Nghiên cứu các chỉ số sinh lý hồng cầu và những đột biến gen G6PD hồng cầu ở người thiếu hụt G6PD trên một số dân tộc tại Việt Nam - Pdf 13



1

Đặt Vấn đề

* Tính cấp thiết của đề tài
Trong hồng cầu, G6PD là một enzym xúc tác trong phản ứng tạo
ra NADPH - có vai trò chống oxy hóa hồng cầu. Nếu thiếu hụt G6PD
sẽ dẫn tới tình trạng oxy hóa globin và protein cấu trúc của hồng cầu,
gây vỡ hồng cầu. Bệnh thiếu hụt G6PD thờng không thể hiện bằng
các triệu chứng rầm rộ, nhng luôn có nguy cơ bùng phát nghiêm
trọng khi có tác động của một số yếu tố có tính oxy hoá. Khi đó bệnh
sẽ tiến triển với các triệu chứng vỡ hồng cầu, có thể dẫn đến những
biến chứng nguy hiểm nhất là ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai.
Những nghiên cứu về G6PD đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác
nhau nh đặc điểm lý hoá, các dạng phân tử của G6PD. Tuy nhiên
một số nghiên cứu về cơ sở phân tử của bệnh thiếu hụt G6PD mới chỉ
bắt đầu đợc tiến hành trong những năm gần đây. ở Việt Nam cho
tới nay mới có một số ít công trình công bố về cơ sở phân tử của bệnh
thiếu hụt G6PD nh của Nguyễn Thị Ngọc Dao, Trần Thị Chính và
cộng sự. Những nghiên cứu về vấn đề này trên các dân tộc ít ngời ở
miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn quá ít.
Do đó việc nghiên cứu các chỉ số sinh lý máu, tỉ lệ thiếu hụt
G6PD và phát hiện những đột biến gen G6PD ở bệnh nhân thiếu hụt
G6PD trên một số dân tộc ngời Việt nam là rất có ý nghĩa và cần
thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài:
Nghiên cứu các chỉ số sinh lý hồng cầu và những đột biến
gen G6PD hồng cầu ở ngời bị thiếu hụt G6PD trên một số dân tộc
tại Việt Nam.
* Mục tiêu nghiên cứu

không đồng nhất và đa dạng phân tử, có cấu trúc polymer, phân tử
đợc cấu tạo bởi nhiều monomer với cấu trúc bậc bốn rất phức tạp.
G6PD xúc tác trong con đờng chuyển hoá pentosephosphat, tạo ra
NADPH có vai trò trong chống oxy hóa ở hồng cầu.
1.3. Bệnh thiếu hụt G6PD trong hồng cầu.
Đến nay đã có những hiểu biết đáng kể về bệnh thiếu hụt G6PD.
Hoạt độ G6PD hồng cầu thay đổi theo từng dân tộc và theo vùng địa lý. 3

Các nớc phát triển đã tiến hành nghiên cứu trên diện rộng để xác
định nhanh sự thiếu hụt G6PD ở trẻ mới sinh. ở Việt Nam,
Nguyễn Hữu Chấn đã nghiên cứu về các tính chất hoá sinh của G6PD
hồng cầu. Việt Nam có tỉ lệ thiếu hụt G6PD từ 0,3ữ9,0%. Những
ngời nghiên cứu đầu tiên về tỉ lệ thiếu hụt G6PD ở Việt Nam là Ngô
Gia Thạch, Hoàng Văn Sơn, Đoàn Hạnh NhânTỉ lệ thiếu hụt G6PD
ở một số dân tộc nh sau: Mờng (31%), Thổ (22,6%), Thái (19,3%),
Dao (9,7%), Tày là 17,7%, Raclei là 2,92% và rất thấp ở dân tộc
Hmông (0,3%). Hoạt độ G6PD (đơn vị IU/gHb/37
o
C) ở dân tộc
Kinh, Nguyễn Hữu Chấn công bố (năm 1992) là 9,011,12 ở nam và
9,051,04 ở nữ, Hoàng Hạnh Phúc công bố (năm 1999) là 9,991,79.
* Sinh bệnh học phân tử, triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán thiếu
hụt G6PD hồng cầu.
Thiếu hụt G6PD là một bệnh di truyền gen lặn liên kết giới tính,
gen G6PD có 13 exon và 12 intron, dài khoảng 100 kb nằm trên
nhiễm sắc thể X không có alen tơng ứng trên nhiễm sắc thể Y, do
đó bệnh không di truyền từ bố sang con trai.

