Nghiên cứu các chỉ số lipid và nồng độ malondialdehyd (MDA) huyết thanh trong bệnh lý võng mạc đái tháo đường typ II - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
============00============
C
C
A
A
O
OV
V
Ũ
ŨT
T
H
H
Ư
Ư


Á
C
CC
C
H
H

ỈS
S

ỐL
L
I
I
P
P
I
I
D
D


L
O
O
N
N
D
D
I
I
A
A
L
L
D
D
E
E
H
H
Y
Y
D
D(
(
M
M
D

HT
T
R
R
O
O
N
N
G
GB
B


N
N
H
HL
L
Ý
Ý


H
Á
Á
O

Đ
Ư
Ư


N
N
G
GT
T
Y
Y
P
PI
I
I

C
A
A
O
OV
V
Ũ
ŨT
T
H
H
Ư
Ư
N
N
G
G
H

ỈS
S

ỐL
L
I
I
P
P
I
I
D
DV
V
À
ÀN
N


L
D
D
E
E
H
H
Y
Y
D
D(
(
M
M
D
D
A
A
)
)

H
H
U

GB
B


N
N
H
HL
L
Ý
ÝV
V
Õ
Õ
N
N
G
GM


N
N
G
GT
T
Y
Y
P
PI
I
I
I LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Chuyên ngành : Hoá Sinh
Mã số: 60.72.04 Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS. Nguyễn Thị Hà
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cám ơn tới: Ban
Giám hiệu trường Đại học Y Hà nội, Ban Giám đốc BV Mắt Trung ương,
Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Hóa sinh trường Đại học Y Hà nội,
Khoa Xét nghiệm Tổng hợp BV Mắt Trung ương đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hà, nguyên
Phó Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà nội, người Thầy đã tận tình chỉ bảo và
dìu dắt tôi suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trong hội đồng chấm luận văn,
những người đã đánh giá công trình nghiên cứu của tôi một cách công minh.
Các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô sẽ là bài học cho tôi trên con đường
nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cám ơn Ths Vũ Thị Minh Thu, Trưởng khoa Xét
nghiệm BV Mắt Trung ương, chị Nguyễn Ngọc Diệp, anh Bùi Quang Long,
những người anh, người chị đã thật sự động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều
trong cuộc sống cũng như trong công việc để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các bác sỹ khoa Đáy mắt, phòng khám, các
đồng nghiệp trong khoa XN BV Mắt Trung ương, cán bộ BM Hóa sinh trường
ĐHY Hà nội và những người thân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, từ trái tim mình tôi gửi lời biết ơn tới chồng tôi, các con bé
bỏng của tôi và bạn tôi - TS Trần Thị Chi Mai những người đã tiếp thêm cho
tôi nguồn động viên quý giá và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Hà nội, ngày 7 tháng 10 năm 2008
Cao Vũ Thư
MỤC LỤC

Các từ và cụm từ viết tắt
Đặt vấn đề……………………………………………………
Chương 1: Tổng quan tài liệu ……………………………………
1.1. Lipid và lipoprotein máu……………………………………………

9
10
11
12
12
13
14
16
16
19
20
20
20
23
25
26
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu………………….
2.1. Đối tượng nghiên cứu …………………… ……………………….
2.2. Chất liệu nghiên cứu ……………………………………………….
2.3. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………
2.4. Các chỉ số nghiên cứu và kỹ thuật định lượng ………
2.5. Điều kiện xác định biến chứng rối loạn lipid huyết thanh
2.6. Xử lý kết quả nghiên cứu…………………………………………
Chương 3: Kết quả nghiên cứu…………… ………………………
3.1. Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu……………………………
3.2. Nồng độ glucose máu của các nhóm nghiên cứu……………… ….
3.3. Nồng độ lipid huyết thanh của các nhóm nghiên cứu………………
3.4. Nồng độ MDA huyết thanh…………………………………………
3.5. Nồng độ creatinin và urê huyết thanh………………………………
3.6. Kết quả protein niệu………………………………………………

