1
Mở Đầu
Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc trung tâm của
Đông Nam Châu á, trong vùng nhiệt đới bắc bán cầu. Đất đai ở Việt Nam có 3/4
là đồi núi và cao nguyên. Theo dự đoán của các nhà thực vật học, nước ta có
khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên được chừng 10.484
loài và có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân dùng làm nguồn lương thực, thực
phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, củi, tinh dầu và nguyên
liệu khác [99]. Chắc chắn trong hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà con
người chưa biết công dụng của chúng, trong đó khoảng 40% thực vật là đặc hữu
của Việt Nam. Nhiều loài cây, cỏ đã được tuyển chọn trồng phổ biến trong nhân
dân ta. Hệ động vật Việt Nam cũng rất phong phú. Hiện nay đã thống kê được
280 loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 471 loài cá nước
ngọt, khoảng 2500 loài cá biển và rất nhiều loài côn trùng. Nguồn tài nguyên
sinh vật nói chung và thực vật nói riêng là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại của
nhân dân Việt Nam trong nhiều năm qua cũng là cơ sở cho sự phát triển của đời
sống nhân dân Việt Nam trong tương lai [68].
Tuy nhiên, thảm thực vật rừng nước ta đã bị thu hẹp rất nhanh chóng
trong thế kỷ 20, diện tích rừng giảm từ 43% năm 1945 xuống còn dưới 30% năm
2000. Sự thu hẹp diện tích này do nhiều nguyên nhân như bom đạn và chất độc
hóa học trong chiến tranh, sự gia tăng dân số quá nhanh, việc khai thác quá mức
tài nguyên rừng, việc áp dụng quá rộng rãi các giống mới trong sản xuất nông
lâm nghiệp, đã dẫn tới sự mất cân bằng hệ sinh thái và nhiều loài thực vật và
động vật khác có nguy cơ tuyệt chủng.
Vì vậy, hội nghị thượng đỉnh Riodeneiro 1992 là tiếng chuông báo động
cho chính phủ các nước trên hành tinh chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ lớp
thảm xanh bao phủ bề mặt trái đất đang bị phá hoại và tổn thương nghiêm trọng.
3
hơi cứng, có tổ thành phân bố khá cao ở các đỉnh núi cao của VQGBM. Mặc dù,
loài này phân bố tương đối rộng nhưng trong thời gian qua do việc khai thác để
lấy gỗ sử dụng, làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu và đang có nguy cơ tuyệt chủng
nên đã được các nhà khoa học liệt kê vào sách đỏ Việt Nam. Do đó, một trong
những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải tiến hành điều tra sự phân bố, kết
hợp khoanh nuôi bảo vệ, nghiên cứu những đặc điểm sinh lý - sinh thái để
làm cơ sở khoa học thực nghiệm trong việc nhân giống và gây trồng phổ biến
bằng các con đường vô tính hoặc hữu tính phục vụ cho công tác phục hồi hệ
sinh thái, bảo tồn được tính đa dạng tài nguyên di truyền loài. Xuất phát từ
những ý nghĩa trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: '' Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh lý - sinh thái và phương pháp nhân giống sinh dưỡng cây Hoàng
đàn giả (Dacrydium elatum Wallich ex Hooker) ở vườn Quốc gia Bạch
Mã''.
Đề tài thành công sẽ tạo ra cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp kỹ
thuật trồng thêm một loài cây bản địa thuộc nhóm hạt trần, tiến tới sẽ trồng
thực nghiệm và trồng phổ biến phục hồi hệ sinh thái vùng đệm, di thực trồng
làm cây cảnh, cây lục hóa đô thị đang có xu hướng quy hoạch phát triển, đồng
thời tạo thêm nguồn nguyên liệu phong phú, đáp ứng nhu cầu tại chỗ. Qua đó,
các hoạt động lâm nghiệp sẽ tạo thêm nguồn thu nhập, giải quyết việc làm nhằm
xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương, tạo điều kiện ổn định và bền vững
cho sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực ngày được tốt hơn.
