nghiên cứu sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực đặc trưng địa phương của du khách nội địa tại thành phố nha trang - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VÕ THÁI TĨNH
NGHIÊN CỨU SỞ THÍCH VÀ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN
ẨM THỰC ĐẶC TRƯNG ĐỊA PHƯƠNG CỦA DU KHÁCH
NỘI ĐỊA TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, tất cả các số liệu và kết
quả nằm trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ một
công trình khoa học nào khác trước đó.
VÕ THÁI TĨNH iiLỜI CẢM ƠN

Trong 2 năm học tập và nghiên cứu đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt
nghiệp. Để có kết quả như hôm nay ngoài nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, các anh chị sinh viên đang học tập
tại các trường và các cơ sở kinh doanh ẩm thực trên địa bàn thành phố Nha Trang.
Thông qua luận văn tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu ,
các thầy cô trong khoa Kinh tế, khoa sau Đại học của đại học Nha Trang đã tạo điều
kiện về cơ sở vật chất để các thầy cô thuận lợi trong việc truyền đạt kiến thức, phương
pháp nghiên cứu trong suốt quá trình học tập cao học vừa qua.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Công ty cổ phần
Truyền thông Việt Nam (VCCORP) và Ban biên tập báo Người Lao động đã hết sức tạo
điều kiện cho tôi sắp xếp thời gian làm việc để tham gia học và nghiên cứu đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của Tiến sỹ Đỗ Thị Thanh Vinh và Thạc sỹ Lê
Chí Công đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới thầy cô trong hội đồng bảo vệ luận văn
thạc sỹ đã góp ý để tôi hoàn thiện đề tài này được tốt hơn.

1.4.2. Quyết định lựa chọn của người tiêu dùng 17
1.4.3. Các nhân tố tác động đến sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực của du
khách 20
1.5. Đề xuất mô hình nghiên cứu 24
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ DU LỊCH NHA TRANG –KHÁNH HÒA VÀ CÁC
MÓN ẨM THỰC ĐẶC TRƯNG ĐỊA PHƯƠNG 28
2.1. Khái quát hoạt động du lịch Khánh Hòa 28
2.1.1. Đặc điểm và điều kiện tự nhiên 28
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên 30
2.1.3. Đặc điểm về văn hóa xã hội 32 ii

2.1.4. Hệ thống hạ tầng phục vụ du lịch 35
2.2. Hoạt động kinh doanh du lịch của Khánh Hòa 38
2.3. Hoạt động ẩm thực tại Nha Trang – Khánh Hòa 40
2.3.1. Ẩm thực gốc địa phương 40
2.3.2. Ẩm thực du nhập vào Nha Trang – Khánh Hòa 45
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48
3.1.1. Đặc trưng của dịch vụ ẩm thực 48
3.1.2. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48
3.2. Thiết kế nghiên cứu 49
3.2.1. Quy trình nghiên cứu 49
3.2.2. Nghiên cứu sơ bộ 51
3.3. Mẫu, cách chọn mẫu và cách thu thập dữ liệu 55
3.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 55

4.6. Giải thích kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 85
4.7. Kiểm định các giả thuyết 86
4.8. Phân tích ANOVA 89
4.8.1. Quyết định sử dụng ẩm thực theo giới tính 89
4.8.2. Quyết định sử dụng ẩm thực theo nhóm tuổi 89
4.8.3. Quyết định sử dụng ẩm thực theo mức thu nhập 90
4.8.4. Quyết định sử dụng ẩm thực theo nơi cư trú 91
4.8.5. Quyết định sử dụng với thời gian lưu trú tại Nha Trang 92
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 93
CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUÁ VÀ GỢI Ý CÁC GIẢI PHÁP 94
5.1. Tóm tắt nghiên cứu 94
5.2. Kết quả nghiên cứu 94
5.3. Các gợi ý về giải pháp 95
5.3.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên phục vụ 95
5.3.2. Đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm 96
5.3.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất của quán để nâng cao chất lượng phục vụ 96
5.3.4. Đa dạng hóa đồ uống kèm theo món ăn 96
5.3.5. Tăng cường quảng bá ẩm thực vùng đất Nha Trang – Khánh Hòa 97
5.3.6. Công khai minh bạch giá cả 97
5.3.7. Phối hợp với các công ty lữ hành xây dựng các tour tìm hiểu về văn hóa
ẩm thực 97
5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 98
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC iv
Bảng 4.26: Hệ số hồi quy 83
Bảng 4.27: Kết quả phân tích hôi quy tuyến tính đa biến 85 v

