nâng cao năng lực cạnh tranh của mạng thông tin di động vinaphone tại địa bàn khu vực 1 của công ty dịch vụ viễn thông - Pdf 25

i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN HÙNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG
VINAPHONE TẠI ĐỊA BÀN KHU VỰC 1
CỦA CÔNG TY DỊCH VỤ VIỄN THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ THỊ THANH VINH
Khánh Hòa - 2013

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của mạng thông tin di động Vinaphone tại địa bàn khu vực I của Công ty
dịch vụ viễn thông’’ là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực.

Tác giả

NGUYỄN VĂN HÙNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 5
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH 5
1.1.1 Một số khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 5
1.1.2 Bản chất và vai trò của cạnh tranh 6
1.1.3 Hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 9
1.1.4 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh 12
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH VIỄN THÔNG 16
1.2.1 Khái niệm Viễn Thông 16
1.2.2 Tổng quan các lĩnh vực trong viễn thông 16
1.2.3 Khái niệm về ngành Viễn thông 19
1.2.4 Vị trí, vai trò của mạng viễn thông Việt nam và mạng di động Vinaphone 20
1.2.5 Thực trạng của Ngành Viễn thông so với Khu vực và Thế giới 21
1.2.6 Đặc thù cạnh tranh trong ngành 21
1.2.7 Định hướng phát triển ngành Viễn thông của Việt Nam 22
1.3. KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH VIỄN THÔNG 25
1.3.1 Kinh nghiệm trong nước 25
1.3.2 Kinh nghiệm nước ngoài 26
1.4 MA TRẬN TOWS, MA TRẬN HÌNH ẢNH CẠNH TRANH 29
1.4.1 Ma trận TOWS 29
1.4.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 30
TÓM TẮT CHƯƠNG I 32
iv CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẠNG

3.2.1 Giải pháp nghiên cứu thị trường thông tin di động để có chiến lược CSKH
phù hợp 68
v 3.2.2 Giải pháp xây dựng hoạt động chiêu thị 72
3.2.3 Giải pháp chăm sóc khách hàng 77
3.2.4 Giải pháp về Hợp tác Quốc tế 75
3.2.5 Giải pháp về Nguồn Nhân lực 76
3.2.6 Giải Pháp về Vốn 80
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 80
3.3.1 Đề xuất đối với Vinaphone1 80
3.3.2 Đề xuất với Công ty Vinaphone 81
3.3.3 Kiến nghị với VNPT 82
3.3.4 Kiến nghị với Bộ Thông Tin và Truyền Thông 83
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC iii
vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

* Tiếng Việt:
BCVT : Bưu chính Viễn thông
CNTB : Chủ nghĩa Tư bản

GPRS General Packet Radio Serice Dịch vụ vô tuyến gói chung
vii HSCSD High Speed Circuit Switched
Data
Dữ liệu chuyển mạch kênh tốc độ cao
ICT Information and
Communications Technology
Công nghệ thông tin và truyền thông
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ITU International
Tekecommunication Union
Liên minh Viễn thông quốc tế
ISO International Standard
Organization
Quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế
PDA Personal Digital Assistant Máy hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số
PDC Personal Digital Cellular Tế bào cá nhân
PHS Personal Handyphone System Hệ thống điện thoại caamg tay cá nhân
PSTN Public Swiched Telephone
Network
Mạng điện thoại công cộng
R&D Reseach & development Nghiên cứu và triển khai
PPS Prepaid Service Dịch vụ trả tiền sau
SMS Short Message Service Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện
TDMA Time Division Multiple
Access
Đa truy nhập phân chia theo thời gian