sống của con người. Đặc biệt là những năm gần đây vấn đề này được các nhà
khoa học quan tâm nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc trồng rừng, quản 5
lý kinh doanh rừng đạt hiệu quả về kinh tế lẫn bảo vệ môi trường. Nhiều công
trình nghiên cứu của các tác giả với các mục đích khác nhau nghiên cứu nhiều
loài cây khác nhau với từng chỉ tiêu cụ thể đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ
giữa các loài trong cùng hệ sinh thái. Tuy nhiên, với điều kiện ở Việt Nam
hiện nay thì vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện đối với một loài cây rừng
nào đó ở trong điều kiện tự nhiên còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, chúng ta có
thể điểm qua các công trình nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài
nước có liên quan ít nhiều về nội dung nghiên cứu như sau:
1.1. Tình hình nghiên cứu Sinh lý liên quan đến cây Hoàng đàn giả
1.1.1. ở nƣớc ngoài
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về quang hợp xuất hiện thường
xuyên trên các tạp chí sinh lý thực vật, tạp chí quang hợp quốc tế, các tạp chí
lý sinh, sinh hoá và các ngành liên quan, cũng như trong các hội nghị và hội
thảo quốc tế về quang hợp hàng năm. Những công trình nghiên cứu về quang
hợp trong những năm gần đây tập trung vào các lĩnh vực cơ chế quang hợp
nhằm bắt chước chức năng quang hợp của cây xanh (quang hợp nhân tạo) với
sự giúp đỡ của các phương pháp lý sinh, hoá sinh hiện đại với các trang thiết
bị hiện đại. Mặt khác, rất nhiều công trình đang được tập trung vào việc điều
khiển chức năng quang hợp trên cá thể và quần thể, tạo ra những cá thể và
quần thể lý tưởng về quang hợp, nhằm thu được năng suất thực vật cao nhất
về số lượng lẫn chất lượng. Những công trình này thực chất là những công
trình phục vụ trực tiếp cho ngành “kinh doanh” năng lượng mặt trời có hiệu
quả nhất.
Vấn đề ánh sáng vô cùng quan trọng đối với các quá trình sinh lý của
Điểm no ánh sáng của quá trình quang hợp các cây ưa bóng là 75-
100.103 erg/cm2.S (200 cal/dm2.H) còn ở các cây ưa sáng là 300-350.103
erg/cm2.S (3.000-4.000 cal/dm2.H). Trị số điểm no ánh sáng tăng theo sự
tăng hàm lượng CO2 và nhiệt độ. 7
Ngoài ra, thành phần bức xạ cũng có ánh hưởng lớn đến quá trình
quang hợp. Theo Timiriazev, quá trình quang hợp được tiến hành tốt nhất
trong điều kiện ánh sáng đỏ và xanh là những tia sáng hấp thụ mạnh nhất. Cây
hấp thụ ánh sáng khuếch tán mạnh hơn ánh sáng chiếu thẳng. Dưới rừng có
độ khép tán cao, ánh sáng tán xạ và ánh sáng phản xạ chiếm ưu thế so với ánh
sáng trực xạ. Theo Ivanov, tia sinh lý trong bức xạ mặt trời dưới tán rừng ít
hơn nhiều so với nơi quang trống. ở nơi quang trống tia sáng có tác dụng sinh
lý chiếm 48 - 49%, trong rừng rậm tia sinh lý rất ít. Điều này cần được chú ý
khi nghiên cứu nhu cầu ánh sáng của cây trong rừng.
Nhà sinh lý thực vật học người Nga Svett đã nghĩ ra phương pháp sắc
ký để tách ra riêng hai loại diệp lục a, b và xanthophyll. Ngày nay, phương
pháp sắc ký trên giấy được áp dụng rộng rãi.
Theo Rabinovitsh (1961), thì quang hợp là quá trình dinh dưỡng chính
của thực vật, nó gắn liền với việc tham gia của những hệ thống sinh học phức
tạp, đó là các sắc tố chứa trong lá cây. Hệ sắc tố hấp thụ năng lượng ánh sáng
mặt trời làm nguồn năng lượng cho quá trình quang hợp, thoát hơi nước và
sinh trưởng của thực vật. Sắc tố còn tham dự trong các phản ứng oxy hóa khử,
giữ vai trò như chất xúc tác truyền điện tử.