Bảng 4.29: Kiểm định ANOVA theo giới tính 89
Bảng 4.30: Kiểm định phương sai theo nhóm tuổi 90
Bảng 4.31: Kiểm định ANOVA theo nhóm tuổi 90
Bảng 4.32: Kiểm định phương sai theo mức thu nhập 90
Bảng 4.33: Kiểm đinh ANOVA theo mức thu nhập 91
Bảng 4.34: Kiểm định phương sai theo nơi cư trú 91
Bảng 4.35: Kiểm định ANOVA theo nơi cư trú 91
Bảng 4.36: Kiểm định phương sai với thời gian lưu trú tại Nha Trang 92
Bảng 4.37: Kiểm định ANOVA với thời gian lưu trú tại Nha Trang 92 viDANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Quy trình ra quyết định của người tiêu dùng 19
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu của Krondl và Lau cho việc nghiên cứu lựa chọn
thực phẩm 22
Hình1.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất Các nhân tố ảnh hưởng đến sở thích và quyết
định lựa chọn ẩm thực địa phương của khách du lịch nội địa 25

SPSS
Statistical Package for Social
Science

Phần mềm xử lý thống kê
dùng
trong các ngành khoa học xã hội
Std.Dev Standard Deviation

Độ lệch chuẩn

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của để tài
Trong giai đoạn hiện nay cũng như định hướng phát triển kinh tế trong thời gian
tới thì du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với tiềm năng
và lợi thế to lớn về tài nguyên du lịch, Nha Trang - Khánh Hòa đã và đang sẽ là một
trong những địa phương đi đầu của cả nước về các hoạt động du lịch. Năm 2012
Khánh Hòa đón 2,3 triệu lượt du khách trong đó khách du lịch nội địa là 1,8 triệu lượt,
hơn nữa doanh thu của ngành du lịch dịch vụ đạt 2.568 tỷ Đồng chiếm 41,6% cơ cấu
của nền kinh tế toàn tỉnh. Sự phát triển của ngành công nghiệp không khói này sẽ có
xu hướng ngày càng tăng lên đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế đang dần
hồi phục mức tiêu dùng của người dân ngày càng cao, tham quan du lịch luôn một
trong những sự lựa chọn hàng đầu của nhiều người dân.
Trong các chuyến du lịch, vui chơi giải trí, lưu trú, ăn uống…được xem là một
trong những nhu cầu thiết yếu của du khách. Thực tế chỉ ra rằng, đối với khách du lịch

