đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm cá ngừ đại dương của công ty tnhh hải vương sang thị trường eu - Pdf 25

i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn “Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm cá ngừ đại dương
của công ty TNHH Hải Vương sang thị trường EU” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Vinh.
Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, nội dung trích dẫn đều được ghi
rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng
được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.

Nha Trang, ngày tháng năm 2013
Người cam đoan HUỲNH THANH LĨN

HUỲNH THANH LĨN iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XUẤT KHẨU VÀ XUẤT KHẨU
THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM 5
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ 5
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến xuất khẩu hàng hoá 5
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 5
1.1.3. Nhiệm vụ của xuất khẩu 7
1.1.4. Các hình thức xuất khẩu 7
1.1.5. Nội dung của hoạt động xuất khẩu 9
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 15
1.2.1. Khái niệm chuỗi cung ứng 15
1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 16
1.2.3. Mục tiêu của chuỗi cung ứng 17
1.2.4. Các thành phần của chuỗi cung ứng. 18
1.2.5. Cấu trúc chuỗi cung ứng 20
1.3. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM 22

3.1.1 Quan điểm phát triển 76
3.1.2 Các chỉ tiêu cụ thể 77
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG
CỦA HAVUCO SANG THỊ TRƯỜNG EU 78
3.2.1. Đối với công ty 78
3.2.2. Các kiến nghị về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 ii
PHỤ LỤC 3 vi
PHỤ LỤC 4 x
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam bảy tháng đầu năm 2012 24
Bảng 1.2: Thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam bảy tháng đầu năm 2012 25
Bảng 1.3: Kim ngạch xuất khẩu cá ngừ bảy tháng đầu năm 2012 27
Bảng 1.4: Giao dịch thương mại hàng hoá giữa EU và các quốc gia 34
Bảng 1.5: Giao dịch thương mại hàng hoá giữa EU và Việt Nam 35
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của Công ty HAVUCO 44
Bảng 2.2: Danh sách các khách hàng tiêu biểu 2012 45
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu từ năm 2006-2011 46
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu tám tháng đầu năm 2012 47
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu năm 2006-2011 theo từng thị trường 48
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu tám tháng 2012 theo từng thị trường 48
Bảng 2.7: Cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu năm 2006-2011 49
Bảng 2.8: Tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu vào từng thị trường 2006-2011 49

Hình 2.6: Phòng thí nghiệm của HAVUCO 44
Hình 2.7: Một số giấy chứng nhận chất lượng của Công ty HAVUCO 46
Hình 2.8: Biểu đồ tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu vào từng thị trường 2006-2011 50
Hình 2.9: Biểu đồ tỷ lệ doanh thu xuất khẩu vào từng thị trường 2006-2011 51
Hình 2.10: Biểu đồ tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu vào từng thị trường 2012 52
Hình 2.11: Biểu đồ tỷ lệ doanh thu xuất khẩu vào từng thị trường 2012 53
Hình 2.12: Mô hình chuỗi cung ứng cá ngừ đại dương của HAVUCO 54
Hình 2.13: Qui trình sản xuất cá ngừ đại dương của HAVUCO 58
Hình 2.14: Một số sản phẩm tiêu biểu xuất khẩu vào EU. 59
Hình 2.15: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu cá ngừ vào Eu 2006-2011. 62
Hình 2.16: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu cá ngừ vào Eu tháng 1-8/2012 63
Hình 2.17: Biểu đồ xuất khẩu cá ngừ Việt nam sang EU 69

vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC : Asia-Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –
Thái Bình Dương).
Asean : Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á).
BRC : British Retail Consortium (Tiêu chuẩn của Hiệp hội các nhà bán
lẻ Anh).
D/A : Document against Acceptance (Hình thức thanh toán D/A)
D/P : Document against Payment (Hình thức thanh toán D/P)
EU : European Union (Liên minh các nước Châu Âu).
GSP : Generalized System of Preferences (Hệ thống ưu đãi phổ cập).
HACCP : Hazard Analysis Critical Control Point (Hệ thống phân tích mối nguy
và điểm kiểm sóat tới hạn).
HAVUCO : Hai Vuong Co., Ltd (Công ty TNHH Hải Vương).