51
56
56
57
58
64

67
70
71C
C
Á
Á
C
CT
T

ỪV
V
À
À

T
T
DNA : Deoxynucleic acid
ĐTĐ : Đái tháo đường
CE : Cholesterol este
CM : Chylomicron
DCCT : Diabetic Control and Complication Trial
(Thử nghiệm kiểm soát đái tháo đường và biến chứng)
ETDRS : Early Treatment Diabetic Retinopathy Study
(Nghiên cứu điều trị sớm võng mạc đái tháo đường)
FC : Free cholesterol (Cholesterol tự do)
GP
x
: Glutathion peroxidase
HDL : High density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng cao)
HDL-C : High density lipoprotein- Cholesterol
(Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng cao)
LDL : Low density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng thấp)
LDL- C : Low density lipoprotein- Cholesterol
(Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng thấp)
LP : Lipoprotein
LPL : Lipoprotein lipase
MDA : Malondialdehyd
POL : Peroxidation lipid (Peroxy hoá lipid)
RLCH : Rối loạn chuyển hoá
SOD : Superoxid dismutase
TG : Triglycerid

CL
L


C
CB
B


N
N
G
GV
V
À
ÀB
B
I

Biểu đồ 3.8: Nồng độ MDA của các nhóm nghiên cứu…………………
Biểu đồ 3.9: Nồng độ MDA TB của nhóm có và không RLCH lipid
Biểu đồ 3.10. Mối tương quan giữa nồng độ MDA và NĐ glucose máu.
Biểu đồ 3.11. Mối tương quan giữa nồng độ MDA và nồng độ TC……
Biểu đồ 3.12. Mối tương quan giữa nồng độ MDA và nồng độ TG……
Biểu đồ 3.13. Mối tương quan giữa nồng độ MDA và nồng độ HDL-C
Biểu đồ 3.14. Mối tương quan giữa nồng độ MDA và nồng độ LDL-C
37
40
41
46
46
49
50
59
61
66
38
39
40
42
43
44
45
47
48
51
52
53
54

nhanh trong những năm gần đây. Theo điều tra dịch tễ học của Tạ Văn Bình
và cộng sự năm 2003, tỷ lệ ĐTĐ cao nhất ở khu vực thành phố là 4,4% và tỷ
lệ ĐTĐ chung cho cả nước là 2,7% [4, 6]. Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ
người mắc ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ typ 2, một typ bệnh phổ biến nhất, làm cho
ĐTĐ trở thành một vấn đề sức khoẻ xã hội. Bởi vậy ĐTĐ đã được các nhà
khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu bệnh căn, bệnh sinh, các đặc điểm
lâm sàng và cận lâm sàng cùng các biến chứng của bệnh; nhằm mục đích
phòng ngừa, điều trị bệnh và các biến chứng của bệnh một cách có hiệu quả
nhất.
Bệnh võng mạc đái tháo đường (VMĐTĐ) là nguyên nhân hàng đầu
gây ra mù loà ở bệnh nhân ĐTĐ tại các nước phát triển [1, 40, 41, 44]. Ở
Anh, tỷ lệ bệnh VMĐTĐ chiếm khoảng 30% trong số người bệnh ĐTĐ nằm
viện. Ở Mỹ, bệnh VMĐTĐ là một trong bốn nguyên nhân thường gặp gây mù
lòa – và 85% người ĐTĐ bị mù do tổn thương võng mạc [34, 40, 41, 44].
Bệnh VMĐTĐ là một biến chứng vi mạch do hậu quả của nhiều yếu tố
phối hợp; một trong những yếu tố đó là do màng đáy của mạch máu bị dày
lên, chứa nhiều chất lắng đọng như protein, lipoprotein. Các lipoprotein
dường như thoát ra từ các vi phình mạch, có thể kết tụ lại dưới dạng xuất tiết
cứng nằm ở lớp rối sâu của vùng võng mạc bệnh lý [1, 21]. Nhiều nghiên cứu
của nước ngoài cho thấy, có thể do sự thay đổi độ nhớt của huyết tương và

