Lời nói đầu
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đã và đang là một nguồn thu quan trọng, tập trung của ngân sách nhà nước, là
phương tiện vật chất để nhà nước hoạt động và thực hiện chức năng quản lý
của mình. Trong những năm qua chính sách và cơ chế quản lý thu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu đó cú những thay đổi lớn và đạt được những kết quả
quan trọng cả về yêu cầu thu ngân sách và quản lý điều tiết vĩ mô trong quan
hệ kinh tế đối ngoại, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo ra những
tiền đề cần thiết để chuyển nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu
hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở
nước ta nói chung, quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong ngành
Hải quan nói riêng bộc lộ nhiều bất cập như: hệ thống chính sách và cơ chế
quản lý chưa đồng bộ và chưa theo kịp với sự phát triển của hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa ngày càng gia tăng; nạn buôn lậu và gian lận
thương mại để trốn thuế còn tồn tại phổ biến, tình trạng chiếm dụng tiền thuế
gây nợ đọng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lớn và kéo dài chưa được xử lý
triệt để; hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu chưa được chú trọng đúng mức gây thất thu lớn cho
ngân sách nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý thu thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước đòi hỏi bức xúc của thực tế do vậy qua đề tài
này em có cơ hội để tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về vấn đề này.Em rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cho bài viết của em.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Nội dung
Chương I: Lý luận chung về nâng cao hiệu quả quản lý thuế XNK của
Tổng Cục Hải Quan
1.1 Nội dung cụ thể của quản lý thu thuế XNK của ngành Hải Quan
Theo qui định của pháp luật, ngành Hải quan chịu trách nhiệm thu các
nhập khẩu hàng hoá.
- Khẳng định chủ quyền và bảo vệ an ninh quốc gia, chống phân biệt
đối xử trong thương mại quốc tế.
1.3 Các nhân tố tác động tới quản lý thu thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu
Từ tất cả các nội dung cơ bản trên đây cho thấy quản lý thu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu chịu tác động của nhiều yếu tố, cả tự nhiên, kinh tế xã
hội, cả chủ quan lẫn khách quan, cả cơ chế chính sách Nhà Nước lẫn đội ngũ
công chức cán bộ thực thi chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Trên
thực tế, có thể khái quát lại gồm cỏc nhúm yếu tố sau:
- Yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên: Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ở cửa khẩu đồng bằng hoàn toàn khác với các tỉnh miền núi giỏp
biờn.
- Yếu tố kinh tế - xã hội: kinh tế kém phát triển, trong điều kiện giao
lưu kinh tế và mở cửa, hoạt động kinh tế ngầm và mưu sinh sẽ quyết liệt hơn,
do đó quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu càng gặp rất nhiều khó
khăn.
- Trình độ dân trí cao thấp khác nhau có tác động tới quản lý thu thuế
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khác nhau. Ý thức dân trí cao, tự giác trong
hoạt động thương mại thì chấp hành chế độ, chính sách Nhà Nước tốt hơn,
quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có kết quả và hiệu quả cao hơn,
ngược lại, thất thu thuế các dạng là khó tránh khỏi.
3
- Cơ chế chính sách và quy trình quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu của Nhà Nước. Một hệ thống chính sách thuế tương đối ổn định, hoàn
chỉnh sát thực tế sẽ góp phần quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hữu
hiệu, vừa kích thích sản xuất, giao lưu kinh tế, vừa tăng thu và ổn định thu
cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, sẽ cản trở sản xuất kinh doanh xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hoá hoặc gây tình trạng trốn lậu thuế, gian lận thương mại.
- Năng lực cán bộ quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Thu
thuÕ có hiệu lực và hiệu quả cao hay không còn dùa vào năng lực, trình độ,
hiện phương pháp xác định trị giá Hải quan theo GATT để tính trị giá Hải
quan. Nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của phương pháp này là trị giá
tính thuế được xác định dựa trên trị giá giao dịch của lô hàng thỡ nó cũng
được xác định theo các phương pháp thay thế, mà các phương pháp này phản
ánh đúng hoặc gần đúng với trị giá giao dịch thực tế của hàng hoá cần xác
định trị giá tính thuế.
- Thống nhất thủ tục Hải quan: Thống nhất và đơn giản hoá thủ tục Hải
quan là vấn đề phức tạp, nhưng Hải quan các nước ASEAN cố gắng để đạt
được. Các vấn đề được các nước ưu tiên trong việc thống nhất thủ tục Hải
quan đó là:
+ Xây dựng hệ thống luồng xanh Hải quan
+ Ban hành mẫu tờ khai Hải quan chung cho hàng hoá thuộc diện
CEPT.
+ Thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá chung: gồm các nội dung
như các thủ tục trước khi nộp tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, các vấn
đề giám định hàng hoỏ, cỏc vấn đề gửi hàng…
Ngoài ra Việt Nam là thành viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới
WTO, tham gia diễn đàn Á-Âu(ASEM), diễn đàn chõu Á-Thỏi Bỡnh Dương
(APEC); ký kết các hiệp định song phương, đa phương với các nước đặc biệt
là Mỹ .Việc này đòi hỏi công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
5
càng phải được minh bạch hơn, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá, bảo hộ nền sản xuất trong nước.
b)Yêu cầu hiện đại hoá hoạt động quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu của ngành Hải quan.
Trên cơ sở quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, xuất phát từ
những cam kết, ràng buộc phải thực hiện khi tham gia khu vực mậu dịch tự do
ASEAN/AFTA và hội nhập, một số vấn đề quan trọng được đặt ra đối với
công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở nước ta trong thời gian
tới là:
- Hàng rào phi thuế quan từng bước phải được loại bỏ, đây là một vấn
đề quan trọng cần phải được cân nhắc, tính toán cẩn thận, để xây dựng một lộ
trình cụ thể phù hợp với thực trạng của nền kinh tế còn kém phát triển.
- Khi hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thì lưu lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu sẽ tăng lên
nhanh chúng.Vấn đề được đặt ra cho công tác quản lý thu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu là làm thế nào để kiểm soát được sự thẩm lậu của các mặt
hàng cấm như vũ khí, khí tài, ma tuý, văn hoá phẩm đồi truỵ, làm thế nào để
kiểm soát được hành vi gian lận trong khai báo như khai ít nhưng thực tế nhập
nhiều, khai sai trị giá của hàng hoỏ…đõy là những vấn đề bức xúc được đặt ra
cần phải quan tâm đặc biệt trong quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Việc quản lý nguồn thu và kiểm soát các cơ sở tính thuế vốn đã phức
tạp trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển lại được tiếp thêm sự phức tạp
nảy sinh từ tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu về việc đơn
giản hoá, minh bạch hoá hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu trở thành vấn đề cấp thiết đối với các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam, nhằm giảm thiểu các chi phí hành thu đồng thời
nâng cao hiệu suất quản lý thu. Bên cạnh đó sự phức tạp trong công tác quản
lý hành thu trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế cũng đặt ra yêu cầu
ngày càng cao đối với sự tinh thông nghiệp vụ của các cán bộ chiến sĩ ngành
7
Hải quan nói riêng, cán bộ tham gia quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu nói chung. Do đó vấn đề đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo
chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý thu thuế cũng như việc
kiện toàn tổ chức bộ máy thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng cần được
quan tâm.
- Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với
những vấn đề mà các nước phát triển khác đang phải đối mặt như vấn đề trợ
cấp bán phá giá của nước xuất khẩu, vấn đề loại bỏ hàng rào phi thuế…Vấn
đề được đặt ra đối với công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là
Chương II: Thực trạng quản lý thuế XNK tại Tổng Cục Hải Quan
trong những năm qua
2.1 Khái quát chung về Tổng Cục Hải Quan.
Ngày 30/8/1984 Hội đồng nhà nước phê chuẩn nghị quyết sè
547/NQ/HĐNN7 thành lập Tổng Cục Hải Quan trực thuộc Hội đồng Bộ
trưởng, và ngay sau đó hội đồng bộ trưởng ban hành nghị quyết số
139/HĐBT ngày 20/10/1984 ban hành nghị định quy định , nhiệm vô , quyền
hạn và tổ chức bộ máy của Tổng Cục Hải Quan. Hải quan Việt Nam được xác
định là “công cụ chuyên chính nửa vũ tranh của Đảng và Nhà Nước có chức
năng kiểm tra và quản lý hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các công cụ vận tải
xuất nhập qua biên giới nước CHXHCN Việt Nam, thi hành chính sách thuế
xuất nhập khẩu, ngăn ngõa chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia,an ninh
chính trị, trật tù an toàn xã hội, phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà
Nước.
2.2 Đặc điểm hoạt động và nhiệm vụ của Tổng cục Hải quan.