Nhiều tác giả đề cập đến việc nghiên cứu hệ sắc tố của một số loài cây
rừng như Liubimenko (1904 - 1919), Willstatter (1913 - 1918), Seybold và
Egle (1937 -1940), Gotnhev (1963), Popova (1965), Lê Đức Diên (1969) và
các tác giả khác. Song, hệ sắc tố của cây Hoàng đàn giả thì chưa có tài liệu
các nhân tố khác, đặc biệt là cường độ ánh sáng, lượng chứa CO2 trong không
khí. Theo H. Lundegaradth (1931) thì: khi cường độ ánh sáng yếu, CO2 ít,
nhiệt độ tốt nhất là 100C; khi cường độ ánh sáng bằng 1/25 ánh sáng toàn 9
phần, CO2 bình thường, nhiệt độ thích hợp là 180C; khi ánh sáng ở độ toàn
phần, CO2 bình thường thì nhiệt độ thích hợp là 200C. Theo Nightingale
(1935), nhiệt độ thấp hoặc quá cao, sự hình thành diệp lục bị giảm
Nước cũng là yếu tố rất cần thiết đối với sự sống còn của thực vật nói
chung. Chu trình cố định nước theo cây và sự mất nước vào không gian chung
quanh theo như cách phát biểu của K. A. Timiriazev là “điều tai hại cần
thiết”. Để đảm bảo cho lá quang hơp và hút CO2, cần có sự tiếp xúc trực tiếp
của những mô mỏng và mềm của tế bào và khoảng gian bào với không khí
bên ngoài. Điều đó không khỏi gây ra sự thiếu nước của thực vật và sự cần
thiết phải hút thêm lượng nước mới từ đất vào. Chỉ có cây ẩm sinh mới không
bao giờ cảm thấy thiếu nước. Song, đối với cây rừng sống ở núi cao, độ dốc
lớn, lượng nước giữ lại trong đất giảm và thay đổi theo địa hình khác nhau.
Cho nên cây muốn tồn tại, sinh trưởng và phát triển tốt phải có khả năng giữ
nước tốt.
Một số nghiên cứu cho thấy đa số cây rừng sinh trưởng thuận lợi khi có
lượng mưa bình quân năm vào khoảng 1.800 - 2.000 mm. Tuy nhiên, nếu
lượng mưa chỉ vào khoảng 1.500 mm, lại được phân bố đều trong năm thì cây
rừng vẫn có khả năng sinh trưởng tốt [112].
Đánh giá sức sinh trưởng và phát triển của cây rừng bao gồm nhiều
mặt. Trong đó áp suất thẩm thấu phần nào phản ánh được cây xanh có khả
năng thích nghi được ở các điều kiện khắc nghiệt hay không? Từ đó, ta biết
được khả năng chống chịu thích ứng của cây ở các điều kiện sinh thái và địa
hình khác nhau.
nhiên nhờ vi sinh vật có khả năng hấp thụ N để xây dựng nên cơ thể chúng
hoặc dùng làm nguồn thức ăn từ đó gián tiếp cung cấp nguồn đạm cho thực
vật bậc cao, động vật và cả con người.
Hàm lượng N trong cơ thể thực vật khá cao so với các nguyên tố khác,
khoảng 1 - 3% sinh khối khô. Một số thực vật có khả năng cố định N lên đến 11 7%. N là nguyên tố tham gia xây dựng nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng như
protein, acid nucleic, phospholipid. N có mặt trong các enzyme, coenzyme
(NAD, NADP, FAD, CoA ), N là nguyên tố tham gia cấu trúc phân tử diệp
lục (vòng porphyrine), cấu trúc các chất có hoạt tính sinh học cao như chất
điều hòa sinh trưởng (heteroauxin), vitamin nhóm B (B1, B6, B12), vitamin
PP, trong alkaloid (nicotine ở cây Thuốc lá, cafein ở Chè, Cà phê ).
Một số nhà bác học Mỹ, dùng đồng vị phóng xạ của chất carbon để
nghiên cứu đã thấy rằng: sản phẩm đầu tiên hình thành trong quá trình quang
hợp, khi nào cũng có chứa chất P trong phân tử của nó. Do đó, có thể kết luận
rằng P là rất cần thiết cho sự hút CO2. P cũng tham gia trong quá trình hô
hấp. Nó kết hợp với những loại đường thành chất hexophosphate.
