BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MỘT SỐ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA
VIỆT NAM NĂM 2013
Mã số: KTQD 2013.11TD
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
HÀ NỘI NĂM 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MỘT SỐ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA
VIỆT NAM NĂM 2013
Mã số: KTQD 2013.11TD
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Thành viên: TS. Đặng Thị Lệ Xuân
Ths. Ngô Quốc Dũng
Ths. Lê Huỳnh Mai
Ths. Bùi Thị Thanh Huyền
Ths. Phí thị Hồng Linh
Ths. Lương Thanh Hà
Ths. Tống Thị Phượng
HÀ NỘI NĂM 2014
4
MỤC LỤC
1.4.2. Thực trạng bất bình đẳng về thu nhập 67
(3) Các hoạt động trọng tâm của ngành: 108
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
với những lý thuyết mới về phát triển xã hội và các cách tiếp cận trong giải quyết
các vấn đề xã hội là hết sức cần thiết.
Ý nghĩa thực tiễn
Sau khủng hoảng kinh tế năm 2009 kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục rơi vào suy
giảm và chưa thấy có dấu hiệu phục hồi. Tăng trưởng kinh tế thấp cùng với các
chính sách thắt chặt chi tiêu công đã tác động nhiều đến các vấn đề xã hội như việc
làm, thu nhập của người dân, tác động đến nghèo đối và an sinh xã hội.
Về lao động, việc làm, kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, doanh
nghiệp ngừng hoạt động, giải thể và phá sản nhiều đã ảnh hưởng đến việc làm, thu
nhập và đời sống của người lao động. Năm 2012, tạo việc làm khoảng 1,52 triệu người,
đạt 95% kế hoạch, trong đó xuất khẩu khoảng 80 nghìn người, đạt 88,9% kế hoạch.
Thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu; triển khai chính sách bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động; mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, nhất là
các thị trường có thu nhập cao, chính sách ổn định, an toàn cho người lao động. Thắt
chặt công tác quản lý hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, nâng cao
chất lượng và uy tín của Việt Nam với các nước đối tác. Các cấp, các ngành tăng cường
công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, bảo đảm thực hiện
9
đúng các quy định pháp luật của Việt Nam.
Về bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, để giảm bớt khó khăn, bảo
đảm đời sống cho người dân, các cấp, các ngành đã tích cực triển khai thực hiện tốt
các chính sách an sinh xã hội, như: thực hiện các chính sách đối với người có công;
hỗ trợ tín dụng cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số để ổn định chỗ ở, phát triển sản
xuất; đào tạo và dạy nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, người dân bị
thu hồi đất sản xuất; hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện
nghèo;… Tỷ lệ hộ nghèo cả nước cuối năm 2012 (theo Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội) còn khoảng 10% (giảm 1,76% so với năm 2011); các huyện nghèo theo
Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP tỷ lệ hộ nghèo ở mức bình quân khoảng 45% (giảm
5% so với cuối năm 2011).
Mạng lưới khám chữa bệnh từ Trung ương đến địa phương được tập trung đầu
Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế trong giải quyết việc làm và tình trạng
thất nghiệp trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam.
Nghiên cứu về thực trạng các dịch vụ xã hội cơ bản trong năm 2013 gồm dịch
vụ giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe.
Nghiên cứu về thực trạng nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam.
Nghiên cứu những vấn đề bức xúc, nổi cộm về mặt xã hội trong năm 2013 và
nguyên nhân của tình trạng này.
Nghiên cứu tác động của tăng trưởng đến các vấn đề xã hội như giảm nghèo,
bất bình đẳng…
Đề ra định hướng và giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội cho năm 2014.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề xã hội bao gồm vấn đề lao động
việc làm, nghèo đói và bất bình đẳng và các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung phân tích thực trạng trong giai
đoạn 2011-2013, tập trung chủ yếu vào 2013 và định hướng đến năm 2015.
4. Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu về xã hội khá rộng và đa dạng liên quan đến việc làm, thu nhập,
đói nghèo, bất bình đẳng và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cũng như hệ thống an
sinh xã hội. Liên quan trực tiếp đến đề tài có thể đề cập đến các vấn đề sau đây:
11
Nhóm vấn đề thứ nhất: Các nghiên cứu liên quan đến an sinh xã hội, thu nhập
và việc làm
Trên thế giới có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến thu nhập và
việc làm. Các nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề sau:
Trong tài liệu Social Policy của John Baldock (1999) ASXH được nhìn nhận
dưới giác độ đảm bảo thu nhập trong những giai đoạn mà con người cần có tiền để
đảm bảo duy trì cuộc sống (khi người ta mất sức lao động, nghỉ hưu, ). Quan điểm
ASXH trong tài liệu của John Baldock cũng tương đồng với quan điểm về ASXH
của Tổ chức lao động thế giới (ILO) trong hiến chương 102 năm 1952. Theo cách
hiểu này ASXH được thực hiện bởi cơ chế đống - hưởng – san sẻ rủi ro của người
được coi là hạt nhân của hệ thống ASXH, chính vì vậy mà ASXH được thanh toán
không đều cho các giai cấp, các thành viên trong xã hội; (iii) các quốc gia như Anh,
Ai len lại đi theo mô hình ASXH kiểu Anglo-Saxon. Hệ thống ASXH ở các quốc
gia này được thực hiện toàn diện, họ chú trọng tới các dịch vụ sức khỏe và những
đối tượng sau quá trình thẩm tra tài sản và thu nhập nếu những đối tượng này có
mức sống thấp thì họ sẽ được hưởng các hỗ trợ từ hệ thống an sinh xã hội.
Nhóm vấn đề thứ hai: Các nghiên cứu liên quan đến nghèo đói và bất
bình đẳng
Nghiên cứu đầu tiên liên quan đến nghèo đói và chính sách xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam là nghiên cứu “Nghèo đói và chính sách giảm nghèo đói ở Việt
Nam” của Tuan Phong Don va Hosen (1997). Trong nghiên cứu này các tác giả đã
tập trung phân tích các chính sách giảm nghèo như chính sách đất đai, chính sách
ưu đãi về lãi suất cho người nghèo.
Một số nhà kinh tế học phát triển cho rằng bất bình đẳng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Kaldor (1955-1956) và Lewis cũng cho
rằng bất bình đẳng là nguồn gốc của tiết kiệm và tiết kiệm là nhân tố thúc đẩy đầu tư
và tiết kiệm. Tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy ảnh hưởng của bất bình
đẳng đến tăng trưởng lại là mối quan hệ ngược chiều, bất bình đẳng càng cao thì ảnh
hưởng càng không tốt đến tăng trưởng (Alessina và Rodrik 1994 , Person và Jabellina
1994). Benabou (1996) cũng đưa ra một số nghiên cứu về mối quan hệ bất bình đẳng
và tăng trưởng kinh tế cho thấy kết quả tương quan cũng ngược chiều.
Bên cạnh đó công bằng cũng rất quan trọng cho việc xoá đói giảm nghèo. Các nhà
kinh tế tại Ngân hàng thế giới cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ làm giảm nghèo đói.
13
Điều này dường như sẽ hiệu quả hơn đối với những nước mà phân phối thu nhập
bình đẳng (Ngân hàng Thế giới, 1999). Trong cuộc nghiên cứu khảo sát các hộ gia
đình từ 44 nước, các nhà kinh tế của Ngân hàng thế giới phát hiện thấy rằng “Nếu
quốc gia nào có sự phân phối thu nhập bình đẳng thì ảnh hưởng của tăng trưởng
kinh tế đến xoá đói giảm nghèo sẽ gấp năm lần so với quốc gia mà phân phối thu
nhập bất bình đẳng”(Ngân hàng Thế giới,1999).
những trọng tâm của thế giới hiện nay là loại bỏ đói nghèo và lạc hậu ra khỏi xã hội
chúng ta. Trong Báo cáo này đã đề cập đến những cản trở để người nghèo ở các nước
thế giới thứ ba tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng,
nước sạch, cũng như sự cần thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản cho người nghèo cả về mặt số lượng và chất lượng.