1. Đặc điểm hoạt động của Tổng Cục Hải Quan.
Hải quan Thế Giới (WCO) từ ngày 1/7/1993 và từ đó mở quan hệ với
tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN.
Ghi nhận bước trưởng thành cuảu Hải quan Việt Nam ,Hội đồng nhà
nước đã tặng huân chương độc lập hạnh nhì cho ngành, huân chương các
hạng cho một số Hải cấp tỉnh Hải quan Việt Nam nhân dịp 45 năm kỷ niêm
ngày thành lập Hải quan.
Từ năm 1990 đến năm 2000 toàn ngành Hải quan tích cực triển khai
thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tập trung đột phá vào khâu cải cách thủ
tục Hải quan tại của khẩu, thực hiện tốt các nội dung: Sắp xếp lại và thành lập
thêm các địa điểm thông quan, công khai hoá các văn bản quy phạm pháp luật
10
liên quan đến thủ tục Hải quan, phân luồng hàng hoấ “Xanh ,Vàng ,Đỏ”,thiết
lập đường dây điện thoại nóng, sủa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản,
“Quản lý Nhà Nước về hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu , xuất nhập
cảnh,quá cảnh Việt Nam , đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái
phép hàng hoá , ngoại hối hoặc tiền Việt Nam qua biên giới”.
2.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của Tổng cục Hải quan
Bộ máy tổ chức Hải quan Việt Nam được xác định rõ tổ chức theo
nguyên tắc tập trung thống nhất , dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ
Trưởng.
Hệ thống tổ chức:
- Tổng cục hải quan.
- Cục Hải quan liên tỉnh , thành phố trực thộc trung ương và cấp tương
đương.
- Hải quan cửa khẩu , Đội kiểm soát Hải quan.
Hệ thốn lãnh đạo của Tổng cục hải quan bao gồm:
Tổng cuc trưởng: Lê Mạnh Hùng
Phó Tổng cục trưởng thường trực: Nguyễn Ngọc Túc
Phó Tổng cục trưởng: ĐặngThị Bình An
Phó Tổng cục trưởng: Vò Ngọc Anh
Phó Tổng cục trưởng: Đặng Văn Tạo
Phó Tổng cục trưởng: Đặng Hạnh Thu
Theo quy định hiện hành thì hệ thống tổ chức Hải quan được tổ chức
theo ngành dọc thống nhất từ trên xuống dưới, bao gồm:
Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, theo quyết định
số 113/QĐ-TTg ngày 04/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ.
12
Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố: hiện có 33 đơn vị, có đơn vị
phải triờn khai ở nhiều tỉnh thành phố, như Cục Hải quan Hà nội phải triển
khai các địa điểm thông quan tại: Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
Chi cục Hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát Hải quan và đơn vị tương
đương.
Cơ quan tham mưu giúp việc cho Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
việc giám sát tàu, kho, chống buôn lậu; đội thủ tục hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu nghiệp vụ thực hiện các công việc từ tiếp nhận, đăng ký tờ khai hải
quan, kiểm tra hàng hoá; đội kế toán thuế, kiểm tra khai báo thuế, thông báo
thuế, theo dõi thuế, thu hồi nợ thuế, thực hiện miễn, giảm, hoàn thuế.
- Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Qua rà soát, tổ chức bộ máy cấp phòng
của Cục Hải quan tỉnh còn cồng kềnh, có một số phòng rất ít việc nhiều
người, trong khi ở cửa khẩu và đội kiểm soát thiếu nhân lực, hoạt động của
phũng cũn xem nhẹ chức năng tham mưu, giúp việc Cục trưởng. Giữa các
Cục Hải quan có sự chênh lệch lớn về quy mô nhiệm vụ, tính phức tạp và số
lượng công chức nhưng lại chưa có sự phân loại để có quy định phù hợp với
từng loại Cục về tổ chức bộ máy, chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc.
Trong cỏc phũng ban chức năng cú cỏc phũng thực hiện công tác về quản lý
thu thuế: Phòng nghiệp vụ; phòng trị giá tính thuế; chi cục kiểm tra sau thông
quan; phòng tham mưu chống buôn lậu; phòng tham mưu xử lý; phòng công
nghệ thông tin.
