[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1.
1.1 Khái niệm 4
1.2 Các phương pháp đo lường tiến bộ công nghệ 5
1.3 Vai trò của R&D và mức chi tiêu cho R&D 5
1.4 Vai trò của TBCN đối với phát triển kinh tế 6
1.5 Xu hướng quốc tế hóa hoạt động R&D công nghệ 9
1.6 Hạn chế R&D công nghệ tại các nước đang phát triển 9
CHƯƠNG 2.CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ
2.1 Định nghĩa 10
2.2 Các phương pháp đo lường tiến bộ công nghệ 10
2.3 Các nhân tố tác động đến CRVI 13
CHƯƠNG 3.CÁC YẾU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ
3.1 Khả năng sinh sôi của quá trình nghiên cứu 16
3.1.1 Sự tương tác nghiên cứu 16
3.1.2 Hệ thống giáo dục 18
3.1.3 Nền văn hóa tinh thần kinh doanh 20
3.1.4 Quá trình hiện thực hóa nghiên cứu 21
3.2 Khả năng chiếm hữu các kết quả nghiên cứu 22
3.2.1 Bản chất của quá trình nghiên cứu 23
1
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
3.2.2 Mức độ bảo hộ của luật pháp cho sản phẩm mới 23
CHƯƠNG 4.KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận 25
4.2 Kiến nghị 26
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo 27
2
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
các đầu vào. Tuy nhiên nếu chúng ta nghĩ đến sản lượng như một tập hợp những
dịch vụ cơ bản đem đến từ những hàng hóa sản xuất ra trong nền kinh tế, thì ta có
thể nghĩ đến tiến bộ công nghệ như việc dẫn đến sự gia tăng sản lượng tương ứng
với những số lượng vốn và lao động cho trước không đổi.
1.2 Các phương pháp đo lường tiến bộ công nghệ
Theo truyền thống có 2 phương pháp đo lường TBCN ( hay TFP) từ mô hình Solow
là:
- Phương pháp hạch toán tăng trưởng.
- Phương pháp hồi quy tăng trưởng.
Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là giả thiết rằng quá trình sản xuất là
hoàn toàn hiệu quả do đó TBCN (hay TFP) bằng hiệu giữa tăng trưởng đầu ra và
đầu vào.
Phương pháp mới đo lường TBCN
Giả thiết quá trình sản xuất hiệu quả không hoàn toàn chính xác.
Để khắc phục nhược điểm đó, các phương pháp sau được đề xuất:
- Phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên.
- Phương pháp bao dữ liệu.
- Phương pháp quy hoạch với ràng buộc ngẫu nhiên.
1.3 Vai trò của R&D và mức chi tiêu cho R&D
1 Đối với công nghệ:
- Việc nghiên cứu, tìm kiếm công nghệ sản xuất, chế biến tối ưu để cho ra đời sản
phẩm (cả cũ lẫn mới) với chất lượng và giá thành tối ưu cũng là một trong những
vai trò quan trọng của bộ phận R&D. Ví dụ, công nghệ lên men tự nhiên khác với
công nghệ thủy phân bằng a-xít trong sản xuất nước tương, công nghệ sản xuất bia
tươi khác với bia “luộc”, công nghệ pha chế hương liệu trong ngành thức uống…
- Nghiên cứu - phát triển công nghệ bao gồm cả hoạt động “tình báo công nghệ”,
nghiên cứu bí quyết công nghệ của đối thủ để bắt chước hoặc phát triển công nghệ
mới cho mình.
công nghệ thông qua kiểm tra chất lượng, thử nghiệm và huấn luyện công nghệ.
Trong phương diện này, đầu tư đào tạo nhân lực kỹ thuật là quan trọng, đặc biệt là
đầu tư phát triển hệ thống giáo dục khoa học kết hợp với trương trình huấn luyện
thực tế một cách hiệu quả và linh hoạt.