đây cũng đã đợc công bố.

C
C
h
h


ơ
ơ
n
n
g
g2
2:
:

Đối tợng v phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
2.1.1. Đối tợng nghiên cứu.
- Đối tợng nghiên cứu là ngời bình thờng, khỏe mạnh, không
có bệnh cấp và mạn tính, trạng thái thần kinh ổn định, tâm sinh lý
bình thờng. Tiêu chuẩn loại trừ: loại trừ các đối tợng bị thiếu máu
cấp và mạn tính.

đối tợng. Lấy máu các đối tợng nghiên cứu làm xét nghiệm các chỉ
số hồng cầu và xác định thiếu hụt G6PD bằng kĩ thuật formazan.
- Lấy ngẫu nhiên 40 mẫu theo từng nhóm (phân nhóm theo giới,
dân tộc và địa điểm nghiên cứu) để định lợng hoạt độ G6PD.
- Lấy các mẫu có kết quả formazan dơng tính, định lợng hoạt
độ G6PD, để đánh giá mức độ thiếu hụt G6PD.
- Kiểm tra lại độ nhạy, độ đặc hiệu của kĩ thuật formazan.
- Lấy các mẫu máu có hoạt độ G6PD thấp, tách ADN, phát hiện
đột biến gen G6PD theo 2 phơng pháp : PCR-MPTP và đọc trình tự.
* Các chỉ số nghiên cứu và các trang thiết bị, hóa chất cần thiết.
Các chỉ số nghiên cứu : Một số chỉ số sinh lý hồng cầu. Tỉ lệ
thiếu hụt G6PD. Hoạt độ G6PD. Dạng đột biến gen G6PD. 6

Các trang thiết bị và hóa chất: Trang thiết bị đầy đủ cho xác
định các chỉ số hồng cầu, hoạt độ G6PD, đột biến gen Tất cả các
hóa chất, chất chuẩn sử dụng đều có độ tinh sạch PA, đợc mua từ
các hãng có uy tín nh Randox, In vitrogen Sigma, Abbott
* Phơng pháp kĩ thuật xác định các chỉ số nghiên cứu.
Xác định các chỉ số tế bào máu ngoại vi, kĩ thuật formazan, định
lợng G6PD. Tách chiết ADN tổng số, xác định hàm lợng ADN,
điện di ADN, phản ứng PCR khuếch đại các exon, kĩ thuật PCR-
MPTP phân tích các đột biến, đọc trình tự ADN.
Chơng 3 : Kết quả nghiên cứu
3.1. một số chỉ số Sinh lý hồng cầu của một số dân
tộc tại Việt Nam.
3.1.1. Một số chỉ số hồng cầu của ngời Kinh định c tại Hà Nội.
Bảng 3.1. Một số chỉ số hồng cầu (

343,708,81 336,799,37
<0,001 7

3.1.2. Một số chỉ số hồng cầu của ngời Kinh, Thái và Gia Rai .
Bảng 3.2. Một số chỉ số hồng cầu (
X
SD) của nam và nữ dân tộc
Kinh và dân tộc Thái định c tại Sơn La.
Ngời Kinh Ngời Thái
Chỉ số
NC
[1] Nam(n=51) [2] Nữ (n=44) [3] Nam(n=52) [4] Nữ(n=49)
4,990,39 4,630,34
5,250,46 4,790,42
RBC
(T/l)
p(1-2) < 0,001; p(2-4) < 0,05; p(1-3) < 0,01; p(3-4) < 0,001
150,6711,37 143,509,05
143,5811,39 139,189,17
HGB
(g/l)
p(1-2) < 0,01; p(2-4) < 0,05; p(1-3) < 0,01; p(3-4) < 0,05
0,4390,033 0,4030,028 0,4360,028 0,4010,023 HCT
(l/l)
p(1-2) < 0,001; p(2-4) > 0,05; p(1-3) > 0,05; p(3-4) < 0,001
88,104,90 87,183,62
83,607,19 83,636,53