- Cơ quan Tổng cục Hải quan: Có các Cục, Vụ chức năng trong đó
hiện chức năng quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bao gồm: Vụ
Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu; Vụ Giám sát quản lý; Vụ Pháp chế; Cục
Kiểm tra sau thông quan; Cục Điều tra chống buôn lậu; Thanh tra Hải quan;
Cục Công nghệ thông tin và thống kê hải quan. Nhiệm vụ giữa các vụ, cục
cũn cú sự chồng chéo, có việc nhiều đơn vị làm, có việc không có đơn vị làm,
một số nhiệm vụ mới phát sinh trong tiến trình hội nhập chưa có sự phân công
rõ ràng đơn vị nào là đầu mối chủ trì, đơn vị nào phối hợp tham gia, có những
14
nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của ngành như xây dựng chiến lược, kế hoạch
phát triển dài hạn của ngành chưa được phân công rõ và quan tâm chỉ đạo.
15
2.4 Thực trạng hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu của tổng cục Hải
quan trong những năm vừa qua.
a) Tình hình thu thuế XNK tại Tổng Cục Hải Quan trong những năm vừa
Thương mại với Việt Nam.
- Từng bước phù hợp với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
thông lệ quốc tế (theo Luật sửa đổi năm 1998, Luật năm 2005, thì thời hạn
phải nộp thuế đối với hàng là vật tư nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng
xuất khẩu được kéo dài từ 90 ngày thành 275 ngày, song lại thu hẹp thời hạn
phải nộp thuế đối với hàng tiêu dùng từ 30 ngày sửa thành phải nộp xong thuế
trước khi giải phóng hàng, hoặc qui định đối tượng nộp thuế phải tự kê khai,
tính thuế và chịu trách nhiệm pháp luật trước việc kê khai tính thuế của
mình).
Tuy nhiên, trong bối cảnh của tình hình mới, Việt Nam đã ký kết Hiệp
định Thương mại với Hoa Kỳ, cam kết thực hiện xác định trị giá Hải quan
theo GATT đối với hàng hoá nhập khẩu theo danh mục CEPT vào cuối năm
2003, là thành viên của GATT, phải hoàn thành lịch trình cắt giảm thuế theo
kế hoạch CEPT vào năm 2006 để thực hiện AFTA, đàm phán giai đoạn cuối
để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO…chớnh sỏch thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu hiện hành còn nhiều mặt tồn tại cần được tiếp tục nghiên cứu
bổ sung, sửa đổi cho phù hợp; những tồn tại đó là:
- Mặc dù đã chú trọng bảo hộ, khuyến khích đầu tư nhưng hiệu quả bảo
hộ chưa cao, chưa chọn lọc, chưa xác định thời hạn và lộ trình bảo hộ để các
doanh nghiệp chủ động; còn thiếu một số công cụ bảo hộ như hạn ngạch thuế
quan, thuế tuyệt đối, trong khi các công cụ bảo hộ này có thể thay thế việc
doanh nghiệp lợi dụng khai thấp trị giá tính thuế nhằm mục đích trốn thuế
(bước đầu thực hiện trị giá GATT); chưa triển khai áp dụng thuế tự vệ, thuế
chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử theo qui định của
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005; nguyên nhân là do Pháp lệnh
17
về thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử mới được
ban hành; vẫn có một số mặt hàng linh kiện, chi tiết rời hoặc nguyên liệu để
sản xuất lắp ráp các sản phẩm cơ khí, điện - điện tử có mức thuế nhập khẩu
cao hơn thành phẩm.
doanh nghiệp hưởng thời gian ân hạn nộp thuế.
b) Kiểm tra, kiểm soát, chống gian lận thương mại và vi phạm chính
sách thuế XNK
* Gian lận lợi dụng sơ hở của chính sách thuế
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành còn bộc lộ nhiều mặt
hạn chế tạo kẽ hở cho gian lận thường lợi dụng để trốn thuế như:
- Chính sách xây dựng biểu thuế: Thuế nhập khẩu hiện hành còn đánh
vào mục đích sử dụng từ đó có những mặt hàng cùng tính chất, nhưng có
thuế suất thuế nhập khẩu chênh lệch đến vài chục lần do mục đích sử dụng
khác nhau nên tạo kẽ hở cho việc luồn lách trong kê khai, kiểm hoỏ, ỏp mó,
ỏp giỏ tớnh thuế để được hưởng thuế suất thấp, gây thất thu ngân sách nhà
nước.