- Trong giai đoạn phát triển tương đối cao, tới một thời điểm nào đó, tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế sẽ phụ thuộc mạnh mẽ vào các tiến bộ khoa học và công nghệ thể hiện qua
số các nhà khoa học và kỹ sư, đặc biệt là số các nhà khoa học và kỹ sư trong khu
vực sản xuất, cũng như mức chi phí cho nghiên cứu và phát triển có thể đáp ứng
được.
5
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
Ngày nay, các công nghệ mới và ngành mới có hàm lượng khoa học và kỹ thuật
cao phát triển theo hướng sau đây:
Tạo ra các loại quy trình sản xuất công nghệ mới được tự động hoá, các hệ thống
quản lý tự động hoá trên cơ sở kết hợp thành tựu của ngành điện tử, vi điện tử, chế
tạo máy tính điện tử, những phân ngành mới của ngành chế tạo máy, gắn liền với kỹ
thuật chế tạo người máy và hệ thống sản xuất tự động hoá linh hoạt, kỹ thuật Laser
và các phương tiện liên lạc, viễn thông, tin học và vi tin học.
Tạo ra vật liệu mới, các vật liệu chuyên dụng, các vật liệu composit hỗn hợp, vật
liệu gốm, vật liệu siêu sạch, vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao.
Mở rộng và hoàn thiện cơ sở năng lượng của nền sản xuất trên cơ sở phất triển năng
lượng nguyên tử, nhiệt hạch, năng lượng sinh học, năng lượng địa nhiệt và năng
lượng mặt trời.
Trên cơ sở của các thành tựu của kỹ thuật gen, tạo ra các ngành sản xuất, sử dụng
kỹ thuật và công nghệ sinh học.
Ngày nay công nghệ mới làm thay đổi nhiều đến các chỉ số cơ bản của công
nghiệp, ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược chung, thay đổi cơ cấu, mô hình thương
mại và đầu tư trong sự phát triển công nghiệp của đất nước.
Thực tiễn vai trò của TBCN đối với các nước đang phát triển:
Tóm lại công nghệ chiếm vai trò quyết định trong việc đưa các nước chậm
phát triển đuổi kịp các nước phát triển.
1.5 Xu hướng quốc tế hóa hoạt động R&D công nghệ
- Đi đôi xu thế toàn cầu hóa kinh tế
- Tính đa quốc gia các công ty ngày càng tăng (mở rộng đầu tư).
Ưu điểm
Chia sẽ tài nguyên (nhân lực, vốn), rủi ro; trong đó có chia sẽ thế mạnh về công
nghệ.
Tận dụng nguồn lực công nghệ từ các quốc gia đã và đang phát triển (đã phát triển
-chuyển giao công nghệ; đang phát triển -nhân lực giá rẻ)
Hạn chế: Giảm tính độc lập về công nghệ và kinh tế.
1.6 Hạn chế R&D công nghệ tại các nước đang phát triển
- Không gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.
- Thiếu định hướng thương mại.
7
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
- Các nhà khoa học quan tâm việc công bố công trình hơn là đóng góp nâng cao trình
độ công nghệ.
- Thiếu biện pháp khuyến khích R&D.
- Hệ thống quản lý cồng kềnh, thiếu hiệu quả .
CHƯƠNG 2.CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ
Các số chỉ số được sử dụng phổ biến nhất để đo những thay đổi trong các mức
của các biến kinh tế khác nhau. Tuy nhiên hiện nay còn vắng bóng một loại chỉ số
đo lường sự tiến bộ công nghệ. Chỉ số tiến bộ công nghệ phản ánh những thay đổi
trong mức của tiến bộ công nghệ của một quốc gia, của một tỉnh, của một ngành
hay của một doanh nghiệp.