vụ thông tin di động 60
Bảng 8: Ma trận hình ảnh cạnh tranh các mạng thông tin di động trên địa bàn 60
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành 15
Hình 2: Sơ đồ ma trận TOWS 30
Hình 3: Logo Vinaphone 34
Hình 4: Logo một số dịch vụ 34
Hình 5: Cơ cấu tổ chức VNP1 36
Hình 6: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter 41
Hình 7: Biểu đồ So sánh số thuê bao lũy kế giữa khu vực 1 và cả nước 48
Hình 8: Biểu đồ thị phần của ba nhà mạng trên cả nước tính đến 31/12/2012 49
Hình 9: Biểu đồ thị phần của ba nhà mạng tại khu vực 1 tính đến 31/12/2012 49
Hình 10: Sơ đồ ma trận TOWS cho Vinaphone 56
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách mở
Từ năm 2012, theo số liệu của Bộ Thông tin truyền thông đã là năm “Bùng
nổ về thông tin “ và chưa bao giờ thị trường viễn thông lại sôi động như hiện nay.
Doanh thu của toàn ngành chiếm 9,7% GDP cả nước. Cạnh tranh sẽ mang lại
nhiều lợi ích cho khách hàng và nhà khai thác, nhưng cạnh tranh như thế nào để
có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả của
riêng mình. Thị trường hiện nay đã có nhiều thay đổi, các doanh nghiệp phải có
cái nhìn và định hướng mới cho doanh nghiệp mình.
Hiện nay với cơ chế xóa bỏ độc quyền, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh,
hợp pháp của Nhà nước, các nhà khai thác dịch vụ thông tin di động không nằm
ngoài lộ trình đó. Công ty Dịch vụ Viễn thông VNP, chịu sự quản lí của Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), có trách nhiệm vận hành, khai thác
mạng di động Vinaphone, mạng di động lớn thứ 2 tại Việt Nam hiện nay bước vào
giai đoạn mới : giai đoạn kinh doanh trong một thị trường cạnh tranh khốc liệt.
Trước nhu cầu khách quan đó và cũng là một thành viên của Công ty Dịch vụ viễn
thông tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh
của mạng thông tin di động Vinaphone tại địa bàn khu vực I của Công ty dịch
vụ viễn thông’’ cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung :
Luận văn tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của mạng thông tin di
động Vinaphone tại địa bàn khu vực I của Công ty dịch vụ viễn thông, phát hiện
ra những điểm mạnh, hạn chế cùng các nguyên nhân của nó; từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mạng thông tin di động Vinaphone
tại địa bàn khu vực I của Công ty.
Mục tiêu cụ thể :
Đề tài được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và thực tiễn cạnh tranh
trong lĩnh vực mạng điện thoại di động.

5. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo một số công tình
nghiên cứu có liên quan sau:
- Luận Văn Thạc sỹ (2010) của tác giả Trần Thị Hồng Minh, Nâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty Thông tin Di động ( VMS) trên địa bàn Hà Nội.
Nhóm tác giả trên cơ sở phân tích thực trạng kinh doanh của Công ty VMS để đề
xuất các nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các dòng sản phẩm của
Công ty.
4 - Luận văn Thạc sỹ (2011) của tác giả Vũ Thị Thắm, Nâng cao năng lực
cạnh tranh của Tổng công ty Viễn thông Quân đội trong bối cảnh hội nhập Kinh
tế Quốc tế. Thành công của Luận văn này là đã đề cập đến những mặt mạnh và
những điểm còn hạn chế trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh
trong nước của TCT Viễn Thông Quân đội.
- Luận án Tiến Sỹ (2011) của tác giả Vũ Anh Thư, Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tập đoàn VNPT Trong điều kiện hội nhập. Luận án là một công trình nghiên
cứu toàn diện bối cảnh của tập đoàn VNPT trong điều kiện thị trường Viễn thông và
Thông tin di động được mở cửa. Từ đó đề xuất những giải pháp mang tính định hướng
cho Tập đoàn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cũng như những khuyến
nghị cho Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Các công trình trên đã cho thấy một thị trường khá sôi động của các công
ty tham gia vào thị trường Viễn thông ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào
nghiên cứu về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vinaphone trên địa bàn
khu vực 1. Luận văn không có sự trùng lắp về nội dung.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh có tính
quyết định đến sự thành bại của mọi doanh nghiệp. Muốn tồn tại và phát triển thì
mỗi doanh nghiệp đều phải có năng lực cạnh tranh.

- Theo K.Marx: “ cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [9]
- Cuốn từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh
đua, sự kình địch giữa các nhà khinh doanh trên thị trường, nhằm giành cùng một
loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [22]
- Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD – Oganization of Economic Cooperation and Development)
cho rằng, “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc
tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
- Theo cuốn kinh tế học của P. Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng, thị trường”. [4]
- Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu
là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp, trong việc dành một số nhân tố sản xuất
hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục
tiêu kinh doanh cụ thể”. [23]
1.1.1.2. Năng lực cạnh tranh
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái
niệm năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh … Tuy nhiên, các khái niệm này là một
khái niệm phức hợp, được xem xét ở các mức độ khác nhau như: năng lực cạnh
tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm và dịch
6 vụ. Một số tác phẩm như Pual Krugman phê phán khái niệm năng lực cạnh tranh
của quốc gia, theo Kurgman không có quốc gia nào phá sản vì năng lực cạnh tranh
kém, nhưng doanh nghiệp có thể bị phá sản vì không cạnh tranh được trên thị
trường. Do đó, việc nhận biết và phân loại những khái niệm năng lực cạnh tranh
khác nhau là rất cần thiết, nếu muốn hiểu một các đầy đủ khái niệm năng lực cạnh


- Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh, nhằm giành lấy
thị trường và khách hàng về doanh nghiệp của mình.
- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường, nhằm dành
được những ưu thế hơn cùng một loại sản phẩm dịch vụ, hoặc cùng một loại khách
hàng về phía mình so với các đối thủ cạnh tranh.
Dưới thời kỳ CNTB phát triển vượt bậc, K.Marx đã quan niệm rằng
“ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản
nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để
thu được lợi nhuận siêu ngạch”. [9]
Ngày nay, dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô
của nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi, nhưng về bản chất nó không hề
thay đổi : Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức,
các doanh nghiệp, nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
kinh doanh, để đạt được mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó.
- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu
tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội.
- Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận
động theo cơ chế thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra
càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông, thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết
quả cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị
trường, trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa. Cạnh
tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn, trong việc nghiên
cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả và các dịch vụ sau bán hàng, nhằm
tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại
nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh
- Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân:
Canh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã

Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại ,
tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của
mình, để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản
phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao.
Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản
lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng
vững mạnh và phát triển hơn, nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường.
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền
kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng, nên việc nâng cao khả năng
9 cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế
thị trường.
Cạnh tranh là quy luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị
trường là kinh tế TBCN. Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt Nam
đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
XHCN có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà nước làm
chủ đạo. Dù ở bất kỳ thành phần kinh tế nào thì các doanh nghiệp cũng phải vận
hành theo qui luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Nếu doanh nghiệp nằm
ngoài quy luật vận động đó thì tất yếu sẽ bị loại bỏ, không thể tồn tại. Chính vì
vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình,
chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống cho mình.
1.1.3 Hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Khi đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần lưu ý các khía cạnh sau:
Phải lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực.
Thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng. Khi nói năng lực cạnh tranh là bao hàm ý so sánh với các đối thủ
cạnh tranh của doanh nghiệp. Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng, doanh
nghiệp phải có được thực lực, được thể hiện bằng các lợi thế so sánh với các đối

1.1.3.3 Giá cả sản phẩm
Giá bán của một sản phẩm, mà số tiền mà người bán có thể nhận được của
người mua, để đổi lại cho người mua quyền sử dụng và sở hữu sản phẩm. Khách
hàng đôi khi chú trọng đến các chi phí khác hơn là chỉ chú trọng tới mức giá mà
họ bỏ ra khi mua sản phẩm.
Tầm quan trọng của giá:
Đối với nền kinh tế, giá là yếu tố điều phối cơ bản nền kinh tế, ảnh hưởng
đến việc bố trí các tài lực trong nền kinh tế. (Sản xuất, tài nguyên)
Đối với Công ty, giá ảnh hưởng đến nhu cầu, ảnh hưởng tới vị thế cạnh tranh
trên thị trường, ảnh hưởng tới thu nhập của công ty. Vì giá cả thường đi đôi với
chất lượng nên trước khi định giá, doanh nghiệp phải trả lời được câu hỏi: Với giá
đó thì người mua được gì ?
1.1.3.4 Kênh phân phối
Phân phối là cách thức đem sản phẩm, dịch vụ đến tay người tiêu dùng qua
một hệ thống gọi là kênh phân phối. Nó là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại. Vì trong
kinh doanh hiện đại, sản phẩm và giá cả là hai yếu tố quyết định những giá trị cơ
bản dành cho khách hàng ở khâu sản xuất, còn phân phối lại đem lai cho khách
hàng những giá trị gia tăng, những lợi ích hữu hình và vô hình cho khách hàng
11 (thời gian, sức lực, tiền bạc,…). Mặc dù giá trị này không chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số giá trị dành cho khách hàng, nhưng lại quyết định sự hài lòng của
khách hàng.
1.1.3.5 Vị thế tài chính
Vị thế tài chính của một doanh nghiệp, có tầm quan trọng cao trong việc
nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng nguồn tài chính mạnh cần
được xem xét qua các chỉ số: Tỉ suất lợi nhuận, vòng quay vốn, dữ trữ và hiệu
suất lợi tức cổ phần, các hệ số thanh khoản, các hệ số hoạt động …