p(1-2) < 0,001; p(2-4) > 0,05; p(1-3) > 0,05; p(3-4) < 0,001
0,4310,025 0,3760,031 0,4420,035 0,3780,022 HCT
(l/l)
p(1-2) < 0,001; p(2-4) > 0,05; p(1-3) > 0,05; p(3-4) < 0,001
87,724,12 86,653,13 84,265,45 82,595,41 MCV
(fl)
p(1-2) > 0,05; p(2-4) < 0,001; p(1-3) < 0,001; p(3-4) > 0,05
30,251,87 29,521,58 28,372,52 27,442,52 MCH
(pg)
p(1-2) < 0,05; p(2-4) < 0,001; p(1-3) < 0,001; p(3-4) > 0,05
345,6012,33 339,4211,14 332,1616,76 331,3014,92 MCHC
(g/l)
p(1-2) < 0,01; p(2-4) < 0,01; p(1-3) < 0,001; p(3-4) > 0,05 8

Từ kết quả ở bảng 3.2 cho thấy:
- Các chỉ số RBC, HGB, HCT, MCHC của nam dân tộc Kinh và
Thái đều lớn hơn so với các chỉ số này ở nữ dân tộc Kinh và Thái.
- Số lợng hồng cầu của nam và nữ dân tộc Thái lớn hơn so với
các chỉ số này ở nam và nữ dân tộc Kinh.
- Các chỉ số MCV, MCH của của nam và nữ dân tộc Thái nhỏ
hơn so với các chỉ số này ở nam và nữ dân tộc Kinh.
Từ kết quả ở bảng 3.3 cho thấy:
- Các chỉ số RBC, HGB, HCT của nam dân tộc Kinh và Gia Rai
đều lớn hơn so với các chỉ số này ở nữ dân tộc Kinh và Gia Rai .
- Số lợng hồng cầu của nam và nữ dân tộc Gia Rai lớn hơn so
với các chỉ số này ở nam và nữ dân tộc Kinh.
- Các chỉ số MCV, MCH, MCHC của của nam và nữ dân tộc

Thiếu hụt G6PD là 2+ và 3+ Se2=100% Sp2=98,65%
Ghi chú: Se (sensitive) là độ nhạy, Sp (specific) là độ đặc hiệu.
HĐBT là hoạt độ G6PD trên ngời bình thờng.
Từ kết quả ở bảng 3.4 cho thấy:
Kết quả thu đợc khi chọn tất cả các mẫu dơng tính để kết luận
là có sự thiếu hụt G6PD, độ nhạy (Se1) của kĩ thuật là 100%, độ đặc
hiệu (Sp1) là 96,06%.
Kết quả thu đợc khi chọn các mẫu dơng tính 2+ và 3+ để kết
luận là có sự thiếu hụt G6PD, độ nhạy (Se2) của kĩ thuật là 100%, độ
đặc hiệu (Sp2) là 98,65%.
Chúng tôi lấy tiêu chuẩn các mẫu có kết quả phản ứng formazan
dơng tính 2+ và 3+, để kết luận là có sự thiếu hụt G6PD. 103.2.2. Kết quả sàng lọc xác định tỉ lệ thiếu hụt G6PD hồng cầu
trên một số dân tộc Việt Nam bằng kĩ thuật formazan.
Bảng 3.5. Kết quả sàng lọc tỉ lệ thiếu hụt G6PD ở nam và nữ ở một số
dân tộc không phân biệt địa phơng.
Dân tộc

Giới

Chỉ số
nghiên cứu
Kinh
[1]
Thái

(1-5)>0,05;
(2-3)<0,05; (2-4)<0,01; (2-5)<0,001;
(3-4)>0,05; (3-5)<0,01; (4-5)>0,05

Kết quả trên bảng 3.5 cho thấy: Tỉ lệ thiếu hụt G6PD cao nhất
ở dân tộc Thái là 7,26% và thấp nhất ở dân tộc Hmông là 0,60%.