2.1 Định nghĩa
Chỉ số tiến bộ công nghệ của quốc gia tại một thời điểm được định nghĩa là một
số thực bằng với trung bình nhân của tiến bộ công nghệ của một quốc gia trong thời
Vì vế phải của phương trình (24) là tỷ lệ thay đổi của tỷ số giữa sản lượng trên
bình quân có trọng số của các nhập lượng lao động và vốn, nên nó thường được gọi
là tăng trưởng năng suất của tổng các yếu tố sản xuất (TFPG), một đại lượng nắm
bắt toàn bộ sự thay đổi kỹ thuật và tất cả những yếu tố sản xuất khác làm gia tăng
năng suất.
► Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là giả thiết rằng quá trình sản xuất là
hoàn toàn hiệu quả. Giả thiết này là hoàn toàn không chính xác. Để khắc phục
nhược điểm này, ta có các phương pháp sau đây:
• Phương pháp sản xuất biên ngẫu nhiên.
Mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên được giới thiệu bởi Aigner, Lovell and
Schmindt (1977) và Meeusen và Van Den Broeck (1977). Từ đó, nó trở thành 1
lĩnh vực nhỏ phổ biến trong kinh tế lượng; xem Kumbhakar và Lovell (2000) như là
một sự giới thiệu.
Xem xét bản chất của vấn đề biên ngẫu nhiên. Giả sử rằng 1 nhà sản xuất có 1
hàm sản xuất f (z
it
, β). Trong một thế giới không có sai lệch hay không hiệu quả, tại
thời điểm t, công ty thứ i sẽ sản xuất
q
it
= f (z
it
, β)
Một yếu tố cơ bản của phân tích biên ngẫu nhiên là mỗi hàng có khả năng sản
xuất ít hơn nó có thể bởi vì mức độ không hiệu quả. Cụ thể
qit = f (z
it
, β)ξ
it
10
it
exp(v
it
)
Lấy logarit tự nhiên cả 2 vế
ln(q
it
) = lnnf (z
it
, β))+ ln(ξ
it
) + v
it
Giả sử rằng có k đầu vào và hàm sản xuất là tuyến tính với logs, định nghĩa u
it
= -
ln (ξ
it
).
ln(q
it
) = β0 + βj ln(z
jit
) + v
it
− u
it
(1)
j=1
u
là lượng đầu vào, c
it
là chi phí,
pjit
là giá đầu vào và
s= 1 cho sản xuất
s= -1 cho hàm chi phí
Bằng trực quan, ảnh hưởng không hiệu quả yêu cầu mức sản lượng thấp hay chi
phí tăng, phụ thuộc vào đặc điểm kỹ thuật
11
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
Phương trình (2) là một biến thể của một panel-data model trong đó v
it
là một
sai số riêng và u
it
là một ảnh hưởng thay đối theo thời gian.
• Phương pháp bao dữ liệu (DEA) – Tiếp cận phi tham số.
DEA ( Data Envelopment Analysis ) là một kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để
đánh giá một đơn vị ra quyết định hoạt động tương đối so với các đơn vị khác trong
mẫu như thế nào. các đơn vị phi hiệu quả được tính bằng việc chiếu các đơn vị phi
hiệu quả lên trên biên hiệu quả. Đối với mỗi đơn vị phi hiệu quả, DEA đều đưa ra
một tập các điểm chuẩn của các đơn vị khác để giá trị của đơn vị được đánh giá có
thể so sánh được, bởi vậy những thông tin thu được qua phân tích DEA rất có ích
cho các nhà quản lý trong việc nhận diện được thực tế hoạt động của đơn vị mình
như thế nào so với các đơn vị khác.
2.3 Các nhân tố tác động đến CRVI
(Những nhân tố làm ảnh hưởng đến CRVI của một quốc gia)
+Môi trường pháp lý: sự minh bạch trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
13
Chi êu cho R&D
Có thêm nhiều sản phẩm mới
Việc nghiên cứu có khả năng sinh sôiCông ty khuyến khích thực hiện R&D
Các điều kiện khác không đổi
R&D; ến bộ công nghệ tăng cao
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
CHƯƠNG 3.CÁC YẾU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ
Như chúng ta đã phân tích qua Chương 1, Tiến bộ công nghệ phụ thuộc rất
nhiều vào chi tiêu cho R&D. Vì vậy, các yêu tố xác định mức chi tiêu R&D cũng là
các yếu tố xác định tiến bộ công nghệ, gồm: Khả năng sinh sôi của quá trình nghiên
cứu và Khả năng chiếm hữu các kết quả nghiên cứu.