Marketing cao mà doanh nghiệp không đạt được mục tiêu doanh thu đề ra thì hãy
xem xét lại chiến lược đầu tư vào Marketing đã đúng hay chưa, hay có thể đầu tư
vào chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài, như đầu tư vào nghiên cứu phát triển…
1.1.3.8 Trình Độ Lao Động
Việc phân tích yếu tố này bao hàm các yếu tố về năng suất, kỹ năng lao
động, đào tạo và các kế hoạch tuyển dụng, điều kiện làm việc và tinh thần của
nhân viên… Điểm hạn chế sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là sự yếu kém về
kỹ năng lao động, bộ máy cồng kềnh và thiếu năng động. Con người là yếu tố
quyết định đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt trong việc cung ứng các
dịch vụ cho khách hàng hiệu quả. Những tác nhân như sự thân mật , sự đáp ứng
kịp thời , sự nhanh chóng trong thủ tục xử lý đơn hàng , sự thanh toán thành thạo,
kỹ năng biểu cảm, sự nhiệt tình và bình tĩnh của bộ máy nhân sự là chìa khóa cho
sự thành công của doanh nghiệp trong cạnh tranh.
1.1.4 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh
Như đã đề cập ở trên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp.
Thông thường, người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại doanh
nghiệp như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường , sản
phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động , trình độ công nghệ và lao động tuy
nhiên, những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bên ngoài ở
trong nước và quốc tế. Vì vậy, khi phân tích tới các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng
tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, phải đề cập tới các nội dung sau:
1.1.4.1 Các Nhân tố quốc tế
- Các nhân tố thuộc về chính trị: Người ta cho rằng, tổ chức chính trị quan
trọng nhất là nhà nước chủ quyền, do nó có khả năng phát hành tiền tệ, đánh thuế
và định ra các luật lệ trong một quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số
khía cạnh chính trị quan trọng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, tác động không
nhỏ đến môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, như:
+ Mối quan hệ giữa các chính phủ. Khi mối quan hệ trở nên thù địch, thì sự
mâu thuẫn giữa hai chính phủ có thể hoàn toàn bị phá hủy các mối quan hệ kinh

nền kinh tế suy thoái, chỉ tiêu của đại bộ phận dân cư giảm, nhu cầu về hàng hóa
dịch vụ giảm, do đó sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh và tạo ra nhiều nguy cơ đối
với các doanh nghiệp. trong thực tế, suy thoái kinh tế thường gây ra các cuộc
chiến tranh về giá cả trong các ngành hoạt động trong giai đoạn bảo hòa.
+ Lãi suất: Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp thiếu vốn phải
14 đi vay vốn ngân hàng. Khi lãi suất của ngân hàng lên xuống đều ảnh hưởng đến
chi phí của hộ, năng lực cạnh tranh của họ sẽ bị ảnh hưởng.
+ Tỷ giá hối đoái: Nhất là trong nền kinh tế mở, tỷ giá có ảnh hưởng rất
nhiều đến các doanh nghiệp. Nếu đồng nội tệ lên giá các doanh nghiệp trong nước
sẽ giảm năng lực cạnh tranh ở thị trường nước ngoài và ngược lại. Khi đồng nội tệ
lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, hàng hóa trong nước sẽ bị cạnh tranh nhiều
hơn, các doanh nghiệp trong nước sẽ khó khăn hơn vì phải cạnh trnh với hàng hóa
nhập khẩu.
+ Lạm phát: Lạm phát làm giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và gây ra nhiều
biến động về tỷ giá hối đoái. Nếu lạm phát cao, doanh nghiệp không thể dự đoán
trước tương lai điều gì sẽ xẩy ra, nên thường hạn chế đầu tư vào giai đoạn này vì
giá trị sinh lời trong tương lai có thể không bù đắp đắp được đầu tư hiện tại.
+ Các nhân tố về chính trị, pháp luật: một thể chế chính trị rõ ràng và ổn
định sẽ đem lại thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp. Ví dụ như chính sách
về thuế, chính sách về xuất nhập khẩu, các điều luật thương mại , an ninh tật tự trong
nước có ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
+ Trình độ khoa học công nghệ: Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa
quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên năng lực cạnh tranh của các sản
phẩn trên thị trường là giá bán và chất lượng. Khoa học công nghệ tác động đến
chi phí của doanh nghiệp do đó nó tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên trên thế giới hiện nay cạnh tranh về giá đang giảm mà chuyển sang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status