3.2.3. Hoạt độ G6PD hồng cầu ở một số dân tộc Việt Nam.
Bảng 3.6. Hoạt độ G6PD ở ngời Kinh tại Hà Nội.
Đơn vị IU/10
12
HC Đơn vị IU/gHb
[1] Nam
(n=36)
[2] Nữ
(n=36)
[3] Nam
(n=36)
[4] Nữ
(n=36)
Chung
(n=72)
250,26 28,09 248,71 27,46 8,350,96 8,550,87 8,45 0,92
p (1-2) > 0,05 p (3-4) > 0,05 11Bảng 3.7. Hoạt độ G6PD (đơn vị tính IU/gHb) ở ngời Kinh và ngời

[3] Nam
(n=35)
[4] Nữ
(n=34)
X
SD
8,191,07 8,250,83 9,181,23 9,290,89
p (1-2) > 0,05
(2-4) < 0,001 (1-3) < 0,01
(3-4) > 0,05
8,220,96 9,231,07
Chung
p(1+2)-(3+4) < 0,001
Kết quả trên bảng 3.6, 3.7 và 3.8 cho thấy: So sánh hoạt độ
G6PD giữa nam và nữ ở các dân tộc khác biệt không có ý nghĩa
thống kê. So sánh hoạt độ G6PD giữa dân tộc Kinh với dân tộc Thái
và Gia Rai có sự khác biệt, với p<0,001.
3.3. phát hiện các đột biến gen trong các trờng
hợp thiếu hụt G6PD bằng kĩ thuật PCR .
3.3.1. Kết quả tách ADN các mẫu máu có thiếu hụt G6PD.
Kết quả các mẫu tách đều có hàm lợng ADN lớn hơn 300g/ml
và tỉ lệ 2 mật độ quang đo ở 2 bớc sóng 260nm/280nm lớn hơn 1,85
(tỉ lệ 2 mật độ quang này tốt nhất là từ 1,8 đến 2,0). Kết quả tách
ADN đợc kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 0,8%. 12

3.3.2. Kết quả chạy PCR-MPTP tìm đột biến gen G6PD.
Chúng tôi tiến hành tìm đột biến gen G6PD theo kĩ thuật PCR-

PCR-MPTP-A. Những mẫu ADN không bị đột biến trên exon 9 sẽ
lên ba vạch ở 3 kích thớc khác nhau: 229bp, 146bp, 94bp, giống
chuẩn bình thờng. Những mẫu ADN mang đột biến Chatham thì
mất vạch 94bp giống chuẩn đột biến Chatham. Những mẫu ADN
mang đột biến Viangchan thì mất vạch 229bp giống chuẩn đột biến
Viangchan.
Kết quả cho thấy: Các mẫu 4, 5, 6 không có đột biến, mẫu 3 và
7 có đột biến dạng Viangchan. Để khẳng định thêm cần tiến hành phản
ứng PCR-MPTP-B với cặp mồi có điểm đột biến.
Hình 3.3. ảnh sản phẩm điện di ADN của PCR-MPTP-B trên exon 9.
(- Mẫu 1 là marker 50. Mẫu 2 là chuẩn bình thờng. Các mẫu 3,
4, 5, 6, 7 là các mẫu thử. Mẫu 8 là chuẩn có đột biến Viangchan.
Mẫu 9 là chuẩn có đột biến Chatham. Mẫu 10 là nớc cất .)
Trên hình 3.3 là một trong những hình ảnh điện di sản phẩm
PCR-MPTP-B. Kết quả cho thấy các mẫu 4, 5, 6 không có đột biến,
mẫu số 3 và 7 có đột biến dạng Viangchan.
Qua hai phản ứng PCR-MPTP A và B đã khẳng định mẫu số 3 và 7
mang đột biến Viangchan, các mẫu 4, 5, 6 không bị đột biến.
Chúng tôi tiến hành xác định đột biến gen G6PD trên 30 mẫu có
thiếu hụt G6PD theo kĩ thuật PCR-MPTP, trên các exon 2, 9, 11.


60,0
3
42,9
15
50,0
Gaohe
1
12,5
2
13,3
1
14,3
4
13,3
Union
0
0
1
6,7
1
14,3
2
6,7
Có đột biến
4
50,0
12
80,0
5
71,5

AppliedBiosystems (Mỹ). 15

Hình 3.4. Hình ảnh đọc trình tự 2 đoạn gen trên exon 9 của 2 mẫu
ADN: không đột biến (mẫu A) và đột biến (mẫu B).
Trên hình 3.4 là một trong những hình ảnh đọc trình tự một
đoạn gen trên exon của gen G6PD. Khi so sánh với trình tự gen
chuẩn của exon 9 có mã số M-65230 hoặc DQ-832766 trên ngân
hàng gen, cho thấy không có đột biến trên exon 9 của mẫu A và có
đột biến dạng Viangchan thuộc exon 9 của mẫu B, vị trí nucleotid (số
871) bị biến đổi từ G
A.