P được cây hút vào dưới dạng muối khoáng của acid phossphoric
(H3PO4) hoặc pyrophosphoric (H4P2O7), còn ở dạng P hữu cơ thì không
đáng kể. Chức năng chính của P là tham gia vào sự hình thành nhiều hợp chất
hữu cơ quan trọng, tham gia vào quá trình trao đổi chất và năng lượng trong tế
bào. P có ý nghĩa trong quá trình trao đổi năng lượng nhờ các liên kết cao
năng trong hệ thống ATP, CTP, UTP, GTP P có ảnh hưởng sâu sắc đến quá
trình trao đổi nước và khả năng chống chịu của cây, điều chỉnh pH nội bào
nhờ sự liên kết giữa P với một số cation kim loại, P rút ngắn thời gian sinh
trưởng làm cho cây ra hoa kết quả sớm. Đặc biệt P có ảnh hưởng rất lớn đến
những dạng di động của nguyên tố này ở trong đất. Theo kết quả của những
nhà nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng độ chua của đất đến việc huy động Mn
của đất và sự hút Mn vào cây thì ở những vùng đất bón nhiều vôi, độ chua của
đất giảm nên sự hút Mn của cây giảm. Ngược lại, việc bón vôi có hệ thống
các dạng N-ammonium đã làm tăng độ chua của đất, lúc đó số lượng Mn trao
đổi và sự thu hút Mn vào cây tăng lên. Theo Katalymov M. V. và Riabova X.
L., độ ẩm trong đất ảnh hưởng lớn đến lượng Mn trao đổi. Cùng với việc tăng
độ ẩm, lượng chứa Mn trao đổi ở trong đất tăng đặc biệt khi độ ẩm trong đất 13 đạt 90% độ giữ ẩm hoàn toàn. Scharrev K., 1956, đã cho biết độ pH trong đất
ảnh hưởng lớn đến nhu cầu Mn của cây. Khi pH > 6,5 thì lượng Mn để đảm
bảo dinh dưỡng cho cây là 70 mg/kg đất, nên đa số ở độ pH này cây thiếu Mn.
Ngoài ra, tùy thuộc vào điều kiện khí tượng, những triệu chứng thiếu Mn có
thể mạnh lên (khi thời tiết khô) hoặc yếu đi cho đến mất hẳn (sau khi mưa).
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, Mn thúc đẩy sự oxyhóa
sắt ở trong cây. Do đó, khi thiếu Mn ở trong cây, lượng Fe tăng. Tỷ lệ giữa
những dạng hoạt động của Fe và Mn ở trong cây phải ở trong giới hạn 1,5 -
2,5. Khi tỷ lệ Fe : Mn cao hơn 2,5 đã thấy triệu chứng thiếu Mn hoặc thừa Fe;
nếu tỷ lệ đó thấp hơn 1,5 đã thấy triệu chứng thừa Mn.
Trong cây lượng Co từ 0,01 - 0,6 mg/kg chất khô. Trong đất lượng Co
thay đổi từ 1 - 15 mg/kg đất. Số lượng này thay đổi phụ thuộc nhiều vào
lượng chứa nguyên tố Co ở trong đá mẹ. Qua những số liệu do Korda V. A.
tổng hợp đã rút ra kết luận đá bazan là loại nham thạch hình thành đất giàu Co
nhất. Trong sét và sét pha, lớp trên đất rừng xám, cũng có khá nhiều Co [97].
Trong các nguyên tố vi lượng, Zn là một nguyên tố rất phổ biến trong
tự nhiên. Tuy chỉ với số lượng rất nhỏ nhưng nó có mặt khắp nơi. Zn tham gia
rừng và chất lượng đất rừng ở những vùng núi cao có độ dốc lớn thì vẫn còn
hạn chế. Cây trồng nói chung và cây rừng nói riêng muốn tồn tại và phát triển
tốt phải cần đến nhiều yếu tố, trong đó yếu tố ánh sáng là yếu tố không thể
thiếu được.