3.1 Khả năng sinh sôi của quá trình nghiên cứu
Khả năng sinh sôi ám chỉ làm thế nào để việc chi tiêu cho R&D được chuyển
thành những ý tưởng mới và sản phẩm phẩm mới.
14
Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu cơ bản thuần túy
Nghiên cứu chuyên đề
Nghiên cứu nền tảng
Nghiên cứu cơ bản định hướng
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
Nếu việc nghiên cứu rất có khả năng sinh sôi, tức việc chi tiêu cho R&D dẫn
tới nhiều sản phẩm mới, thì khi các điều kiện khác không đổi, công ty sẽ có nhiều
động cơ khuyến khích họ thực hiện R&D hơn, dẫn tới R&D và tiến bộ công nghệ sẽ
cao hơn. Các yếu tố xác định khả năng sinh sôi của nghiên cứu chủ yếu nằm ở bên
ngoài lĩnh vực kinh tế học
3.1.1 Sự tương tác nghiên cứu
Rontgen vào năm 1895.
Tại Việt Nam, việc tương tác thành công giữa nghiên cứu ứng dụng, triển
khai với nghiên cứu cơ bản đã đem lại nhiều thành cựu công nghệ đột phá.
Điển hình là quá trình nghiên cứu và sản xuất vacxin cúm A/H5N1. Việt
Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng kỹ thuật di truyền ngược trong việc
chế tạo vacxin. Và rồi quy trình sản xuất lại theo một nghiên cứu mới bằng công
nghệ sản xuất nuôi tế bào, khác biệt hẳn với công nghệ sản xuất truyền thống (nuôi
phôi). Hay một minh chứng rõ ràng trong việc ứng dụng được nghiên cứu cơ bản ở
Việt Nam, đó là việc khử trùng bằng khí ozone. Nắm bắt những lợi ích và đặc trưng
của khí ozone, đặc biệt là sát khuẩn, đã được nghiên cứu từ thế kỉ 19, các nhà khoa
học tại Việt Nam đã ứng dụng và thành công trong việc chế tạo tủ khử khuẩn dụng
cụ y tế bằng khí ozone.
16
Tư duy trừu tượng
Tư duy cụ thể
Tư duy sáng tạo
Tư duy logic
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng và triển khai
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
Khả năng nảy sinh ý tưởng, sinh sôi trong quá trình nghiên cứu tại Việt Nam
cũng như trên thế giới là phụ thuộc khá nhiều vào việc áp dụng được những thành
tựu nghiên cứu cơ bản đã có vào quá trình nghiên cứu ứng dụng thực tiễn.
3.1.2 Hệ thống giáo dục
Hệ thống giáo dục, hay nói cụ thể là giáo dục nhận thức và tư duy cũng đóng
vai trò to lớn trong tiến bộ công nghệ.
Người ta thường phân tư duy thành 2 loại chính:
Tư duy trừu tượng: là những suy nghĩ mà chỉ cần một gợi ý, một cái tên
thì ta sẽ biết đó là cái gì.
như giáo dục Hoa Kỳ cũng phát triển khả năng sáng tạo riêng của từng học sinh phổ
thông ở lĩnh vực các môn tự chọn, vì thế, những nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ lại có
khả năng cao trong việc phát minh, sáng chế.
Tại Việt Nam, cái mạnh là tư duy cụ thể, cái chưa mạnh là tư duy trừu tượng.
Ngôn ngữ Việt Nam cũng giàu từ ngữ cụ thể hơn là từ ngữ trừu tượng, hệ thống
giáo dục Việt Nam cũng chưa đề cao khả năng trừu tượng, sáng tạo của học sinh,
chính vì thế, Việt Nam có thể ứng dụng những thành tựu nghiên cứu cơ bản trên thế
giới, nhưng lại rất yếu trong việc tự nghiên cứu những phát minh có sức đột phá.