1
máu toàn phần liên quan đến rối loạn chuyển hoá lipid ở bệnh nhân ĐTĐ là
căn nguyên của sự lắng đọng này [53, 85].
Ở bệnh nhân ĐTĐ còn có sự gia tăng các stress oxy hoá [77]. Vai trò
của gốc tự do trong bệnh sinh các biến chứng của bệnh ĐTĐ đã được đề cập.
Tuy nhiên bệnh sinh của bệnh VMĐTĐ còn chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu các chỉ số
lipid và nồng độ malondialdehyd (MDA) huyết thanh trong bệnh lý võng
mạc đái tháo đường typ II” với hai mục tiêu:

Do không tan trong nước nên lipid được vận chuyển trong máu dưới
dạng kết hợp với các protein. Các acid béo tự do được vận chuyển chủ yếu
bởi albumin, còn các lipid khác được được vận chuyển dưới dạng các phức
hợp lipoprotein (LP) [14, 67, 90].
1.1.1. Triglycerid [14].
Triglycerid có 2 nguồn gốc: ngoại sinh (thức ăn) và nội sinh do tổng
hợp ở gan. TG ngoại sinh được tổng hợp bởi tế bào ruột, và vận chuyển dưới
dạng chylomicron qua đường bạch mạch để vào hệ tuần hoàn máu. Dưới tác
dụng của lipoprotein lipase (LPL) có ở bề mặt tế bào nội mô, chylomicron
được thuỷ phân, TG được đưa vào gan hoặc được dự trữ ở các tế bào mỡ. Ở
gan, chylomicron được phân huỷ bởi triglycerid lipase (TGL), một phần nhỏ
TG được gan thu nhận và thoái hoá ở gan.
Triglycerid nội sinh được gắn với apolipoprotein, sau đó được giải
phóng vào tĩnh mạch trên gan dưới dạng LP có tỷ trọng rất thấp (Very low
density lipoprotein - VLDL). Hàm lượng TG máu, ở người bình thường dao
động từ 0,6 - 1,9 mmol/L. Tuổi, giới tính, lối sống, chế độ ăn có ảnh hưởng
đến nồng độ TG máu [27].
1.1.2. Cholesterol.
Cholesterol là thành phần cấu trúc của màng tế bào, tiền chất của
hormon steroid và các acid mật. Cũng như TG, cholesterol có 2 nguồn: ngoại
sinh và nội sinh. Chế độ ăn cung cấp 100 mg đến 700 mg cholesterol mỗi
ngày; 500 mg đến 1000 mg cholesterol được tổng hợp ở gan và các tổ chức

3
khác [70]. Khác với TG, nhân sterol của cholesterol không thoái hoá thêm
nữa, vì vậy cần có quá trình vận chuyển cholesterol từ các mô ngoại vi trở về
gan, tại đây cholesterol được bài tiết nguyên dạng trong mật hoặc sau khi
được chuyển hoá thành axít mật [67, 84, 90].
Nồng độ cholesterol toàn phần (total cholesterol-TC) huyết thanh
bình thường là 4 - 5,6 mmol/L. Sau 40 tuổi, cholesterol tăng khoảng 0,04

TG, 2-6% PL, 2-4% CE, 1% FC và 1-2% apoprotein. Chức năng chính của
CM là vận chuyển TG ngoại sinh. CM theo máu tới mô mỡ và cơ, tại đó TG
được thuỷ phân nhờ enzym LPL khu trú trên bề mặt tế bào nội mạc mao
mạch. CM mất TG trở thành CM tàn dư giàu cholesterol, được giữ lại ở tế bào
gan nhờ các receptor đặc hiệu. CM chỉ có mặt trong thời gian ngắn ở huyết
tương sau bữa ăn giàu mỡ, nó làm cho huyết tương có màu đục, trắng sữa.
Huyết thanh của người bình thường khi đói không có CM [27, 67, 69, 70].
1.1.3.2. Very Low Density Lipoprotein.
Lipoprotein có tỷ trọng rất thấp (VLDL) được tạo thành ở gan (90%)
và một phần ở ruột non (10%), vào máu đến các mô ngoại vi. VLDL có
đường kính dao động từ 40 - 80 nm (trung bình: 43 nm), tỷ trọng từ 0,95-
1,006 g/ml. Giống như CM, VLDL cũng giàu TG.
Chức năng chính của VLDL là vận chuyển TG nội sinh. Tại các mô
TG sẽ bị thuỷ phân dưới tác dụng của LPL, khi đó VLDL chuyển thành
lipoprotein tỷ trọng trung gian (IDL: intermediate density lipoprotein). Hơn
50% IDL được gan thu nhận, phần IDL còn lại chuyển thành LDL. Một phần
VLDL và IDL được gan thu nhận, không qua sự biến đổi thành LDL. Bình
thường có rất ít IDL lưu hành trong máu [27, 70].
1.1.3.3. Low Density Lipoprotein [27, 70].
Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) là loại lipoprotein chứa nhiều
cholesterol nhất. Khoảng 50% TC của huyết thanh được LDL vận chuyển.
LDL được coi như một dạng thoái hoá của VLDL sau khi mất đi TG, qua
dạng trung gian IDL. LDL chịu trách nhiệm vận chuyển cholesterol, chủ yếu
là CE từ gan tới tổ chức ngoại vi. LDL được chuyển vào trong tế bào nhờ