hướng bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, các hàng rào thuế quan ngày càng
chặt chẽ và có thêm các tiêu chuẩn mới khắc khe như về dư lượng kháng sinh và an
toàn vệ sinh thực phẩm tại các thị trường, những yếu tố này sẽ tiếp tục là những trở
ngại cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam. Vì vậy, song song với việc nâng cao
chất lượng sản phẩm để giữ các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp thuỷ sản
Việt Nam cần chủ động phát triển thêm nhiều thị trường mới có tiềm năng hơn, khai
thác triệt để các tiềm năng của các thị trường lớn để đẩy mạnh hơn nữa sức tiêu thụ
sản phẩm do mình tạo ra.
Công ty TNHH Hải Vương (HAVUCO) cũng nằm trong hệ thống các công ty sản
xuất và chế biến xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản. Kể từ khi tham gia vào hoạt động
xuất nhập khẩu, HAVUCO đã xác định lĩnh vực hoạt động chính là xuất khẩu cá ngừ
đại dương. Hàng năm Công ty có thể xuất khẩu hơn 10.000 tấn sản phẩm sang các thị
trường trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt trên 40 triệu USD/năm. Điều này
càng khẳng định HAVUCO là công ty hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu cá
ngừ đại dương. Hiện nay, HAVUCO đang phấn đấu giữ vững vị trí là ngọn cờ đầu
trong ngành xuất khẩu cá ngừ sang các nước trên thế giới. Trước tình hình biến động
của thị trường và sự cạnh tranh ngày càng ngay gắt của các công ty trong và ngoài
nước, HAVUCO đang từng bước đầu tư trang thiết bị máy móc, quản lý chặt nguồn
2

nguyên liệu, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng toàn diện theo tiêu chuẩn HACCP,
ISO, USDC… và tăng cường tìm kiếm, phát triển thêm các thị trường mới để đẩy
mạnh đầu ra cho sản phẩm.
Trong cơ cấu thị phần tiêu thụ sản phẩm cá ngừ đại dương của HAVUCO thì liên
minh Châu Âu (EU) là thị trường quan trọng nhất chiếm khoảng 60% sản lượng và giá
trị xuất khẩu, đồng thời sản lượng tiêu thụ vào thị trường này liên tục tăng qua các
năm, điều này cho thấy thị trường EU ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của công ty
và còn nhiều tiềm năng cần được đẩy mạnh khai thác. Do đó, việc tìm ra các giải pháp
để đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu sản phẩm này sang thị trường EU là hết sức cần thiết,
giúp công ty ổn định và phát triển thị trường đầu ra, nâng cao vị thế và uy tín của công

- Phương pháp tổng hợp số liệu.
- Phương pháp chuyên gia. Tác giả đã vận dụng phương pháp phóng vấn trực tiếp
bảy chuyên gia bao gồm: Giám đốc Công ty, Giám đốc kinh doanh, Giám đốc sản
xuất, Trưởng phòng kế toán, Trưởng phòng kỹ thuật, Trưởng phòng tổ chức hành
chính, Trưởng phòng xuất nhập khẩu của HAVUCO nhằm thu thập ý kiến làm cơ sở
phục vụ cho công tác nghiên cứu của luận văn.
5. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn
đề xuất khẩu và tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn về xuất khầu thủy sản nói chung
cũng như cá ngừ nói riêng sang thị trường EU.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu góp phần đưa ra các giải pháp để HAVUCO
có thể tham khảo phục vụ cho việc hoạch định chiến lược phát triển công ty. Thiết
thực nhất là đề tài nghiên cứu này giúp cho tác giả có cơ hội vận dụng các cơ sở lý
luận, các kiến thức đã học vào tình hình thực tế kinh doanh của công ty, giúp cho Ban
lãnh đạo HAVUCO có cái nhìn tổng quát về tình hình xuất khẩu cá ngừ đại dương của
công ty vào thị trường EU trong thời gian qua và nâng cao hiệu quả xuất khẩu trong
thời gian tới.
6. Các công trình nghiên cứu có liên quan
Xuất khẩu cá ngừ đại dương của Việt nam chỉ thực sự được biết đến trong thời
gian gần đây. Do đó, vấn đề nghiên cứu dành cho lĩnh vực này là chưa nhiều. Đặc biệt,
việc xuất khẩu cá ngừ đại dương sang thị trường Châu Âu vẫn chưa được nhiều
chuyên gia nghiên cứu. Một số công trình nghiên cứu liên quan có thể tham khảo như:
- Công trình nghiên cứu của PGS. TS Vũ Chí Lộc về “Giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Âu”. Kết quả nghiên cứu đã đưa
ra được những đặc trưng của thị trường Châu Âu mà các doanh nghiệp Việt Nam cần
4

lưu ý khi tiến hành xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này. Công trình cũng phân tích
những khó khăn, thuận lợi và đưa ra những giải pháp, kinh nghiệm thành công, thất
bại trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU.