tươi ngon, và bên cạnh đó nơi đây còn một số món ăn được cho là đặc sản của Nha
Trang chỉ Nha Trang mới có được khẩu vị như vậy mà nhiều nơi khác không thể sánh
bằng như bánh mì, nem nướng Ninh Hòa, bánh canh, bún cá, bánh căn… Những món
ăn này nổi tiếng đến mức nhiều du khách cho rằng đi Nha Trang mà chưa thưởng thức
các món này thì coi như chưa tới Nha Trang, có nhiều thương hiệu ẩm thực địa
phương đã nổi tiếng cả nước như nem nướng Đặng Văn Quyên, bún cá Năm beo, bánh
canh Loan, bánh canh bà Thừa, hải sản bờ kè cầu Trần Phú, bánh mì Ngã sáu…
Mặc dù có nhiều địa điểm ẩm thực nổi tiếng thu hút một lượng khách du lịch như
vậy nhưng chưa có một nghiên cứu nào nói về sở thích cũng như các nhân tố cơ bản
ảnh hưởng đến sở thích lựa chọn ẩm thực đặc trưng địa phương của khách du lịch.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế hiện nay cũng như thói quen lựa chọn ẩm thực của du
khách tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực đặc
trưng địa phương của du khách nội địa tại thành phố Nha Trang”. Tác giả hy
vọng rằng thông qua nghiên cứu này sẽ hiểu hơn về sở thích thực sự của du khách
cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sở thích và đưa ra quyết định lựa chon của họ từ
đó có những gợi ý chính sách cho các cơ quan quản lý ngành du lịch địa phương và
doanh nghiệp trong việc khai thác tối đa lợi thế sẵn có nhằm góp phần tăng trưởng bền
vững ngành du lịch tỉnh nhà.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến sở thích cũng như quyết định
lựa chọn ẩm thực đặc trưng địa phương của khách du lịch nội địa tại Nha Trang –
Khánh Hòa. 3

- Hệ thống hóa lại toàn bộ hoạt động kinh doanh ẩm thực mang nét đặc trưng của
vùng đất Nha Trang – Khánh Hòa và những món ăn của vùng phụ cận Nha Trang –
Khánh Hòa.
- Tổng quan cơ sở lý thuyết về ẩm thực, các khái niệm liên quan đến hoạt động

4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận, nghiên cứu này sẽ dự kiến sử dụng các phương
pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: hệ thống lại toàn bộ lý thuyết liên quan đến
hành vi, nhu cầu, sở thích…của người tiêu dùng
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp với các dữ liệu đã được công bố thông qua
các nguồn: Cục thống kê, sở VHTT&DL tỉnh Khánh Hòa, Trung tâm xúc tiến du lịch
trong khoảng thời gian từ năm 2008 -2012 để đánh giá thông tin sơ bộ về khách du
lịch tại địa phương.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: đề tài dự kiến thu thập khoảng 300 khách
du lịch nội địa du lịch tại Nha Trang – Khánh Hòa bằng bảng câu hỏi điều tra theo
mẫu (quy mô quan sát trong mẫu nghiên cứu sẽ được quyết định bởi phương pháp lấy
mẫu, số biến quan sát trong mô hình đề xuất).
Phương pháp xử lý thông tin: sau khi tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu cần
được mã hoá vào phần mềm máy tính (SPSS). Sau đó dữ liệu này được làm sạch, biên
tập và lưu trữ cẩn thận. Bước tiếp theo là phân tích dữ liệu theo mục tiêu nghiên cứu
đã đề ra bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 16.0
5. Đóng góp của đề tài
5.1. Đóng góp về ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu về sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực đặc trưng địa
phương của khách du lịch nội địa đến Nha Trang Khánh Hòa nhằm xem xét các nhân
tố có ảnh hưởng đến sở thích cũng như quyết định lựa chọn thưởng thức ẩm thực của
du khách khi đi du lịch tại địa phương. Tìm ra đâu là nhân tố cơ bản có ảnh hưởng
nhiều đến sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực đặc trưng địa phương.
Trong giai đoạn hiện nay ngành du lịch của Nha Trang – Khánh Hòa ngày càng
phát triển, đề tài xem xét các khía cạnh liên quan đến hoạt động kinh doanh ẩm thực
đặc biệt là kinh doanh ẩm thực mang nét đặc trưng của địa phương đã đưa ra được
những yếu tố như chất lượng và sự hấp dẫn của món ăn, đội ngũ nhân viên phục vụ,
không gian của địa điểm kinh doanh, chất lượng đồ uống đi kèm… có ảnh hưởng rất
lớn đến quyết định của khách du lịch trong nước trong việc ăn uống.