5
recepter đặc hiệu ở màng bào tương tế bào và bị thoái hoá trong lysosom, giải
phóng cholesterol tự do. Đại thực bào được tạo ra từ các monocyte trong máu
có thể bắt giữ LDL qua receptor thu dọn. Quá trình này được tăng cường khi
LDL tăng cao và bị biến đổi (LDL bị oxy hoá, glycosyl hoá). Sự bắt giữ LDL

Vì vậy, HDL là yếu tố bảo vệ chống xơ vữa động mạch [33, 66, 67,
84, 90]. 6
Bảng 1.1. Phân loại và đặc điểm của các lipoprotein.
Lipoprotein Tỷ trọng
Đường kính
trung bình
(nm)
Nguồn gốc
Chức năng
chính
CM
< 0,95 500 Ruột
Vận chuyển
TG ngoại
sinh
VLDL
0,96-
1,006
43 Gan
Vận chuyển
TG nội sinh
IDL
1,007-
1,009
27
Sản phẩm chuyển
hoá của VLDL

LDL
8 37 10 20 23
HDL
2 15 4 24 55
(David L. Nelson, Michael M Cox - Lehninger Principles of Biochemistry,
third edition 2000) 7
1.1.4. Phân loại rối loạn chuyển hoá lipid.
* Phân loại của Fredrickson [91].
Bảng 1.3. Phân loại rối loạn lipid máu theo Fredrickson có bổ xung.
Typ I IIa IIb III IV V
Cholesterol
↑ ↑↑ ↑↑ ↑
⊥ / ↑

Triglycerid
↑↑↑ ⊥ ↑↑ ↑↑ ↑↑ ↑↑↑
Lipoprotein ↑CM ↑↑LDL
↑LDL
↑VLDL
↑IDL ↑VLDL
↑VLDL
↑CM
Chú thích:
⊥=
bình thường,



THỂ
1.2.1. Gốc tự do và các dạng oxy hoạt động [11, 13, 28, 72].
Gốc tự do (free radical) là những nguyên tử, những nhóm nguyên tử
hay phân tử mà lớp điện tử ngoài cùng của chúng có chứa điện tử không cặp
đôi (điện tử cô độc). Chúng có thể mang điện tích dương, điện tích âm hoặc
không mang điện.
Superoxyd, hydrogen peroxyd, gốc hydroxyl và oxy đơn bội được
xem là các dạng oxy hoạt động điển hình, nhưng theo một nghĩa rộng hơn thì
các dạng khác như gốc alkoxyl, gốc peroxyl, lipid hydroperoxyd, protein
hydroperoxyd cũng được coi là các dạng oxy hoạt động.
Các dạng oxy hoạt động bao gồm gốc tự do có oxy luôn được sản
sinh trong các hoạt động sinh lý của cơ thể sống. Nguồn sinh gốc tự do gắn
liền với các chuyển hoá tế bào như các phản ứng oxy hoá khử của tế bào
trong quá trình thực bào, trong các phản ứng khử độc của cơ thể bằng cơ chế
oxy hoá, đặc biệt trong quá trình hô hấp tế bào. Ngoài ra gốc tự do còn hình
thành trong cơ thể do những tác nhân của môi trường như bức xạ và quá trình
chuyển hoá các chất dị sinh (xenobiotic). Anion superoxyd (O
2