Do còn có những hạn chế trong việc cập nhật thông tin cùng với những hạn chế
kiến thức của bản thân, nên trong luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài này
được hoàn thiện.
5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XUẤT KHẨU VÀ
XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến xuất khẩu hàng hoá
- Khái niệm về xuất khẩu: “Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước
ngoài” Theo Bùi Xuân Lưu (2006), Giáo trình kinh tế ngoại thương.
Theo luật thương mại của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 qui định “Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng
hoá được đưa ra khỏi lãng thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh
thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật.”
- Khái niệm về ngoại thương: “Ngoại thương là việc mua, bán hàng hoá và dịch
vụ qua biên giới quốc gia” Theo Bùi Xuân Lưu (2006), Giáo trình kinh tế ngoại
thương.
Xuất khẩu là một bộ phận cấu thành quan trọng của hoạt động ngoại thương, trong
đó hàng hoá dịch vụ được bán cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho
ngân sách Nhà Nước, đồng thời phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống
cho nhân dân. Có rất nhiều lý do để một quốc gia thực hiện xuất khẩu, và tăng cường
khả năng xuất khẩu tới mức tối đa, tuy nhiên có hai lý do cơ bản sau:
Thứ nhất: Theo lý thuyết về lợi thế so sánh: Các quốc gia sẽ sử dụng những lợi thế
của quốc gia mình thực hiện xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế so sánh và nhập
khẩu những hàng hoá kém lợi thế.
Thứ hai: Giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm: Khi một thị trường chưa bị hạn
chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quy định khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, trên thị

sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu có tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
c). Đối với doanh nghiệp
Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của tất
cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Bất kỳ quốc gia nào muốn có tiềm lực mạnh mẽ
về kinh tế cũng cần phải đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế. Việc
xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đem lại cho các doanh nghiệp những lợi ích sau:
- Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng.
7

- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản
lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan
hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi,
tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt
trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh
nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sản
xuất, marketing…
1.1.3. Nhiệm vụ của xuất khẩu
Xuất phát từ mục tiêu chung của xuất khẩu là xuất khẩu để nhập khẩu đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế đa dạng: phục vụ cho sự nghiệp Công
nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo thêm công ăn
việc làm. Xuất khẩu là để nhập khẩu. Phải xuất phát từ nhu cầu thị trường để xác định
phương hướng, tổ chức hàng nhập khẩu thích hợp. Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt
động xuất khẩu cần hướng vào thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước (đất đai, tài nguyên

Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là
bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia
công và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công). Như vậy trong gia công quốc tế hoạt
động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
f). Buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng
giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về. Mục đích của hình thức xuất
khẩu này là không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một lýợng
hàng hoá khác có giá trị týõng ðýõng. Ưu điểm của hình thức này là không cần sử
dụng ngoại tệ, các nýớc có thể khai thác tiểm nãng của nước mình, tránh được sự quản
lý về ngoại hối của chính phủ.
g). Tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là một phương thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những mặt hàng
trước đây đã nhập khẩu mà chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích của phương
thức này là nhằm thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này
luôn thu hút 3 nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
9

1.1.5. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
a). Nghiên cứu thị trường
 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Đây là một trong những nội dung ban đầu cơ bản nhưng rất quan trọng và rất cần
thiết để tiến hành hoạt động xuất khẩu. Để lựa chọn được mặt hàng mà thị trường cần,
đòi hỏi doanh nghiệp phải có quá trình nghiên cứu, phân tích có hệ thống nhu cầu thị
trường từ đó giúp cho doanh nghiệp chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh
 Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải tiến hành lựa
chọn thị trường xuất khẩu mặt hàng đó. Việc lựa chọn thị trường đòi hỏi doanh nghiệp