Nghiên cứu của Anderson, Jame, Daniel Kaufmann và Francesa Recanatini
năm 2003 nghiên cứu việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản đối với vấn đề giảm
nghèo ở các nước đang phát triển. Trong đó nhấn mạnh giáo dục là một trong những
dịch cụ cơ bản
Nghiên cứu của Azfar, Omar và Gurgur nghiên cứu ảnh hưởng của tham
nhũng đến lợi ích tiếp cận y tế và giáo dục cho người nghèo ở Philippines.
Nghiên cứu của Banerjee, Abhijit, Shawn Cole năm 2003 đã cách thức để
nâng cao chất lượng của y tế và giáo dục cho người nghèo ở Ấn Độ.
Để cải thiện cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản trong nghiên cứu về “Cung
ứng dịch vụ giáo dục và y tế ở Châu Mỹ La Tinh” các tác giả Di Tela, Raphael, và
William Savedoff đã đưa ra những khuyến nghị cải cách về thể chế nhằm tăng
cường mối quan hệ giữa trách nhiệm giữa các nhà hoạch định chính sách, nhà cung
ứng dịch vụ và người dân.
Các tác giả Miguel, Szekly trong nghiên cứu về “Nghèo đói, bất bình đẳng và
phúc lợi xã hội” ở Mexico đã nghiên cứu cách thức nhằm tăng phúc lợi xã hội cho
người nghèo thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho họ.
Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới hàng năm đều tập trung phân tích và
đánh giá chi tiêu công cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và ảnh hưởng của chi tiêu
công đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo.
Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu ở nước ngoài về dịch vụ xã hội cho
người nghèo đều thống nhất quan điểm là người nghèo rất hạn chế trong việc tiếp
cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản và chính phủ các nước cần có biện pháp hiệu quả
15
hơn để giúp người nghèo có hiều cơ hội hơn để tiếp cận với các dịch vụ đó. Tuy
nhiên trong các nghiên cứu này chưa đưa ra một cách có hệ thống các tiêu chí để
hội; trong hệ thống ASXH hai nhà khoa học này coi BHYT là một bộ phận thuộc
BHXH. Tuy nhiên, quan điểm về BHXH của hai nhà khoa học này mới chỉ giới hạn
16
đối với lao động trong khu vực chính thức, còn BHXH tự nguyện cho lao động
trong khu vực phi chính thức lại chưa được hai nhà khoa học này đề cập, bởi lẽ Luật
bảo hiểm xã hội tự nguyện được ban hành từ 28-12-2007 và có hiệu lực từ 1-1-
2008. Mai Ngọc Anh (2009) khi nghiên cứu về đảm bảo tài chính thực hiện ASXH
trong khu vực nông thôn Việt Nam đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao
gồm: BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT (bắt buộc, tự nguyện và BHYT bắt
buộc cho người nghèo), Chính sách phát triển thị trường lao động, Ưu đãi xã hội, và
Trợ giúp xã hội (thường xuyên và đột xuất); quan điểm về các hợp phần của ASXH
này cùng trùng với quan điểm của GS.TS Mai Ngọc Cường (2009). GS.TS. Mai
Ngọc Cường và TS. Mai Ngọc Anh trong cuốn sách của Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia (2010) “Việt Nam Đổi mới và Phát triển” đã làm rõ sự khác biệt về chính
sách phát triển thị trường lao động trong ASXH với chính sách phát triển thị trường
lao động nói chung
Nhóm vấn đề thứ hai: các nghiên cứu về nghèo đói và bất bình đẳng
Báo cáo phát triển Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2004 về “Nghèo”
đã đưa ra một số đánh giá ban đầu về các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo ở
Việt Nam như giáo dục, y tế và cung cấp nước sạch. Báo cáo phát triển Việt Nam
năm 2005 về “Quản lý và điều hành” cũng đã tập trung vào đánh giá chi tiêu của
chính phủ cho các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm chi cho giáo dục, y tế và một số
lĩnh vực khác. Báo cáo phát triển thế giới năm 2006 về “Công bằng và phát triển”
lại đề cập đến bất bình đẳng về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên thế giới cũng
như ở Việt Nam. Cuốn sách “Về tình trạng nghèo khổ trên thế giới” nhà xuất bản
Chính trị quốc gia năm 1997 đã đưa ra những khó khăn của người nghèo khi tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Báo cáo chung của Chính Phủ Việt Nam – các nhà
tài trợ – nhóm công tác về đói nghèo NGO năm 1999 “ Việt Nam tấn công đói
nghèo” nghiên cứu tổng quan về nghèo đói ở Việt Nam và cũng đã đề cập đến các
dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo. Báo cáo của Oxfam quốc tế về: Tăng
trong những năm qua Chính phủ Việt Nam lại theo đuổi chính sách trọng thị, trong
khi dân số thành thị chỉ chiếm 20 % thì dân số nông thôn chiếm đến 80%. Bên cạnh
đó, tác giả cũng chưa chỉ ra sự đổi mới kinh tế hay hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh
hưởng tới bất bình đẳng nông thôn – thành thị hay không.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập, khai thác một số khía
cạnh về nghèo đói và việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và nghiên cứu một cách toàn diện hơn vấn đề đó,
đề tài làm rõ sự cần thiết phải tăng cường và nâng cao chất lượng của các dịch
vụ xã hội cơ bản cho người nghèo, thực trạng của các dịch vụ xã hội cơ bản cho
18
người nghèo, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị cho việc tăng cường và nâng
cao chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo trong thời gian tới để
Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của WB và định
hướng phát triển bền vững.