Chơng 4 : Bn luận
4.1. Đặc điểm của các đối tợng nghiên cứu.
Bệnh thiếu hụt G6PD là một bệnh có tỉ lệ tơng đối cao ở Việt
Nam. Vùng núi cao phía bắc và Tây Nguyên là những vùng có sốt rét
lu hành đồng thời có tỉ lệ thiếu hụt G6PD cao.
4.2. Đặc điểm Một số chỉ số hồng cầu ở ngời thuộc
một số dân tộc tại Việt Nam.
4.2.1. Một số chỉ số hồng cầu của ngời Kinh định c tại Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu (bảng 3.1) cho thấy theo quy luật chung,
các chỉ số hồng cầu của nam giới đều cao hơn có ý nghĩa so với
các chỉ số này của nữ giới. Kết quả về các chỉ số hồng cầu của
chúng tôi tơng đơng với các số liệu đã công bố trong quyển 16

lại thấy không có sự khác biệt về các chỉ số này ở các học sinh ngời
dân tộc Kinh và ngời dân tộc Thái. Theo chúng tôi có thể do độ tuổi 17

của đối tợng trong nghiên cứu của Đỗ Hồng Cờng trung bình là 13
tuổi (độ tuổi phát triển cha ổn định), còn trong nghiên cứu của
chúng tôi trung bình là 27 tuổi (độ tuổi đã phát triển ổn định).
4.2.3. Một số chỉ số hồng cầu của ngời Kinh và ngời Gia Rai
định c tại Gia Lai .
Chỉ số RBC ở nam và nữ dân tộc Gia Rai đều cao hơn chỉ số
này ở nam và nữ dân tộc Kinh ở Gia Lai. Ngợc lại các chỉ số MCV,
MCH, MCHC ở nam và nữ dân tộc Gia Rai đều thấp hơn chỉ số này ở
nam và nữ dân tộc Kinh ở Gia Lai. Kết quả trên phù hợp với qui luật
chung là ở vùng cao, ngời các dân tộc sống lâu đời ở đây thờng có
RBC cao hơn và MCV, MCH thấp hơn so với ngời các dân tộc sống
lâu đời ở vùng đồng bằng .
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về các chỉ số hồng cầu của
ngời Kinh ở Tây Nguyên tơng đơng với các số liệu đã công bố
trong nghiên cứu của Đào Mai Luyến. Hai chỉ số RBC và HGB ở
nam dân tộc Kinh ở Tây Nguyên trong nghiên cứu của chúng tôi cao
hơn các chỉ số tơng ứng trong nghiên cứu của Trần Văn Bé. Điều
này có thể do điều kiện sống (điều kiện vệ sinh, chế độ dinh dỡng,
điều kiện làm việc) đã có rất nhiều thay đổi giữa hai thời điểm
nghiên cứu (1995 và 2008) đã tác động đến các chỉ số trên.
So sánh về các chỉ số hồng cầu trong nghiên cứu của chúng tôi với
các chỉ số này trong quyển Các giá trị sinh học ngời Việt Nam bình
thờng thập kỉ 90- thế kỉ XX cho thấy trên cả hai giới nam và nữ của hai
dân tộc, các chỉ số nghiên cứu đều nằm trong giới hạn bình thờng.

Tỉ lệ thiếu hụt G6PD trên 4 dân tộc Kinh, Thái, Dao và Hmông
tại tỉnh Điện Biên trong nghiên cứu của chúng tôi đợc thể hiện trên
(bảng 3.5) cho thấy tỉ lệ thiếu hụt G6PD rất khác nhau, rõ ràng trên
cùng một vùng địa lý, các dân tộc cùng chung sống nhng tỉ lệ thiếu
hụt G6PD lại rất khác nhau. Điều đó khẳng định rằng tỉ lệ thiếu hụt
G6PD thay đổi theo từng dân tộc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Chấn,
Trần Thị Chính, Đoàn Hạnh Nhân, Hoàng Văn Sơn, Tạ Thị
TĩnhKết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỉ lệ thiếu hụt G6PD trên
ngời Kinh là 1,74% (bảng 3.5) tơng đơng với kết quả trong
nghiên cứu của Trần Thị Chính, Nguyễn Thị Ngọc Dao năm 2003 là
1,75% và của Nguyễn Hữu Chấn là 1,9%.
19