Tuy vậy, ánh sáng phân bố không đồng đều trên mặt đất, mà phụ thuộc
vào vĩ độ địa lí. Ngay trong cùng một vĩ độ, ở những nơi có độ cao khác nhau
so với mặt biển thì cường độ ánh sáng khác nhau: ở cao, lớp không khí mà tia
mặt trời phải đi qua mỏng hơn, nên ánh sáng có cường độ mạnh hơn, nhiều tia
cực tím hơn, vì vậy cây ở trên núi hấp thụ được nhiều bức xạ mặt trời hơn so
với những cây ở vùng thấp. Mặt khác, so với bên ngoài, chế độ chiếu sáng 15 trong rừng rất khác: trong rừng tối hơn, được chiếu sáng muộn hơn, nhưng lại
tắt nắng sớm hơn làm cho ngày ngắn đi. Đó là do sự che bóng của các cây gỗ
tầng trên. Càng xuống gần mặt đất của rừng độ che càng lớn và ánh sáng càng
ít, thời gian chiếu sáng trong rừng thường không vượt quá 1/2 thời gian chiếu
sáng ngoài rừng [76].
Trong rừng các cây gỗ ở tầng trên chỉ bị che bóng ở hai bên tán, nhưng
các cây con của chúng mọc ở dưới tán rừng lại bị chính bóng của tán cây mẹ
che phủ. Nếu các cây con cũng biểu hiện tính ưa sáng như cây mẹ ở tầng trên
thì chúng không thể tồn tại được. Để thích ứng với các điều kiện chiếu sáng
trong rừng, hầu hết các cây con của những cây gỗ ưa sáng ở tầng trên đều là
cây chịu bóng trong giai đoạn còn non. Chẳng hạn cây Quế còn non
(Cinnamonum cassia), Huỷnh (Tarrietia cochinchiensis) từ 4 - 5 năm tuổi mới
chuyển thành cây ưa sáng. Nếu các cây con này dưới 4 tuổi không có tán che
thì phát triển rất chậm hoặc bị chết [24].
Hiện nay, để nâng cao sản lượng và chất lượng cây trồng nói chung và
cực đại (tháng 9) cao gấp 3 lần so với tháng cực tiểu (tháng 3) biến thiên từ
0,78 - 2,20 mg/g lá tươi; ở cây Xà cừ, giới hạn biến thiên hẹp nhất cũng là 1,5
lần (từ 2,88 mg/g lá tươi tháng 3 đến 4,34 mg/g lá tươi tháng 9) [19,20,58].
Nhìn chung nhóm cây mọc trong điều kiện ít ánh sáng có hàm lượng
diệp lục cao hơn nhóm cây gỗ mọc trong điều kiện giàu ánh sáng, tỉ lệ diệp
lục (a/b) thấp. Tuy nhiên, trong nhóm cây chịu bóng vẫn có những loài chứa
hàm lượng diệp lục thấp (1-2 mg) như Lòng thuyền, Se nưa, Trong nhóm
cây ưa sáng vẫn có những loài hàm lượng diệp lục rất cao, tỷ lệ diệp lục (a/b)
thấp như Tếch, Bạch đàn, Mỡ đều có hàm lượng diệp lục thấp (2,2 - 2,5 mg/g
lá tươi), cây Tre ít ưa sáng hơn lại có hàm lượng diệp lục cao (10,63 mg/g lá
tươi), nhưng cây Xà cừ là cây ưa sáng nhiều lại có hàm lượng diệp lục cao
(4,34 mg/g lá tươi), cây Lim là cây ưa sáng ít lại có hàm lượng diệp lục thấp 17 (3,55 mg/g lá tươi). Điều đó chứng tỏ hàm lượng và tỷ lệ diệp lục có phụ
thuộc vào điều kiện sinh thái. Nhóm thực vật sống trong điều kiện ánh sáng
yếu có hàm lượng diệp lục cao hơn và hàm lượng diệp lục b tương đối giàu
hơn so với nhóm thực vật sống trong điều kiện ánh sáng mạnh. Nhưng, nó
không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chiếu sáng mà còn phụ thuộc vào điều kiện
lịch sử và đặc điểm trao đổi chất của loài [19].
Hàm lượng sắc tố vàng (carotinoid) ở các loài biến thiên trong một giới
hạn rộng (từ 0,34 - 1,85 mg/g lá tươi). Đa số loài từ 0,6 - 0,8 mg/g lá tươi.
Các loài giàu sắc tố vàng đồng thời cũng giàu sắc tố lục. Nhiều nghiên cứu
cho thấy cây ưa sáng là cây có lá trắng hơn, lá nhỏ hơn, lớp cutin dày hơn.