Nhóm vấn đề thứ ba: nhóm vấn đề liên quan đến các dịch vụ xã hội cơ bản
TS. Võ Thị Ánh Tuyết, Viện ngiên cứu phát triển giáo dục đã nghiên cứu
công bằng xã hội trong giáo dục, trong đó tác giả đã đánh giá bất bình đẳng trong
việc tiếp cận dịch vụ giáo dục của các nhóm thu nhập khác nhau và đưa ra các giải
pháp để làm giảm bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục.
TS. Vũ Quang Việt trong bài viết “Giáo dục tư hay công nhìn từ góc độ lý
thuyết kinh tế” cũng đã phân tích những hạn chế của người nghèo trong việc tiệp
cận dịch vụ giáo dục và làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận một cách tốt
hơn đến dịch vụ giáo dục.
PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh trong cuốn sách bàn về phát triển kinh tế (Nghiên
cứu con đường dẫn tới giàu sang) xuất bản năm 2005 cũng có đề cập đến vai trò của
giáo dục, y tế đối với sự phát triển công nghiệp hoá. Cuốn sách “Vấn đề giảm nghèo
trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh” do tập thể tác giả Nguyễn
Thế Nghĩa, PGS. TS Mạc Đường đã đề cập đến nghèo đói ở đô thị và các dịch vụ
cho người nghèo ở đô thị. Cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn
đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” NXB Chính trị quốc gia, 1999 của GS. TS Vũ
Phương phân tích thông tin/dữ liệu đã thu thập được.
Phương pháp kế thừa các công trình đã công bố, sưu tầm, tập hợp các tài liệu,
sách tham khảo trong và ngoài nước phục vụ nội dung nghiên cứu đề tài.
Các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, tổng hợp, so sánh,
Cây quyết định… để tiếp cận về các vấn đề xã hội, phân tích thuận lợi, khó khăn
trong thực thi các chính sách xã hội, cũng như những cơ hội, thách thức trong việc
đạt được mục tiêu xã hội trong giai đoạn tới, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp.
Phương pháp tham vấn chuyên gia được sử dụng trong nhiều khâu, như thiết
lập phiếu phỏng vấn, trao đổi trực tiếp thông qua các cuộc hội thảo, toạ đàm khoa
học để xin ý kiến tư vấn về chính sách, nhất là tham vấn cho các báo cáo kết quả
nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cho việc giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh.
20
Khung nghiên cứu của đề tài:
6. Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm 3 chương
Chương 1: Thực trạng các vấn đề xã hội năm 2013
Chương 2: Các chính sách xã hội năm 2013
Chương 3: Đính hướng chính sách xã hội năm 2014
Bối cảnh
trong nước
năm 2013
Bối cảnh
quốc tế
Năm 2013
Các vấn đề xã hội trong năm 2013
Lao động, việc làm,
Nghèo đói, bất bình đẳng
Các dịch vụ XHCB
Anh sinh xã hội
Đánh giá kết quả, tồn tại và
kiệm hình bướu’’ của Harrod là đúng thì cơ cấu dân số vàng sẽ hứa hẹn một tỷ lệ
tiết kiệm cao hơn trong thời gian tới.