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ thiếu hụt G6PD ở dân tộc
Hmông rất thấp (0,60%) tơng tự kết quả nghiên cứu của viện Sốt
rét ký sinh trùng & côn trùng Trung ơng ở dân tộc Hmông (0,3%).
Vì đối tợng nghiên cứu là ngời Hmông trong nghiên cứu này đều
sinh sống ở huyện Mờng Nhé, tỉnh Điện Biên, khu vực này hiện nay
vẫn cha có điện, đi lại rất khó khăn, đặc biệt là dân tộc Hmông có
tỉ lệ thiếu hụt G6PD rất thấp, do đó rất khó để thu thập đủ số lợng
đối tợng nghiên cứu nh tính toán lý thuyết (4055). Cho nên tỉ lệ
thiếu hụt G6PD ở dân tộc Hmông trong nghiên cứu của chúng tôi là
0,6% đợc đa ra chỉ mang tính tham khảo.
Tỉ lệ thiếu hụt G6PD trong nghiên cứu của chúng tôi trên dân
tộc Gia Rai là 3,07%, đây là kết quả nghiên cứu đầu tiên đợc công
bố về tỉ lệ thiếu hụt G6PD trên dân tộc này.

tợng), cho nên kết quả này chỉ mang tính chất định hớng, cần
nghiên cứu tiếp với số mẫu lớn hơn.
4.4. Phát hiện đột biến gen G6PD trong các trờng
hợp thiếu hụt G6PD .
4.4.1. ý nghĩa thực tiễn và kết quả của kĩ thuật PCR-MPTP tìm
đột biến gen G6PD trên các mẫu thiếu hụt G6PD.
Hiện nay ngời ta sử dụng nhiều loại kĩ thuật khác nhau để phát
hiện đột biến gen G6PD, ví dụ kĩ thuật PCR-SSCP; Nested PCR,
realtime PCR, PCR-MPTPĐa số các đột biến đã biết là đột biến
điểm. Để dò tìm các đột biến một cách đơn giản, dễ dàng chúng tôi
sử dụng kĩ thuật PCR-MPTP.
Với 2 bớc chạy PCR và các cặp mồi đặc hiệu có thể tìm ra
điểm đột biến một cách chính xác mà không cần thực hiện đọc trình
tự - một kĩ thuật đắt tiền và phức tạp đối với Việt Nam và các nớc
nghèo. Kĩ thuật PCR-MPTP đã đợc các tác giả Nhật Bản đánh giá là
có nhiều u điểm và hiệu quả cho các nớc trong khu vực, nó có thể
đợc áp dụng tại các bệnh viện khu vực để điều tra các đột biến mà
không yêu cầu trang thiết bị đắt tiền và cho kết quả nhanh.
Chúng tôi sử dụng kĩ thuật PCR-MPTP để xác định đột biến gen
G6PD trong tổng số 30 mẫu thiếu hụt G6PD, phát hiện đợc 21 mẫu có
đột biến (chiếm 70,0%) và 9 mẫu cha tìm thấy đột biến (chiếm 30,0%).
Vì điều kiện kinh phí hạn chế, chúng tôi chỉ tiến hành phân tích tìm 21

đột biến trên 3 exon (2, 9, 11) mà không thể tiến hành phân tích tìm
đột biến trên cả 13 exon đợc, do đó có thể không tìm đợc hết các
đột biến trên các exon khác ở các mẫu có sự thiếu hụt G6PD. Đột
biến dạng Viangchan có 15 mẫu, chiếm 71,4%, đột biến dạng Gaohe