- Khai sai giỏ tớnh thuế: Hiện nay hệ thống định giá của Việt Nam
chưa thống nhất với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có nhiều cơ quan
tham gia vào việc định giá và thiếu các nguyên tắc cơ bản của GATT. Việc
định giá còn chưa kịp thời, chưa sát với giá CIF trung bình cửa khẩu, tạo kẽ
hở cho gian lận thương mại qua giá dẫn đến thất thu qua giá. Theo qui định tại
điểm 2 điều 7 Nghị định số 54/CP ngày 28/08/1993 của Chính Phủ quy định
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nếu có hợp đồng mua bán và chứng từ
hợp lệ đủ điều kiện xác định trị giá tính thuế theo quy định thì giá tính thuế
được xác định theo hợp đồng. Tại điểm 1, mục CEPT, Thông tư
82/1997/TT/BTC ngày 11/11/1997 của Bộ Tài Chính quy định những điều
kiện để được xác định giỏ tớnh thuế theo hợp đồng, đối với các mặt hàng
nhập khẩu không thuộc diện quản lý giỏ tớnh thuế của Nhà nước phải có hợp
đồng mua bán ngoại thương hợp pháp hợp lệ. Cụ thể: phải có đầy đủ nội dung
19
chủ yếu của một bản hợp đồng theo qui định tại điều 50 Luật Thương mại bao
gồm: tên hàng, số lượng, quy cách, chất lượng, giá cả, phương thức thanh
toán, địa điểm và thời hạn giao hàng; riêng nội dung phương thức thanh toán
yêu cầu phải thể hiện rõ trong hợp đồng việc thanh toán 100% trị giá lô hàng
nghiệp nhập khẩu ụtụ mới khoảng gần 500 chiếc các loại xe của cỏc hóng xe
nổi tiếng, khai thấp trị giá tính thuế, trốn thuế, số tiền thực thanh toán thì
thông qua con đường chuyển ngân lậu, đã làm thất thoát cho ngân sách nhà
nước hàng trăm tỷ đồng. Một số mặt hàng gia dụng có thuế suất cao có hiện
tượng khai thấp trị giá so với các năm trước, khi chưa thực hiện Hiệp định trị
giá GATT.
- Lợi dụng chế độ ưu đãi về thời hạn nộp thuế: Trong bước chuyển của
nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, sang cơ chế thị trường. Để tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu không phải vay
lãi ngân hàng để nộp thuế nhập khẩu. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
hiện hành cho phép các doanh nghiệp được hưởng thời gian ân hạn nộp thuế
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Lợi dụng sự ưu đãi này nhiều doanh
nghiệp cố tình chiếm dụng tiền thuế dẫn đến tình trạng nợ đọng thuế kéo dài
ngày càng lớn và khó thu hồi. Một số đơn vị dùng thủ đoạn chỉ thực hiện một
vài phi vụ nhập khẩu, sau đó không hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nữa mà
chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác hoặc lợi dụng chế độ uỷ thác nhập
khẩu để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế. Bởi vậy, biện pháp cưỡng chế làm thủ
tục hải quan không có hiệu quả đối với các doanh nghiệp này. Theo số liệu
báo cáo đến ngày 31/12/2005 số nợ thuế quá hạn đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu lên đến tới 3.057 tỷ đồng (đã bao gồm cả doanh nghiệp nợ thuế do
thua lỗ: 195,8 tỷ đồng; doanh nghiệp nợ thuế do giải thể: 216,8 tỷ đồng;
doanh nghiệp nợ thuế do không tìm được địa chỉ : 245,5 tỷ đồng).
Bảng 2
- Gian lận qua hàng hoá phải giám định kỹ thuật: Theo quy định của
biểu thuế nhập khẩu hiện hành thì có rất nhiều các hàng hóa nhập khẩu đòi
21
hỏi phải thông qua công tác giám định về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật thì
mới đảm bảo việc áp mã số thuế được chính xác. Báo cáo tại Cục Hải quan
Thành phố Hồ Chí Minh trung bình mỗi ngày làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá
cho khoảng 1000 tờ khai, trong đó có khoảng 10% số tờ khai cần phải trưng
Hải Phũng…lực lượng Hải quan do biên chế có hạn chế, cũng như để trỏnh
gõy ách tắc hàng hoá tại cửa khẩu, tạo điều kiện giải phóng hàng nhanh nên
không thể kiểm tra xác suất, hoặc kiểm tra chi tiết với từng lô hàng nếu có
dấu hiệu nghi vấn, những lô hàng có thuế suất cao, những lô hàng có yêu cầu
kiểm tra cụ thể. Lợi dụng tình hình này bọn gian thương đã thực hiện hành vi
gian lận thương mại bằng các thủ đoạn như hàng thực tế nhập nhiều nhưng
chỉ khai báo ít, hàng có trị giá cao nhưng khai báo hàng có trị giá thấp, hàng
linh kiện dạng rời SKD thì khai hàng ở dạng rời CKD, IKD ngoài bao bì ghi
một loại hàng nhưng thực chất bên trong là một loại hàng khác.