3.1.3 Nền văn hóa tinh thần kinh doanh
Văn hóa tinh thần là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần, bao gồm
khoa học ở mức độ áp dụng của thành tựu khoa học vào sản xuất và sinh hoạt, trình
18
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
độ học vấn, tình trạng giáo dục y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi,
trình độ phát triển như cầu con người. Văn hóa tinh thần còn bao gồm những phong
tục tập quán, những phương thức giao tiếp ngôn ngữ.
Văn hóa tinh thần trong kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa tinh
thần vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là văn hóa mà chủ thể kinh doạnh tạo ra
trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc
thù. Các yếu tố văn hóa trong kinh doanh tạo ra sức sống cho sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ trên thị trường, tạo sức mạnh cho cộng đồng phát triển, góp phần nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.
Một môi trường kinh doanh ổn định, có những yếu tố văn hóa lành mạnh, có
được lãnh đạo biết cách tổ chức, sẽ giảm thiểu áp lực làm việc, kích thích lao động,
sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, qua đó nâng cao tiến bộ công nghệ.
Trên thế giới, Nhật Bản là một trong những quốc gia có một nền văn hóa
kinh doanh đặc sắc. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp khéo léo, có triết lý vững
chắc, biết cách đối nhân xử thế, phát huy tính tích cực của nhân viên. Người Nhật
Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọi người, tích cực đề xuất sáng kiến quan
Tiến bộ công nghệ càng cao khi quá trình hiện thực hóa những nghiên cứu
càng nhanh và hiệu quả, chất lượng, khi đó, khả năng sinh sôi những nghiên cứu
mới càng lớn, vì những nhà nghiên cứu có thêm thời gian và công nghệ mới phục
vụ cho nghiên cứu của mình. Trong khi đó, quá trình hiện thực hóa lại phụ thuộc rất
nhiều vào tiềm lực công nghệ và vốn sẵn có của mỗi quốc gia.
Trên thế giới, có những nghiên cứu phải mất vài chục năm mới có thể ứng
dụng thực tiễn, chẳng hạn như công trình nghiên cứu công nghệ chế tạo bộ phận giả
tương tác được với trí não dành cho người khuyết tật của Todd Kuiken đã mất hơn
20 năm để đưa vào hiện thực. Hay đơn giản hơn là công trình xây dựng sân vận
động quốc gia Bắc Kinh – Trung Quốc cũng đã phải mất gần 7 năm từ lúc bắt đầu
lên ý tưởng tới khi hoàn thành.
Tại Việt Nam, dù lợi thế là nhân lực có thế mạnh trong tư duy cụ thể, nghiên
cứu ứng dụng và triển khai thực tiễn, nhưng lại gặp phải rào cản là tiềm lực sẵn có
20
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
còn non kém. Rất nhiều vấn đề cứ mãi nằm trong tình trạng “đang nghiên cứu” do
yếu kém từ nhiều phía, hay nhiều công trình phải dang dở do không được ủng hộ,
khuyến khích. Thậm chí, nhiều nhà khoa học của Việt Nam phải bỏ ngành, bỏ
nghiên cứu vì không được quan tâm về chế độ, lương bổng.
3.2 Khả năng chiếm hữu các kết quả nghiên cứu
Yếu tố thứ hai xác định tiến bộ công nghệ là Khả năng chiếm hữu các kết
quả nghiên cứu. Yếu tố này cực kỳ quan trọng vì nó tạo động lực để các tổ chức, cá
nhân tham gia nghiên cứu thông qua việc bảo hộ quyền sở hữu của họ đối với kết
quả nghiên cứu. Tuy vậy, yếu tố này cũng cản trở việc tận dụng các kết quả nghiên
cứu đã được bảo hộ để ứng dụng vào sản xuất và nghiên cứu mới. Các yếu tố tác
động gồm: Bản chất của quá trình nghiên cứu và Mức độ bảo hộ của luật pháp cho
một sản phẩm mới.