Các cây chịu bóng có lá to hơn, xanh đậm hơn, lá mỏng hơn, diệp lục b nhiều
hơn, do đó, tỷ lệ diệp lục a/b thường nhỏ hơn 3. Những cây ưa sáng thì tỷ lệ
này lớn hơn 3 và cây trung bình thì bằng 3 [19].
thống dẫn được xác định bởi tốc độ tiêu thụ của nó khi thoát hơi nước. Sự
thoát hơi nước lại phụ thuộc vào phức hệ, điều kiện ngoại cảnh (độ ẩm tương
đối của không khí, tốc độ gió, số lượng và cách sắp xếp khí khổng, v. v.)
Nước trong các mô sống không có giá trị như nhau. Một phần được di
chuyển tự do từ tế bào này sang tế bào khác và có thể dễ dàng lấy ra khỏi mô,
phần khác liên kết khá vững chắc. Nước liên kết trong tế bào do nhiều yếu tố
gây nên: do cấu trúc của nó ở cạnh các phân tử trùng hợp protein và acid
nucleic, do tham gia vào thành phần vùng hydrate hóa của keo và các hạt có
cực
Những dạng nước khác nhau về hoạt tính hóa học, để cho cây sinh
trưởng tốt, cần phải có tỷ lệ thích hợp giữa các dạng nước. Nắm được đặc
tính của chế độ nước đối với cây, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu cho việc
trồng rừng ở các địa hình phù hợp nhất, sớm đem lại sản lượng cao trong 19 trồng rừng nói chung cũng như việc khôi phục hệ sinh thái của VQGBM nói
riêng.
Kết hợp quan sát sinh thái và nhu cầu nước trong lá (áp suất thẩm thấu,
hàm lượng nước, nước tự do nước liên kết, ) và trong đất, chúng ta có thể
sớm đưa ra các thông số kỹ thuật cho việc trồng rừng.
áp suất thẩm thấu ở các cây rừng khác nhau, địa hình, khí hậu khác
nhau thì không giống nhau. Chẳng hạn như Bạch đàn có áp suất thẩm thấu:
13,25 atm, Đại hái: 6,75 atm, Lim: 10,75 atm, Mỡ: 7,25 atm, Xà cừ: 14,75
atm, Xoan: 12,75 atm [58].
1.2. tình hình nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học liên quan
đến cây Hoàng đàn giả
1.2.1. ở nƣớc ngoài
Sự kìm hãm mạnh quá trình sinh trưởng phần lớn là ở những cây trồng
trong điều kiện núi cao của vùng Pamin.
Trong những cây nghiên cứu có đường cong sinh trưởng một cực đại
trong thời kỳ ấm áp vào những giờ buổi chiều. Đặc tính đường cong của cây
phụ thuộc vào nhiệt độ và ánh sáng.
Một số tác giả khác như Malysev A. A. nghiên cứu đặc điểm sinh
trưởng và phát triển của cây trong vùng rừng núi khác nhau ở bắc Kavkaz.
A. P. Stesenko nghiên cứu đặc điểm hình thái sinh hóa chủ yếu của
cây vùng núi cao Pamin trong đó đề cập đến vấn đề sinh trưởng của cây, cấu
trúc bộ rễ, sơ đồ sự sinh trưởng của cây Eurotia ceratoides có độ tuổi 3-5 năm,
8-12 năm và cây trên 100 năm.
E. S. Borodin nghiên cứu sự phát triển cá thể của cây rừng vùng núi
cao Tashkent.
T. A. Glagolena, L. A. Filiniova nghiên cứu đặc điểm quang hợp của
cây vùng núi cao Pamin. 21 Iu. C. Nasinov, K. P. Rakhmania nghiên cứu quang hợp và chế độ
nước của cây vùng núi cao ở Tadjikistan thấy rằng sự thay đổi bộ máy quang
hợp thích nghi với vùng sinh thái. Quang hợp và chế độ nước của cây thay đổi
không chỉ do điều kiện ngoại cảnh mà còn ở điều kiện sinh thái của cây. Cây
trung sinh chịu hạn có cường độ quang hợp cao nhất. Những cây chịu hạn có
quá trình chuyển vận và đồng hóa thấp. ở những cây nghèo dinh dưỡng có sự
tăng trưởng về quang hợp, còn những cây ôn đới thì ngược lại, cường độ
quang hợp giảm.
