng đánh giá được các rủi ro tài chính để đưa ra
các quyết định tài trợ vốn hợp lý. Bên cạnh đó, việc xem xét báo cáo tài chính của
các đối thủ cạnh tranh giúp nhà quản trị đánh giá được khả năng tài chính và vị trí
của doanh nghiệp trong ngành và đưa ra các hoạch định chiến lược trong tương lai
của doanh nghiệp.
Đa dạng hóa các lĩnh vực, ngành nghề là xu hướng phát triển của nền kinh
tế nước ta hiện nay. Tập trung, ưu tiên phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
- Luận văn thạc sĩ “ phân tích báo cáo tài chính tại Tổng công ty cổ phần vật tư
Nông nghiệp Nghệ An” thực hiện bởi tác giả Trần Thị Hồng Thúy năm 2010. Tác
giả dựa trên cơ sở những số liệu tài chính của Tổng công ty tiến hành phân tích báo
cáo tài chính của Tổng công ty. Từ đó, đưa ra các đánh giá, nhận định và các biện
pháp giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định hợp lý. Tuy nhiên, tác giả chưa chú
trọng đến việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như xác định các rủi ro tài
chính tác động đến tình hình tài chính của từng công ty.
5
- Luận văn “ Phân tích báo cáo tài chính của Công ty CP sữa Việt Nam –
Vinamilk” tác giả Đinh Ngân Hà. Tác giả phân tích dựa trên cách tiếp cận Bảng cân
đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh một cách đầy đủ và đa dạng. Từ
đó cung cấp những thông tin về tình hình tài chính tại Công ty CP sữa Việt Nam –
Vinamilk như: Thông tin khái quát về tình hình tài chính, các chỉ số tài chính, khả
năng thanh toán, khả năng sinh lời, đòn bẩy và cơ cấu tài sản của Công ty. Qua đó,
luận văn chỉ ra biến động của các chỉ số tài chính, sự thay đổi của nguồn vốn và tài
sản của Công ty TNHH Khoáng sản và luyện kim Việt Trung qua thời kỳ nghiên
cứu của mình. Qua đó, tác giả đưa ra các đánh giá khách quan, hỗ trợ cho việc điều
hành của ban quản lý Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim Việt Trung. Bên
cạnh đó, tác giả đóng góp một số giải pháp thiết thực giúp các nhà quản trị Công ty
TNHH khoáng sản và luyện kim Việt Trung có thể vận dụng để tăng cường hiệu
quả quản lý công ty và giám sát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
phân tích báo cáo tài chính Công ty CP sữa Việt Nam – Vinamilk của tác giả Đinh
Ngân Hà chưa phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Qua nghiên cứu của một số luận văn nêu trên, thừa nhận những đóng góp và
kết quả các nghiên cứu đã đạt được nhưng tác giả cũng nhận thấy phân tích BCTC
doanh nghiệp không chỉ đơn giản là phân tích một hoặc một nhóm chỉ số. Mà phân
tích báo cáo tài chính cho người đọc thấy được các chỉ tiêu về tình hình tài chính,
hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán và các rủi ro tài chính cũng như các dự
báo về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua đó, có cái nhìn tổng quan, sâu sắc,
toàn diện hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua nguồn dữ liệu về
tài chính của Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim Việt Trung, về mặt thời gian
luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu số liệu dựa trên báo cáo tài chính của Công ty từ
năm 2011 đến năm 2013.
7
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng khung lý thuyết sau để phân tích báo cáo tài chính của
Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim Việt Trung.
Phân tích cấu trúc
tài chính
Phân tích tình hình
và khả năng thanh
toán
Phân tích hiệu quả
kinh doanh
Nội dung nghiên cứu của luận văn phân tích theo từng chỉ tiêu tài chính, kết
hợp với biểu diễn sự biến động của các chỉ tiêu thông qua hệ thống bảng, biểu để
người đọc nắm bắt được và so sánh được tình hình tài chính của đối tượng nghiên
cứu qua thời gian. Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích sau:
- Phương pháp so sánh: So sánh là phương pháp sử dụng phổ biến của phân
tích BCTC nhằm nghiên cứu kết quả, sự biến động và mức biến động của
các chỉ tiêu phân tích. Kết quả so sánh được biểu hiện bằng số tương đối
hoặc số tuyệt đối.
- Phương pháp loại trừ: Được sử dụng nhằm xác định xu hướng, mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Theo phương pháp này, khi
nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của
các nhân tố còn lại.
- Phương pháp chi tiết chỉ tiêu tài chính: Việc chi tiết các chỉ tiêu tài chính
theo các khía cạnh khác nhau giúp cho việc đánh giá kết quả kinh doanh
được chính xác hơn.