-
) được tạo
nên trong quá trình hô hấp tế bào là gốc tự do đầu tiên, từ đó sinh ra hàng loạt
các dạng oxy hoạt động khác như hydro peroxyd (H
2
O
2
) gốc hydroxyl (HO

),
oxy đơn bội (


,
1
O
2
; dạng
proton của O
2
•-
là HO
2
và các phức hợp khác nhau của oxy với sắt có khả năng
khơi mào POL, hình thành các gốc peroxyl (LOO

). Gốc peroxyl có khả năng
lấy đi H từ một phân tử acid béo và gốc alkyl mới được hình thành có thể tác
dụng với O
2
sinh ra một gốc peroxyl khác, cứ thế phản ứng dây chuyền được
nhân lên mãi. Gốc peroxyl được tạo thành có hai số phận: hoặc tạo
lipidhydroperoxyd, hoặc tạo endoperoxyd. Lipidhydroperoxyd có thể bị phân
huỷ bởi các ion kim loại chuyển tiếp và sinh ra các sản phẩm trung gian có
hoạt tính thứ cấp trong quá trình peroxy hoá. Sự chia cắt các liên kết trong
endoperoxyd dẫn đến sự hình thành hoặc MDA hoặc pentan, đây là những sản
phẩm của POL.

10
Hiện nay người ta thấy quá trình peroxy hoá lipid là nguyên nhân của
nhiều bệnh: Bệnh do phóng xạ, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch máu, bệnh do
các stress, thiểu năng động mạch vành, sự phát triển của khối u…[28].

chắn thứ hai ức chế sự khởi phát hoặc dập tắt phản ứng lan truyền của gốc tự
do. Các enzym chống oxy hoá như phospholipase, protease, enzym sửa chữa
transferase hoạt động như hàng rào bảo vệ thứ ba. Hơn nữa, chất chống oxy
hoá thích hợp được tạo ra và vận chuyển đến đúng vị trí, đúng thời điểm với
nồng độ thích hợp tại nơi stress oxy hoá xảy ra- cơ chế thích ứng này cũng
đóng vai trò trong hệ thống bảo vệ.
Có thể phân loại các chất chống oxy hoá theo nhiều cách, dưới đây
trình bày cách phân loại theo bản chất enzym hoặc không enzym.
1. 2.3.1. Hệ thống chống oxy hoá có bản chất enzym [2, 12, 13, 28].
Loại này tồn tại chủ yếu trong tế bào. Ở huyết tương, dịch các mô,
dịch não tuỷ, bao hoạt dịch… hoạt động các enzym chống oxy hoá rất thấp.
Hệ thống này gồm có: Superoxyd dismutase (SOD), Catalase, Glutathion
peroxydase (GPx).
1.2.3.2. Hệ thống chống oxy hoá có bản chất không enzym:
Hệ thống này bao gồm:
Nhóm các polyphenol: Gồm vitamin A, vitamin E, vitamin C,
coenzym Q và các bioflavonoid.
Nhóm các thiol: Điển hình là Glutathion.
Nhóm các phối tử của sắt và đồng: Thuộc nhóm này có Transferin,
Lactoferin và Ceruloplassmin.

1.3. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.3.1. Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO-1997) và hiệp hội ĐTĐ Mỹ (America
Diabetes Association – ADA-1997) định nghĩa: “Bệnh ĐTĐ biểu hiện tăng
glucose máu và kéo theo những rối loạn chuyển hoá glucid, lipid và protein
do hậu quả của hiện tượng thiếu hụt tuyệt đối hay tương đối sự bài tiết insulin
hoặc giảm tác dụng của insulin” [18, 30].