1.1.1. Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Cẩm (2012) cho rằng hoạt động quảng bá ẩm
thực sẽ tác động đến thái độ của du khách đối với thương hiệu du lịch Nha Trang và
làm ảnh hưởng đến lòng trung thành của du khách. Trong khi đó, nghiên cứu của
Trung tâm nghiên cứu phát triển du lịch Miền Trung (2013) chỉ ra rằng việc thưởng
thức đặc sản ẩm thực được các du khách nội địa quan tâm và sử dụng nhiều nhất trong
các chuyến đi du lịch của mình. Du khách ngày càng mong muốn có cơ hội tìm kiếm
trải nghiệm nhiều hơn với những nét văn hóa của những vùng đất mà mình đã đi qua,
đặc biệt là tìm hiểu văn hóa thông qua ẩm thực. Chính vì thế nên văn hóa ẩm thực
được đánh giá là yếu tố tạo nên giá trị tăng thêm cho một điểm du lịch (Trần Đức Anh
Sơn, 2013).
Trong một nghiên cứu của Võ Hoàn Hải (2005) đối với khách du lịch nội địa tại
Nha Trang – Khánh Hòa đã chỉ ra dịch vụ ẩm thực là một trong những nhánh nhỏ của
dịch vụ du lịch tác động đến sự hài lòng của du khách trong việc đi du lịch của mình.
Các tác giả Lê Anh Tuần và Phạm Mạnh Cường (2012) thì cho rằng yếu tố ẩm
thực không được sử dụng trong việc xúc tiến hoạt động du lịch nhưng nó lại nắm vai
trò chủ đạo để tạo nên thành công cho hoạt động du lịch. Một nghiên cứu về lĩnh vực
nước uống đóng chai của Nguyễn Thị Quỳnh Nhân (2013) về sở thích của người tiêu
dùng sẽ dẫn đến việc lựa chọn và quyết định sử dụng sản phẩm nước uống đóng chai.
Mặc dù có một số nghiên cứu tiếp cận đến vai trò của ẩm thực ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh du lịch tại các điểm đến. Tuy nhiên, một nghiên cứu liên quan
đến sở thích lựa chọn ẩm thực và các nhân tố tác động tới nó vẫn chưa được thực hiện.
Đây là có thể được xem là một khoảng trống cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu trong
bối cảnh du lịch Nha Trang-Khánh Hòa.
1.1.2. Các nghiên cứu ngoài nước
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu liên quan đến sở thích lựa chọn ấm thực
của khách hàng nói chung và lựa chọn ẩm thực của du khách khi du lịch tại một địa 7

phẩm (Holm & Kildevang, 1996), chán ghét hương vị cũng được coi là một trong
những động lực chính cho việc lựa chọn thực phẩm ở thanh thiếu niên và trẻ em (Berg,
2000, Gummenson ,1996, Koivisto &SJTO, 1996). Yếu tố xã hội học cũng được cho 8

rằng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn thực phẩm (Axelson,
1986, Rozin, 1995). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân khẩu học, văn hóa, giới
tính, độ tuổi… có sự khác biệt nhau trong việc lựa chọn thực phẩm (Gummenson &
Nu, 1996). Du khách thường thu thập tìm kiếm thông tin điểm đến tiềm năng và lên
kế hoạch chuẩn bị cho chuyến đi trước khi đi du lịch (Money & Crostts, 2003).
Nghiên cứu của Krond và Lau (1979) đã chỉ ra 3 yếu tố tác động đến việc sử
dụng thực phẩm đó là yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài, nhận thức của người sử dụng
và bậc thầy về đo lường dịch vụ Parasuraman với thang đo SERVQUAL đã cũng đã
chỉ ra nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn dịch vụ trong đó có dịch vụ ăn uống.
Qua đó, ta thấy rằng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ăn uống và khẳng định ăn
uống có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống và ăn uống trong hoạt động du lịch
cũng vậy tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này đặc biệt là ở Việt Nam
do đó tác giả muốn nghiên cứu để khám phá những nhân tố tác động đến việc ăn uống
của khách du lịch tại địa phương đặc biệt là ăn uống các món ăn là đặc sản của địa
phương từ đó định hình được những giải pháp để góp y hỗ trợ hoạt động kinh doanh
ẩm thực phục vụ cho du lịch tại Khánh Hòa.
1.2. Một số khái niệm về du lịch
1.2.1. Du lịch
Từ xa xưa, con người đã ghi nhận du lịch như là một sở thích, là một hoạt động
nghỉ ngơi sau thời gian làm việc căng thẳng kéo dài. Qua thời gian khi xã hội ngày
càng phát triển, mức sống của con người ngày nâng cao thì du lịch trở thành một phần
không thể thiếu trong đời sống. Đối với nhiều quốc gia du lịch được coi là một trong
những ngành kinh tế quan trọng chiếm phần lớn tổng thu nhập của quốc gia đó. Vì