Sau khi đã ký kết hợp đồng hai bên thực hiện những gì mình đã cam kết trong hợp
đồng. Với tư cách là nhà xuất khẩu, tuỳ thuộc vào nội dung thoả thuận trong hợp đồng
mà doanh nghiệp sẽ thực hiện một công việc như: giục mở L/C, xin giấy phép xuất
khẩu cho những mặt hàng thuộc danh mục quản lý của cơ quan chuyên ngành, chuẩn
bị hàng hoá xuất khẩu, kiểm định hàng hoá, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm
hàng hoá, làm thủ tục xuất hàng, hoàn thiện chứng từ thanh toán…
1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cho phép các nhà kinh doanh thấy được những
gì họ sẽ phải đối mặt và đứng trước tình thế đó thì họ phải xử lý như thế nào? Từ đó
định hình cho mình những giải pháp đối phó cần thiết. Ở đây có thể nghiên cứu ảnh
hưởng của các nhóm yếu tố chủ yếu sau:
a). Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu, hơn nữa
các yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn và phân tích các yếu tố
thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể.
 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền
tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng để
doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa ra các
chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng hạn chiến lược phát triển
kinh tế theo hướng CNH-HĐH đòi hỏi xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập
khẩu các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, mục tiêu bảo hộ sản xuất trong
11

nước đưa ra các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu
dùng…

12

- Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị trường tiêu
thụ. Ví dụ: Việc mua bán hàng hoá với các nước có cảng biển có chi phí thấp hơn so
với các nước không có cảng biển.
- Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép
các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, nâng
cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu.
đ). Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến xuất
khẩu, chẳng hạn như: Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển; Hệ thống
ngân hàng; Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hoá… cho phép các hoạt
động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt được mức
độ thiệt hại khi có rủi ro xảy ra.
e). Tình hình kinh tế - xã hội thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cấu hoá thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày càng
tăng. Chính vì thế mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giới đều ít nhiều
trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước. Lĩnh vực xuất khẩu hơn
bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất.
f). Nhu cầu của thị trường nước ngoài
Do khả năng sản xuất của nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng trong nước, hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất không đa dạng nên không
thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, nên đây cũng là một trong những nhân tố
để thúc đẩy xuất khẩu của các nước có khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước và
cả nhu cầu của nước ngoài.
g). Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối
lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân

hướng tới mục tiêu. Một doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình thì đông thời
đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng. Khả năng tổ chức, quản lý doanh
nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp bao quát, tập trung vào những mối liên hệ tương
tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể tạo nên sức mạnh thực sự cho doanh
nghiệp.
 Trình độ của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của doanh nghiệp
Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, gía thành và chất lượng hàng hoá được
đưa ra đáp ứng khách hàng trong và ngoài nước. Do đó, các doanh nghiệp cần liên tục
14

cập nhật, đổi mới qui trình sản xuất, thay thế các trang thiết bị tiên tiến, ứng dụng các
công nghệ mới vào sản xuất.
 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có thể huy
động vào kinh doanh: thiết bị , nhà xưởng…
Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng
nắm bắt thông tin cũng như việc thực hiện các hoạt động kinh doanh xuất khẩu càng
thuận tiện và có hiệu quả.
h). Năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh, một mặt thúc đẩy cho doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị, nâng cấp
chất lượng và hạ giá thành sản phẩm…Nhưng một mặt nó dễ dàng đẩy lùi các doanh
nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc chậm phản ứng với sự thay đổi của môi
trường kinh doanh.
Các yếu tố cạnh tranh được thể hiện qua mô hình sau:

người mua
Khả năng
mặc cả của
nhà cung
cấp
Sự đe doạ của các
hàng hoá thay thế
15

Qua mô hình các doanh nghiệp có thể thấy được các mối đe doạ hay thách thức với
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm. Xuất phát từ đây doanh
nghiệp có thể đề ra sách lược hợp lý nhằm hạn chế đe doạ và tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp mình.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: các đối thủ này chưa có kinh
nghiệm trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn về vốn,
công nghệ, lao động và tận dụng được lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc phục
được những điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm lĩnh thị
trường. Chính vì vậy, một doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư vốn, trang bị thêm
máy móc thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nhưng
mặt khác phải tăng cường quảng cáo, áp dụng các biện pháp hỗ trợ và khuyếch trương
sản phẩm giữ gìn thị trường hiện tại, đảm bảo lợi nhuận dự kiến.
- Sức ép của người cung cấp: nhân tố này có khả năng mở rộng hoặc thu hẹp khối
lượng vật tư đầu vào, thay đổi cơ cấu sản phẩm hoặc sẵn sàng liên kết với nhau để chi
phối thị trường nhằm hạn chế khả năng cuả doanh nghiệp hoặc làm giảm lợi nhuận dự
kiến, gây ra rủi ro khó lường trước cho doanh nghiệp. Vì thế hoạt động xuất khẩu có
nguy cơ gián đoạn.
- Sức ép người tiêu dùng: Trong cơ chế thị trường, khách hàng được coi là "thượng
đế". Khách hàng có khả năng làm thu hẹp hay mở rộng qui mô chất lượng sản phẩm
mà không được nâng giá bán sản phẩm. Một khi nhu cầu của khách hàng thay đổi thì
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng phải