Bảng 1.1: Quy mô và cơ cấu dân số Việt Nam, 2002-2013
2002 2005 2007 2011 2012 2013
Tốc độ tăng
2002- 2013
(%/năm)
Quy mô (triệu người) 79,5 82,4 84,2 87,8 88,8 89,71 1,1
1. Khu vực
100,
0
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Thành thị 25,0 27,1 28,2 31,7 32,5 32,36 3,7
Nông thôn 75,0 72,9 71,8 68,3 67,6 67,64 0,1
2. Vùng địa lý-kinh tế
100,
0
100,0 100,0 100,0 100,0
Đồng bằng sông Hồng 22,3 22,4 22,3 23,3 22,8 1,4
Trung du và miền núi phía Bắc 14,0 14,0 13,9 12,6 12,9 - (0,0)
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
20,6 20,5 20,8 21,4 21,6 - 1,6
Tây Nguyên 4,9 5,1 5,2 5,1 6,0 - 2,6
Đông Nam Bộ 16,5 16,5 16,9 17,8 17,2 - 1,8
Đồng bằng sông Cửu Long 21,8 21,5 21,0 19,9 19,6 - 0,1
22
Nguồn: Niên giám Thống kê các năm 2002-2011; Báo cáo công bố số liệu kinh tế-xã hội
năm 2013 (theo ILSSA,2013)
Tổng tỷ suất sinh năm 2013 đạt 2,10 con/phụ nữ, tăng so với mức 2,05
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Trong tổng số
53,65 triệu người lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến
01/01/2014 đạt 47,49 triệu người, tăng 409,2 nghìn người so với cùng thời điểm
năm 2013, trong đó nam chiếm 53,9%; nữ chiếm 46,1%. %. Lợi thế dân số vàng ở
Việt Nam sẽ tiếp tục là cơ hội cho Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2040.
Nếu các lao động trẻ được trang bị kiến thức và kỹ năng tốt thì cơ cấu dân số vàng
sẽ mang lại nhiều thành tựu. Tuy nhiên nếu số lao động này lại không được đào tạo
và thất nghiệp thì xã hội sẽ bị đình trệ và nảy sinh nhiều hệ lụy.
Bảng 1.2: Quy mô và cơ cấu lực lượng lao động
2002 2005 2007 2011 2012 2013
Tốc độ
tăng
(%/năm)
Quy mô (triệu người) 41,0 44,4 46,7 51,7 52,4 53,65 2,5
Cơ cấu (%)
1. Khu vực
100,
0
100,
0
100,
0
100,
0
100,
0
100,0
Thành thị 24,0 25,0 25,4 29,7 30,3 30,2 5,1
Nông thôn 76,0 75,0 74,6 70,3 69,7 69,8 1,6
2. Vùng địa lý-kinh tế
ở hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của cả nước là Hà Nội (71,4%) và thành
phố Hồ Chí Minh (64,0%).
Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động
Cơ cấu lực lượng lao động theo nhóm tuổi phản ánh tình trạng nhân khẩu học
và kinh tế-xã hội. Lực lượng lao động của Việt Nam tương đối trẻ, một nửa (50,0%)
số người thuộc lực lượng lao động từ 15-39 tuổi.
Hình 1.1: Tỷ trọng lực lượng lao động chia theo nhóm tuổi và nơi cư trú,
quý 4 năm 2013
Nguồn: TCTK, 2014
Có sự khác nhau đáng kể về phân bố lực lượng lao động theo tuổi giữa khu
vực thành thị và nông thôn (Hình 1.1). Tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động nhóm
tuổi trẻ (15-24) và già (55 tuổi trở lên) của khu vực thành thị thấp hơn của khu vực
nông thôn. Ngược lại, đối với nhóm tuổi lao động chính (25-54) thì tỷ lệ này của
thành thị lại cao hơn của khu vực nông thôn. Mô hình này cho thấy, nhóm dân số
trẻ ở khu vực thành thị có thời gian đi học dài hơn so với khu vực nông thôn và
người lao động ở khu vực nông thôn ra khỏi lực lượng lao động muộn hơn so với
khu vực thành thị.
25