- Phương pháp mô hình tài chính Dupont: được sử dụng để phân tích liên hệ
Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Chương 3: Phân tích báo cáo tài chính Công ty TNHH khoáng sản và luyện
kim Việt Trung.
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, kiến nghị, giải pháp và kết luận.
9
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Khái niện,vài trò và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
2.1.1 Khái niện phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Thời điểm hiện này có khá nhiều các khái niệm về phân tích báo cáo tài chính
được đưa ra:
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình phân chia, phân loại hệ thống chỉ tiêu phản
ánh trên các báo cáo tài chính theo nhiều hướng khác nhau rồi sử dụng các phương
pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu
ích cho quản lý. Nguồn [8,tr5]
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân
tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm
năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro tài chính trong tương lai của
doanh nghiệp. Nguồn [7,tr8]
Phân tích báo cáo tài chính là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích
để xem xét mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đánh giá về
tình hình tài chính hiện tại cũng như dự báo về tình hình tài chính trong tương lai
của doanh nghiệp. Nguồn [9,tr99]
Từ những khái niệm trên cho ta thấy: Phân tích báo cáo tài chính nhằm cung
cấp những thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp
những thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tượng sử dụng thông tin
ngoài doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính không chỉ phản ánh tình hình tài
tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm
đề ra quyết định đúng.
11
Đối với ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu
vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và
các loại tài sản khác có thể chuyển thành tiền nhanh. Từ đó, so sánh với số nợ ngắn
hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Ngoài ra, các chủ
ngân hàng và các nhà cho vay tín dũng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ
sở hữu; bởi vì, số vốn chủ sơ hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp
doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy
người vay không đảm bảo chắc chắn rằng khoản vay đó có thể và sẽ được thanh
toán khi đến hạn. Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp vì đó là cơ sở cảu việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn.
Đối với người cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hóa, dịch vụ họ phải quyết địn xem
có cho phép khách hàng sắp tơi được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không.
Cũng như các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, nhóm người này cũng cần
phải biết được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của khách hàng.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi
ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy, họ cần
những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh
và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời, các nhà đầu tư cũng rất
quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả công tác quản lý. Những
điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư.
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp ( chủ sở hữu), các nhà quản lý, các nhà đầu
tư, các chủ ngân hàng,… còn có nhiều nhóm người khác quan tâm tới thông tin tài
chính của doanh nghiệp. Đó là các cơ quan tài chính, thuế, thống kê, chủ quản, các
nhà phân tích tài chính, những người lao động… những nhóm người này có nhu cầu
thông tin về cơ bản giống nhau như chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh
nghiệp… bởi vì nó liên quan đến quyền lời và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại
và tương lai của họ.
2.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính
13
“ Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ
kế toán hiện hành ( hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính
chủ yếu của đơn vị.” [VSA 200,4]
“ Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính,
kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung
cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của
một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng
trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính
phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
a/ Tài sản
b/ Nợ phải trả
c/ Vốn chủ sở hữu
d/ Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ
đ/ Các luồng tiền” [VAS21,5]
Theo chế độ kế báo cáo tài chính hiện hành, hệ thống báo cáo tài chính áp dụng
trong các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp có quy mô lớn bao gồm hệ
thống báo cáo tài chính năm, hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ kế toán, hệ
thống báo cáo tài chính tổng hợp và hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất. Các doanh
nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế
toán năm là tròn 12 tháng sau khi có thông báo từ cơ quan thuế. Trường hợp đặc
biệt, doanh nghiệp được phép thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc
lập báo cáo tài chính cho một kỳ kế toán băn đầu tiên hay kỳ kế toán năm dẫn đến
việc lập báo cáo tài chính cho một kỳ kế toán năm đầu tiên hay kỳ kế toán năm cuối
cùng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 12 tháng nhưng không vượt quá 15 tháng.
Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, hệ thống báo cáo tài chính năm
được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh
vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước là Công ty TNHH, Công ty cổ phần,
Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, kể cả hợp tác xã ( trừ hợp tác xã nông
trạng tài chính của doanh nghiệp.
ở cả hai phần, ngoài cột chỉ tiêu còn có cột phản ánh mã số, cột thuyết minh,
cột số cuối năm, số đầu năm. Ngoài các chỉ tiêu trong phần chính, bảng cân đối kế
toán còn có chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán.
b/ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tóm
lược các tài khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho
một năm kế toán nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh ( hoạt động bán
hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và các hoạt động khác.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm bao gồm các cột phản ánh các chỉ
tiêu của bảng ( cột 1), phản ánh mã số của các chỉ tiêu trong bảng (cột 2), phản ánh
đường dẫn đến các chỉ tiêu cần giải thích bổ sung ở bản thuyết minh báo cáo tài
chính (cột 3), phản ánh trị số của các chỉ tiêu trong kỳ báo cáo (cột 4) và phản ánh
giá trị của các chỉ tiêu mà doanh nghiệp đạt được trong năm trước (cột 5).