12


13
- Khả năng xuất hiện ceton niệu.
- Phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để đảm bảo sự sống.
- Sự có mặt của những dấu hiệu tự miễn trong huyết thanh. Ví dụ: kháng thể
kháng GAD, kháng thể kháng insulin…
- Thường xuất hiện ở người trẻ tuổi.
1.3.2.2. ĐTĐ typ 2 .
ĐTĐ typ 2 (hay còn gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin - non insulin
dependent diabetes- NIDDM) chiếm xấp xỉ 90-95% trong các trường hợp
bệnh ĐTĐ [34], ở Việt Nam là 91,2% [3, 4, 5, 6].
Tính chất đặc trưng:

- Nồng độ insulin máu bình thường hoặc tăng.
- Bệnh khởi phát từ từ, triệu chứng thường là ôn hoà.
- Không xuất hiện ceton niệu.
- Không phụ thuộc insulin ngoại sinh.
- Thường xuất hiện ở người > 40 tuổi, thể trạng béo phì.
1.3.2.3. Các typ khác của ĐTĐ.
* ĐTĐ liên quan đến thiếu dinh dưỡng (ĐTĐ nhiệt đới) [8] : Bệnh bắt đầu
từ khi còn trẻ (dưới 30 tuổi), do chế độ ăn thiếu thốn, đặc biệt thiếu protein;
nồng độ glucose máu khá cao; không có biến chứng hôn mê nhiễm toan
ceton.
* ĐTĐ kết hợp với một số bệnh và hội chứng [8]: bệnh về tuyến tuỵ (viêm
tuỵ mạn, ung thư tuỵ, cắt tuỵ); bệnh nội tiết (Hội chứng Cushing, Basedow, U
tuỷ thượng thận); dùng liều cao và kéo dài một số thuốc (corticoid, thuốc lợi
tiểu thuộc nhóm thiazit…).
* ĐTĐ ở phụ nữ có thai: là ĐTĐ kết hợp với sự tăng các biến chứng lúc sinh
đẻ và sự kết hợp với nguy cơ của ĐTĐ trong những năm sau khi đẻ [17].
1.3.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

trong máu tăng có thể là do kết quả của sự rối loạn bài tiết insulin (do tế bào β
bị tổn thương) hoặc do giảm tác dụng của insulin (hiện tượng kháng insulin).

15
ĐTĐ typ 2 được xem xét là do cả tế bào β hoạt động không bình
thường và sự xuất hiện kháng insulin. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn gây
tranh cãi [18]. Sinh bệnh học ĐTĐ typ 2 diễn tiến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: mặc dù nồng độ glucose trong máu vẫn ở mức bình
thường, nhưng có hiện tượng kháng insulin vì mức insulin tăng cao hơn mức
bình thường trong máu.
- Giai đoạn 2: tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần và xuất
hiện tăng glucose máu sau bữa ăn.
- Giai đoạn 3: sự kháng insulin không thay đổi, nhưng bài tiết insulin
suy giảm và gây tăng glucose máu lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
1.3.4. Các biến đổi chuyển hoá trong bệnh ĐTĐ [21, 27].
Trong bệnh ĐTĐ, do nồng độ insulin giảm nên sự hấp thu glucose vào
trong tế bào giảm, dẫn đến tăng nồng độ glucose máu. Khi nồng độ glucose
máu tăng cao quá khả năng tái hấp thu của ống thận sẽ xuất hiện glucose
trong nước tiểu. Sự đào thải nhiều glucose làm cạn kiệt glucid dự trữ nên cơ
thể phải tăng cường thoái hoá các chất lipid và protein để cung cấp năng
lượng cho cơ thể, và hậu quả là trọng lượng cơ thể giảm.
Sự hấp thu glucose từ máu vào trong tế bào giảm sẽ ức chế con đường
đường phân (thoái hoá glucid), tăng quá trình phân ly glycogen thành glucose,
tăng quá trình tổng hợp glucose từ các sản phẩm không phải glucid. Các quá
trình này gây tăng sản phẩm pyruvat và acetyl CoA. Acetyl CoA này không
vào được chu trình Krebs mà chuyển hoá thành cholesterol và các thể cetonic
dẫn đến tăng nồng độ cetonic trong máu và nước tiểu có thể cetonic. Điều này
sẽ gây nên tình trạng nhiễm toan máu.
1.3.5. Rối loạn chuyển hoá lipid trong ĐTĐ.
1.3.5.1. Bệnh sinh về bất thường lipid trong ĐTĐ [21, 63, 70, 73].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status