Khai báo sai xuất xứ của hàng hoá: Xuất xứ của hàng hoá liên quan
trực tiếp đến hai nội dung, đó là chính sách ưu đãi giữa các nước thành viên
có quan hệ giành cho nhau quy chế “tối huệ quốc” và liên quan đến chính
sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với cùng một mặt hàng nhưng có
xuất xứ khác nhau. Chẳng hạn cùng một mặt hàng nào đó nếu được sản xuất ở
các nước không phải là những nước công nghiệp phát triển (G7) như được sản
xuất tại các nước ASEAN, Đài Loan, Hồng Kụng thì giá tính thuế chỉ bằng
70% so với mặt hàng được sản xuất tại các nước G7. Lợi dụng những quy
định này, các gian thương thường dùng thủ đoạn như không khai xuất xứ,
xuất trình giấy xuất xứ giả, khai không đúng xuất xứ hàng hoá để trốn thuế
nhập khẩu. Mặt khác, vấn đề xuất xứ hàng hoỏ cũn liên quan đến chính sách
ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, chẳng hạn Việt Nam là thành viên của
các nước ASEAN nên hàng hoá từ các nước này nhập khẩu vào Việt Nam
được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo Hiệp định CEPT. Tuy nhiên, việc xác
định xuất xứ hàng hoá là vấn đề kỹ thuật phức tạp, còn mới mẻ đối với Việt
23
Nam đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải phối hợp nghiên cứu phương
pháp xác định xuất xứ hàng hoá để hạn chế việc thất thu cho ngõn sách nhà
nước qua việc khai xuất xứ hàng hoá nhập khẩu.
- Gian lận thông qua qui định hàng đổi hàng:
Những thủ đoạn gian lận thương mại mà các doanh nghiệp thường sử
biệt, thuế giá trị gia tăng. Đối với ụtụ mới nhập khẩu các chủ đầu lậu lợi dụng
cơ chế gian lận thương mại bằng cách không mua hàng trực tiếp tại nước sản
xuất mà mua qua nước thứ 3 như Hồng kụng, Arập (những nước này là khu
vực rửa tiền của thế giới) nhằm khai thấp trị giá để tính thuế thấp. Vấn đề này,
ngành Hải quan cũng đang thu thập thông tin và thường xuyên đấu tranh với
doanh nghiệp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất gian lận qua giá.
d) Gian lận lợi dụng tư tưởng tháI hoá biến chất của công chức Hải Quan
- Gian lận thông qua việc làm thủ tục Hải quan cho hàng hoá chuyển tiếp
Theo qui định tại Quyết định số 89/TCHQ-QĐ ngày 02/08/1994 của
Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thì hàng hoá nhập khẩu được phép
chuyển tiếp là hàng kinh doanh nhập khẩu nhưng chưa làm xong thủ tục tại
Hải quan tỉnh, thành phố có cửa khẩu nhập mà chuyển đến Hải quan tỉnh,
thành phố khác để kiểm tra, thu thuế và hoàn thành thủ tục hải quan. Điều này
có ý nghĩa là các doanh nghiệp được Hải quan chấp nhận đưa hàng hoá nhập
khẩu từ nước ngoài về khu vực kho, bãi của doanh nghiệp (kho riêng) làm thủ
tục hải quan, kiểm hoá và hoàn thành thủ tục hải quan mà không cần kiểm tra
tại cửa khẩu nhập. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm tạo điều
kiện giải phóng hàng nhanh, tránh tình trạng ách tắc hàng hoá tại cửa khẩu,
giảm được các chi phí lưu kho, lưu bãi do việc chờ đợi làm thủ tục tại cửa
khẩu nhập gây nên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số vấn
đề cần phải xem xét, chấn chỉnh: Hiện tượng khai sai tên hàng, số lượng,
trọng lượng chất lượng khá nhiều. Ví dụ: nhập tivi, tủ lạnh khai là máy cày,
máy thuỷ; nhập vải cao cấp khai là vải bình thường; tình trạng cán bộ kiểm
25