các công ty ở các giai đoạn từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến chế biến và
cung cấp sản phẩm tới người tiêu dùng. Trong khái niệm mà Sunil Chopra và Peter
Meindl đưa ra cụ thể và đầy đủ hơn, ta thấy trong chuỗi cung ứng có các doanh nghiệp
đóng vai trò trực tiếp đáp ứng nhu cầu của khách hàng như các nhà sản xuất, nhà cung
cấp, nhà phân phối và cũng có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián
tiếp đến hầu hết các chuỗi cung ứng, và các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng
trong việc phân phối sản phẩm cuối cùng đến khách hàng. Họ chính là các nhà cung
cấp dịch vụ, chẳng hạn như các nhà vận tải, các công ty kinh doanh kho băi, các đại lý,
các nhà tư vấn…Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các
doanh nghiệp trong đa số chuỗi cung ứng, v́ họ có thể cho phép doanh nghiệp phục vụ
tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể.
1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Chuỗi giá trị của một sản phẩm là hàng loạt các hoạt động cần thiết để tạo ra một
sản phẩm (hoặc một dịch vụ) bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng, thông qua những giai
17

đoạn sản xuất khác nhau, cho tới khâu phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối
cùng và vứt bỏ sau khi đả sử dụng (Kaplinsky, 2000; Kaplinsky và Morris, 2001). Còn
chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu tho cho tới sản phẩm
hoàn chỉnh, thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng
(Ganeshan và Harison 1995). Trong chuỗi cung ứng, sản phẩm đi qua tất cả các hoạt
động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đỗi về giá cả cũng như
giá trị. Như vậy, ta thấy rằng chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng không khác nhau vì
chúng đều là chuỗi của sự nối tiếp nhau các quá trình và hoạt động giữa các tác nhân
liên quan nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp đến tay người tiêu dùng
cuối cùng.
Tuy nhiên, mục tiêu phân tích chuỗi giá trị là tối đa hoá giá trị tạo ra cho khách
hàng và tối đa hoá lợi ích cho các bên có liên quan cũng như lợi ích trên toàn chuỗi giá
trị và phát triển bền vững qua thời gian (Filler, 2006; De Silve, 2011). Trong khi đó,
chuỗi cung ứng trọng tâm vào chi phí và hiệu quả của các hoạt động hậu cần trên toàn

Đặc điểm của mỗi chuỗi cung ứng các sản phẩm khác nhau thì khác nhau và chúng
gặp phải những thách thức và hướng tới những kiểu nhu cầu thị trường khác nhau. Tuy
nhiên, bất kỳ một chuỗi cung ứng nào cũng sẽ gặp phải các vấn đề cơ bản giống nhau -
các thành phần cơ bản của một chuỗi cung ứng. Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ
5 thành phần cơ bản, bao gồm: Sản xuất, hàng tồn kho, định vị, vận chuyển và thông
tin. Hình 1.2: Các thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng.

Sản xuất:
là năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm. Các
phương tiện sản xuất là các nhà máy và kho. Các quyết định của doanh nghiệp sẽ phải
trả lời cho các câu hỏi: thị trường muốn loại sản phẩm nào? Cần sản xuất bao nhiêu
1. SẢN XUẤT
Sản xuất cái gì?
Bằng cách nào?
Khi nào sản xuất?
2. HÀNG TỒN KHO
Sản xuất bao nhiêu?
Trữ kho bao nhiêu?
4. VẬN CHUYỂN
Chuyên chở sản phẩm bằng
cách nào? Khi nào?
3. VỊ TRÍ
Nơi nào tốt nhất cho hoạt
động nào?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status