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: cung cấp những thông tin và kết quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, cung cấp những thông tin về tình
hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp. Từ sự phân
tích các số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, giúp quản trị doanh
nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá được các thay đổi tiềm tàng về
nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai, đánh giá khả
năng sinh lời của doanh nghiệp, hoặc đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ
sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng.
c/ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và
sử dụng luồng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu
chuyển tiền tệ phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu
chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để
đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra
16
đó trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
so sánh ngang ( còn gọi là phân tích ngang) và so sánh dọc ( còn gọi là phân tích
dọc). So sánh ngang báo cáo tài chính là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động
về cả số tuyệt đối và số tương đối trên từng chi tiết của từng báo cáo tài chính, còn
so sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất, các hệ số thể hiện tương quan giữa các chỉ
tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận.
Để áp dụng phương pháp so sánh, cần chú ý các vấn đề sau:
• Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu
- Đảm bảo thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu
- Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị của các chỉ tiêu về cả mặt chất lượng, số
lượng và giá trị
• Gốc so sánh
Để so sánh, cần phải có gốc so sánh. Thông thường, gốc so sánh được xác định
theo thời gian ( thời kỳ, thời điểm) hoặc không gian hoặc cả thời gian và không
gian tùy thuộc vào điều kiện và mục tiêu phân tích.
Kỹ thuật so sánh thường được sử dụng: So sánh bằng số tuyệt đối, so sánh
bằng số tương đối , so sánh bằng số bình quân.
- So sánh bằng số tuyệt đối: Số tuyệt đối được sử dụng để phản ánh quy mô
của các hiện tượng, sự vật, hoạt động,… Bởi vậy, khi so sánh bằng số tuyệt
đối, các nhà phân tích sẽ biết được quy mô biến động của chỉ tiêu phân tích.
Nói cách khác, so sánh bằng số tuyệt đối sẽ cung cấp thông tin về mức độ
biến động [ vượt (+) hay hụt (-)] của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so
với kỳ gốc.
- So sánh bằng số tương đối: Số tương đối phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc
18
độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu nghiên cứu. Do vậy, so sánh
bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được mức độ phổ biến, tốc độ
tăng trưởng, xu hướng và nhịp điệu biến động của các chỉ tiêu.
- So sánh bằng số bình quân: Số bình quân san bằng mọi chênh lệch về trị số của
chỉ tiêu nghiên cứu, nó phản ánh mức đọ bình quân hay đặc điểm điển hình của
Việc xem xét các chỉ tiêu tài chính phản ánh đối tượng nghiên cứu theo bộ
phận hay yếu tố cấu thành giúp các nhà quản lý đánh giá được chính xác vai trò và
vị trí của từng bộ phận trong việc hình thành kết quả và hiệu quả kinh doanh chung.
Tương tự, bằng việc xem xét chỉ tiêu tài chính phản ánh đối tượng nghiên cứu theo
thời gian, các nhà quản lý nắm bắt được nhịp điệu, tốc độ tăng trưởng và xu hướng
tăng trưởng của chỉ tiêu mà qua đó, sẽ có những quyết định kịp thời, sát thực với
tình hình cụ thể để chỉ đạo sát sao tiến độ kinh doanh cũng như giải quyết các tình
huống bất trắc phát sinh. Việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo
không gian ( địa điểm) sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá đứng đắn, chính xác kết
quả của từng đơn vị và là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các quyết
định liên quan đến việc xác định địa bàn kinh doanh trọng điểm, quyết định mở
rộng hay thu hẹp địa bàn kinh doanh, đánh giá đúng kết quả thực hiện hạch toán
kinh doanh nội bộ, phát hiện các điển hình tiên tiến,…
2.3.4 Phương pháp mô hình tài chính Dupont
Một phương pháp được sử dụng khá phổ biến được lấy theo tên của Công ty đầu
tiên sử dụng là phương pháp phân tích Dupont. Là phương pháp phân tích dựa trên
mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính để biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp
thành một hàm số của một loạt các biến số.