máu ngoại vi vẫn trong giới hạn bình thờng. Kết quả trên phù hợp
với phân lớp cho các dạng đột biến tìm đợc.
4.4.2. Kết quả đọc trình tự tìm đột biến gen G6PD.
Với phơng pháp đọc trình tự, chúng tôi đã khẳng định lại 21
trờng hợp có đột biến đợc xác định bằng kĩ thuật PCR-MPTP, gồm
các dạng Viangchan, Gaohe và Union. Kết quả này một lần nữa cho
thấy kĩ thuật PCR-MPTP phát hiện đột biến là hoàn toàn chính xác.
Trong những đột biến gây thiếu hụt G6PD, đột biến tại vị trí xa
vùng gắn NADP
+
, hay xa vị trí gắn cơ chất G6P thờng ít ảnh hởng
đến chức năng của enzym. Hirono A. nhận xét rằng G6PD A(-),
G6PD Quing Yuan (đột biến này đã tìm thấy ở Việt Nam) và G6PD
Ilesha là đột biến thay thế một acid amin, có hoạt độ enzym giảm nhẹ
hoặc bình thờng.
Ngợc lại, thiếu hụt G6PD sẽ nghiêm trọng hơn nếu vùng đột
biến tập trung gần vị trí gắn NADP hay vùng gắn cơ chất G6PD.
Trong nghiên cứu của Hirono A. và cộng sự, đã tìm thấy đột biến
G6PD Vancouver. Đột biến này thay 3 nucleotid tơng ứng acid amin
106, 182, 198 có nhiều thay đổi về các đặc tính của enzym.
Ba dạng đột biến là Viangchan, Gaohe và Union đợc tìm thấy
trong nghiên cứu của chúng tôi đều nằm trong lớp 2 theo phân loại
của WHO, là lớp gây thiếu hụt G6PD nặng. Hoạt độ G6PD của các
mẫu thuộc một trong 3 dạng đột biến trên đều rất thấp. Nh vậy có
thể các đột biến trên đã dẫn đến các thay đổi acid amin ở những vị trí
có chức năng quan trọng trên phân tử enzym G6PD. Về chức năng
chính xác của các acid amin này cần đợc nghiên cứu thêm.
Xuất phát từ đặc điểm lâm sàng của bệnh thiếu hụt G6PD là rất
ít xảy ra các triệu chứng rầm rộ, nhng luôn có nguy cơ bùng phát

(5,000,36T/l ở nam, 4,450,35 ở nữ), với p<0,05.
Các chỉ số MCV, MCH ở nam và nữ dân tộc Kinh đều cao hơn
so với ở ngời Thái và ngời Gia Rai, với p<0,05.
2. Tỉ lệ thiếu hụt G6PD và hoạt độ G6PD của một số dân tộc
ngời Việt Nam.
- Tỉ lệ thiếu hụt G6PD trong quần thể 4 dân tộc ngời Việt Nam
đợc xác định bằng kĩ thuật formazan nh sau: Cao nhất ở dân tộc
Thái (7,62% ở Sơn La và 7,17% ở Điện Biên, có sự khác biệt so với các 24

dân tộc khác, với p<0,05ữp<0,001), sau đó là dân tộc Gia Rai (3,07% ở
Gia Lai), dân tộc Dao (1,77% ở Điện Biên), dân tộc Kinh (1,99% ở
Sơn La, 1,77% ở Hà Nội, 1,56% ở Gia Lai và 1,47 ở Điện Biên).
- Hoạt độ G6PD (đơn vị tính là IU/gHb/37
o
C) trong hồng cầu ở
ngời bình thờng đợc xác định trên một số dân tộc nh sau: ở dân
tộc Thái tại Sơn La là 9,411,25 và ở dân tộc Gia Rai tại Gia Lai là
9,231,07, cao hơn rõ rệt so với ở dân tộc Kinh tại Hà Nội, Sơn La và Gia
Lai là 8,290,96, với p<0,001.
3. Phát hiện các đột biến gen G6PD.
Bằng kĩ thuật PCR-MPTP thực hiện trên 30 mẫu thiếu hụt G6PD,
tìm thấy 21 mẫu có đột biến, chiếm 70%, bao gồm các dạng đột biến sau:
+ Đột biến dạng Viangchan có 15/21 mẫu, chiếm 71,4% là
dạng phổ biến nhất, phân bố trên ngời Thái, GiaRai và Kinh với tỉ lệ
là 60,0%; 42,9% và 37,5%.
+ Đột biến dạng Gaohe có 4/21 mẫu, chiếm 19,1%.
+ Đột biến dạng Union có 2/21 mẫu, chiếm 9,5%, cha tìm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status