hành Thomas Cook, năm 1841 Thomas Cook đã tổ chức cho hơn 500 người từ
Leicostor đến Longshorough với một mức giá trọn gói bao gồm các dịch vụ ăn uống,
đi lại, vui chơi, ngủ nghỉ… Nhưng du lịch thực sự chỉ phổ biến ở những năm 60 của
thập kỷ XX ngay sau khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 kết thúc đem lại
được những thành tựu to lớn cho nền kinh tế xã hội, con người sống trong không gian
“bê tông, cốt thép” cùng với guồng quay của cuộc sống công nghiệp khiến cho họ có
nhu cầu trở về với thiên nhiên, về với cội nguồn nông nghiệp hay chỉ đơn giản là nghỉ
ngơi sau thời gian lao động căng thẳng.
Như vậy du lịch đã trở thành hoạt động quen thuộc trong đời sống của con người
và ngày càng phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu và là ngành kinh tế lớn nhất thế
giới hiện nay vượt qua cả ngành sản xuất ô tô, thép và nông nghiệp (World Travel and
Tourism Council). Mặc dù du lịch có lịch sử lâu dài bên cạnh vai trò và tầm quan
trọng của nó nhưng hiện nay định nghĩa về du lịch vẫn còn chưa thống nhất và nhiều
tranh luận. Theo Bacnaker - một chuyên gia du lịch hàng đầu thế giới đã nhận định “
Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa về nó”. 10

Người Trung Quốc cho rằng du lịch bao gồm 5 yếu tố: thực, trú, hành, lạc, và y.
Đi du lịch là nếm những món ăn ngon ở trong những căn phòng sang trọng đầy đủ tiện
nghi, đi lại trên các phương tiện sang trọng thoải mái được vui chơi giải trí được mua
sắm hàng hóa, quần áo…
Để làm rõ khái niệm du lịch thì cần phải dựa vào các thành phần tham dự và
những hoạt động có liên quan đến nó. Micheal Coltman (1989) tiếp cận du lịch dưới
góc độ 04 thành phần chính và chúng tương tác với nhau để tạo nên cụm từ du lịch.
Theo đó, đối với du khách thì đi du lịch là hành trình rời khỏi nơi cư trú của thường
xuyên của mình để tới nơi khác nhằm thỏa mãn về nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Dưới
góc độ doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm liên quan đến du lịch thì đây là hoạt động
phát sinh kinh tế và là hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu của khách để tạo ra lợi nhuận