Nội dung của phương pháp này là tìm cách chia nhỏ một tỷ số tài chính tổng hợp
ra thành các tỷ số tài chính nhỏ hơn. Rồi các tỷ số tài chính nhỏ hơn đó lại được tiếp
tục chia nhỏ ra tiếp. Mỗi tỷ số nhỏ ở bên dưới được xem như là một nhân tố tác
động làm thay đổi tỷ số tổng hợp. Bằng cách này, người phân tích có thể tìm hiểu
được đến gốc rễ những nguyên nhân có thể làm thay đổi tỷ số tổng hợp đầu tiên.
20
Thông thường thì tỷ số tổng hợp ở trên đỉnh của tháp tỷ số được chọn là tỷ số lợi
nhuận trên tổng tài sản hoặc tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu,…
Theo phương pháp này mối quan hệ giữa các nhân tố được thể hiện như sau:Tỷ suất sinh lời của vốn CSH ( ROE)
tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Sự
tăng trưởng hay giảm sút của từng bộ phận vốn của doanh nghiệp, xu hướng biến
động về có cấu vốn không chỉ phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả huy
động vốn mà còn cho thấy chính sách huy động vốn của doanh nghiệp. Qua đó, có
thể đánh giá được kết quả tạo lập và huy động vốn về quy mô nguyên nhân ảnh
hưởng, đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động, chính sách huy động và tổ
chức nguồn vốn cũng như xu hướng biến động của có cấu nguồn vốn huy động.
Mặt khác, đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của doanh nghiệp không
chỉ dừng loại ở việc đánh giá sự biến động về quy mô về cơ cấu vốn, về tốc độ tăng
trưởng vốn, về nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động mà còn phải chỉ rõ xu
hướng và nhịp điệu tăng trưởng vốn của doanh nghiệp. Xu hướng tăng trưởng của
vốn cho các nhà quản lý biết được phần nào mức độ phát triển của doanh nghiệp.
Tổng số vốn tăng theo thời gian sẽ cho biết quy mô kinh doanh của doanh nghiệp
được mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp đang trên đà tăng trưởng và ngược lại. Một doanh nghiệp muốn tăng trưởng
và phát triển bền vững đòi hỏi không chỉ tăng trưởng vốn về quy mô mà còn phải
với nhịp điệu đều đặn và ổn định.
Để phân xu hướng tăng trưởng của vốn, các nhà phân tích sử dụng phương
pháp so sánh bằng số tương đối định gốc tiến hành so sánh tốc độ tăng trưởng theo
22
thời gian của tổng số vốn với một thời kỳ gốc cố định
Tốc độ tăng trưởng vốn
kỳ thứ i so với kỳ gốc
=
Tổng số vốn hiện có tại kỳ thứ i
x 100
Tổng số vốn hiện có tại kỳ gốc
[ Nguồn 6, tr100]
Để biết được nhịp điệu tăng trưởng vốn có đều đặn giữa các kỳ hay không, sử
dụng phương pháp so sánh bằng số tương đối động thái liên hoàn.
23
tài sản dài hạn.
Trị số của chỉ tiêu = 1 số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ để trang trải
tài sản dài hạn. Trong trường hợp này, mặc dù mức độ độc lập tài chính
không cao nhưng doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các
khoản nợ. Do vậy, an ninh tài chính vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp tiến hành
hoạt động bình thường để phát triển vượt qua khó khăn.
Trị số của chỉ tiêu < 1 Vốn chủ sở hữu không đủ tài trợ tài sản dài hạn, doanh
nghiệp buộc phải sử dụng các nguồn vốn khác để tài trợ
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định =
Vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định đã và đang đầu tư
[ Nguồn 6, tr101]
Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản
dài hạn bằng vốn chủ sở hữu.
Trị số của chỉ tiêu > 1 số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và thừa để
trang trải tài sản cố định
Trị số của chỉ tiêu = 1 số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ để trang trải
tài sản cố định
Trị số của chỉ tiêu < 1 Vốn chủ sở hữu không đủ tài trợ tài sản cố định, doanh
nghiệp buộc phải sử dụng các nguồn vốn khác để tài trợ
2.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
2.4.2.1 Khái niệm và nội dung phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp được xem xét về cả nghĩa hẹp và nghĩa
rộng. Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu nguồn tài trợ tài sản
( nguồn vốn) của doanh nghiệp mà qua đó những người sử dụng thông tin biết được
tỷ trọng của từng bộ phận nguồn tài trợ chiếm trong tổng số nguồn tài trợ tài sản của
doanh nghiệp, đáng giá được tính hợp lý của cơ cấu nguồn tài trợ, chính sách huy
động nguồn tài trợ cũng như an ninh tài chính của doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng,
cho hoạt động của doanh nghiệp vừa đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu là
25