3.2.1 Bản chất của quá trình nghiên cứu
Nếu người ta tin rằng việc khám phá ra một sản phẩm mới sẽ nhanh chóng
chuẩn hoá và thực hiện các cam kết về khung pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Trong đó có 2 vấn đề cơ bản mà Việt Nam phải thực hiện trong hoạt động này đó
là: (i) phải có một khung pháp lý về sở hữu trí tuệ hoàn thiện, đầy đủ và đạt tiêu
chuẩn theo quy định của Hiệp định TRIPS và tham gia một loạt các điều ước quốc
tế khác như bản quyền, sử dụng tín hiệu vệ tinh…; và (ii) Việt Nam phải có một hệ
thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả.
Cho đến hiện nay, nếu so với yêu cầu của TRIPS thì về cơ bản hệ thống bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ của việt nam đã được hình thành tương đối đầy đủ, luật sở
hữu trí tuệ được ban hành năm 2005, có hiệu lực từ 01/7/2007 đã thay thế toàn bộ
các Nghị định và văn bản hướng dẫn về từng lĩnh vực của sở hữu trí tuệ trước đó,
đồng thời cũng thống nhất và tập hợp các quy định riêng lẻ đó vào trong Luật sở
22
[CÁC YÊU TỐ XÁC ĐỊNH TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ TRONG NỀN
KINH TẾ]
hữu trí tuệ với sự phân định rõ ràng thành 3 lĩnh vực: bản quyền, sở hữu công
nghiệp và giống cây trồng.
Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế,
hiệu lực của hệ thống các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thấp, tính
minh bạch và sự nghiêm minh trong thực thi luật còn nhiều vấn đề cần xem xét…
dẫn đến trình trạng vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra khá phổ
biến. Hầu như mọi chủng loại sản phẩm hàng hoá đều có hàng nhái, hàng có chứa
yếu tố vi phạm quyền sở hữu. Đặc biệt, vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam
hết sức nghiêm trọng và khó kiểm soát, Việt Nam chỉ vừa mới thoát khỏi Top 10
nước vi phạm bản quyền phần mềm năm 2009.
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
(i). Không phải các doanh nghiệp có doanh số lớn nhất là doanh nghiệp có tỷ
phần đầu tư vào tiến bộ công nghệ cao nhất và cũng không phải các doanh nghiệp
có doanh số lớn nhất là doanh nghiệp có tiến bộ cao nhất.
(ii) Đầu tư vào tiến bộ công nghệ của các doanh nghiệp có thể vẫn chưa phải là
1 Cần phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng với sự
phát triển khoa học và công nghệ
2 Cần phải hướng vào sản phẩm ngang tầm thế giới
3 Thay đổi cách nhìn của doanh nghiệp về việc áp dụng các thành tựu khoa học công
nghệ vào sản xuất, để tạo ra sự chuyển biến mới trong tư duy về việc ứng dụng các
thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.
4 Trước mắt nhanh chóng đổi mới những dây chuyền sản xuất lạc hậu, bồi dưỡng cán
bộp công nhân viên đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật mới.
Giải pháp huy động vốn cho tiến bộ công nghệ
1 Huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các trung gian tài chính
2 Huy động vốn thông qua phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
3 Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS-TS Nguyễn Văn Luân, Đề cương bài giảng Kinh Tế Vĩ Mô, Khoa Kinh Tế -
Trường Đại học Kinh tế - Luật.
2. Nguyễn Văn Diễn, (2009), Đề án “Văn hóa trong kinh doanh ở các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay”.
3. Tạp chí hoạt động khoa học Số 550, 03.2005.
4. GS.TS Hoàng Kiểm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
5. http://www.khoahocphattrien.com.vn/news/khoahoccongnghe/?art_id=453
25