các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình
và lưu trú của cá nhân hay tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài
nước họ với mục đích hòa bình, nơi họ lưu trú không phải là nơi làm việc của họ và
đây cũng là quan điểm của Tổ chức du lịch thế giới.
Ở Việt Nam nhận thức về khái niệm du lịch cũng chưa có sự thống nhất. Dưới
nhiều góc độ, hoàn cảnh cũng như mục tiêu nghiên cứu thì cách hiểu về du lịch cũng
không giống nhau. Theo Trần Nhạn (1995) thì du lịch là quá trình hoạt động của con
người rời khỏi quê hương đến với nới khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận
những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không
nhằm mục đích sinh lời và được tính bằng đồng tiền. Trong nhận định này, tác giả đã
chỉ ra được bản chất của du lịch đó là di chuyển ra khỏi nơi mình thường sinh sống để
tới một nơi nào khác nhằm mục đích cảm nhận được các giá trị khác nhau mà tại nơi
mình đang sống không có trong đó bao gồm cả tinh thần lẫn vật chất.
Trong khi một số quan niệm mới tại Việt Nam đã kế thừa với những nghiên cứu
trên thế giới. Theo đó, một số học giả cho rằng du lịch là một ngành kinh doanh tổng
hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch
sử và văn hòa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người
nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh
doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
tại chổ (Từ điển Bách khoa toàn thư, 1996). Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa
(2006) cho rằng du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động hướng dẫn
du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng
những nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu
khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực
cho nước làm du lịch và bản thân các doanh nghiệp. 12

Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999 thì du lịch được xem như là hoạt

cần thiết để thõa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du
lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông 13

tin hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Dịch vụ là
thành phần chiếm tỷ lệ lớn của sản phẩm du lịch còn hàng hóa chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.
Để đo lường đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch thì rất khó khăn, thường mang tính
chủ quan đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch phần lớn không phụ thuộc vào người
kinh doanh mà là tập trung vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch được xác
định thông qua sự chênh lệch giữa kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của
khách du lịch.
Tóm lại, sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được
tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng
các nguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một
quốc gia nào đó.
Khái niệm sản phẩm du lịch đã chỉ rõ, sản phẩm du lịch được bao gồm cả những
yếu tố hữu hình (hàng hóa) và yếu tố vô hình (dịch vụ). Ngoài ra, xét theo quá trình
tiêu dùng của du khách trên chuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể tổng hợp
thành các thành phần của sản phẩm du lịch theo nhóm cơ bản sau:
- Dịch vụ vận chuyển;
- Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống; đồ ăn, thức uống;
- Dịch vụ tham quan, giải trí;
- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;
- Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra và gắn liền với tài nguyên du lịch vì vậy
sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được, trên thực tế không thể đem sản phẩm
du lịch tới nơi có khách du lịch mà buộc khách du lịch phải tới nơi có sản phẩm du
lịch để thõa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng. Đây là một trong những

cười, ngốc nghếch, ít học, nhưng giàu có, quen thói bóc lột và vô cảm với môi trường-
đây là một quản điểm trương đối khác hẳn với các nhận định trên.
Khái niệm của Liên hiệp Quốc tế của các Tổ chức Chính thức về du lịch-IUOTO
(International Union of Official Travel Organizations) (1950) cho rằng khách du lịch
nước ngoài là bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của
mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ. Cũng theo tổ chức này thì những người
được coi là khách du lịch là những người khởi hành để giải trí, vì những nguyên nhân
gia đình, vì sức khỏe…Những người khởi hành vì mụ đích gặp gỡ trao đổi các mối
quan hệ, khởi hành vì mục đích kinh doanh và những người cập bến từ các hành trình
của các tàu du lịch biển thậm chí họ dừng lại ít hơn 24 giờ…
Ở nước ta có sự phân biệt giữa khách du lịch trong nước và khách du lịch nước
ngoài. Trong Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999) khách du lịch được định nghĩa là
những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học hoặc hành nghề
để nhận thu nhập tại nơi đến. Khách du lịch bao gồm khách nội địa và khách du lịch
quốc tế:
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt
Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Trích đoạn Quyết định lựa chọn của người tiêu dùng Các nhân tố tác động đến sở thích và quyết định lựa chọn ẩm thực của du xuất mô hình nghiên cứu Tóm tắt nghiên cứu Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên phục vụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status