O. A. Semikhatova nghiên cứu quá trình hô hấp ở thực vật núi cao.
R. M. Ruinus nghiên cứu sự thay đổi quá trình trao đổi khí CO2 phụ
xen với các loài Dacrycarpus imbricatus, Fokienia hodginsii, Cupressus spp
hoặc vùng rừng rậm lá ở độ cao 3000m . Riêng ở nước ta loài này được tìm
thấy ở dộ cao 700 - 2000m. Trong lần mghiên cứu này, các tác giả cũng định
lại tên chính thức là Dacrydium elatum thay tên củ của nó là Dacrydium
pierrei nhờ sự so sánh các mẫu trước đây[122].
M. Schmid khi nghiên cứu thực vật ở Tây Nguyên cũng đã đề cập đến
loài Hoàng đàn giả. Ông chủ yếu nghiên cứu về vùng phân bố và trong điều
tra của ông thì loài Hoàng đàn giả phân bố ở độ cao từ 500- 2000m tại phía
bắc Blao, bắc Đà Lạt, Lâm Đồng. Cũng trong nghiên cứu này theo M.
Schmid, tổ thành các loài cây chủ yếu có Hoàng đàn giả sinh sống gồm các
loài như Thông (Pinus khasya), Hồi (Illicium spp), Giổi (Talauma spp),
[123].
Nhìn chung các nghiên cứu về Hoàng đàn giả đã được đề cập trong các
nghiên cứu về thực vật vùng Đông Nam á. Các nghiên cứu này thường chỉ
nghiên cứu Hoàng đàn giả ở từng khía cạnh khác nhau về hình thái, phân loại,
phân bố, trên diện rộng, chưa có công trình nghiên cứu nào một cách toàn
diện và sâu sắc trên lãnh vực sinh lý- sinh thái về loài này trên phạm vi thế
giới, vùng và đặc biệt là ở VQGBM.
1.2.2. ở trong nƣớc 23 Sự phong phú và đa dạng của rừng mưa nhiệt đới ẩm ở nước ta đã gây
ra nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu tìm hiểu nó. Thái Văn Trừng (2000),
tác giả đã dựa trên những học thuyết về sinh địa quần lạc của Sucasôp và hệ
sinh thái của Tansley, để nghiên cứu các nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực
vật nhiệt đới và đã phân loại thành 14 kiểu thảm thực vật rừng trên toàn lãnh
thổ Việt Nam [80]. Ngoài ra, khi nghiên cứu về thảm thực vật tác già đã nhấn
Các chất khoáng trong đất là yếu tố cần thiết cho cây. Qua các chỉ tiêu
cơ bản N, P, K tổng số trong đất cho thấy hàm lượng các nguyên tố này đạt ở
mức thích hợp cho sự phát triển của cây rừng ở khu vực đang nghiên cứu. Cả
ba nguyên tố này đều tham gia trực tiếp vào sự chuyển hóa vật chất và năng
lượng trong cơ thể sống, tất cả chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá
trình quang hợp, hô hấp và sự sinh trưởng phát triển của thực vật.
Đã có một số công trình nghiên cứu về đất lâm nghiệp như:
Nguyễn Xuân Quát đã tiến hành phân tích 30 mẫu đất trồng thông nhựa
cho thấy: hàm lượng N tổng số từ 0,05% đến gần 0,2% đạt mức trung bình và
khá. P2O5 dễ tiêu từ 0,1-0,9 mg/100g đất, phổ biến từ 0,3-0,5 mg/100g đất.
K2O dễ tiêu từ 2-20mg/100g đất, phổ biến từ 5-15mg/100g đất.
Hoàng Xuân Tý từ 1973 đến 1984 đã có công trình nghiên cứu về điều
kiện đất trồng rừng Bồ đề. Đây là một loại cây gỗ phân bố ở vùng đồi núi Bắc
Bộ Việt Nam và một số khu vực thuộc Lào, Thái Lan Quá trình nghiên cứu
đã xác định được hàm lượng các chất dinh dưỡng trong các lâm phần Bồ đề,
ví dụ: ở lá cây tính theo sinh khối khô (kg/ha): N: 42.2, P: 3.8, K: 27.7, Ca:
10.7, Mg: 9.7, Mn: 94. Tác giả đã đưa ra được tiêu chuẩn đất trồng Bồ đề là
đất feralit đỏ vàng, đồi núi và núi thấp (<500m) trên các đá mẹ, với độ dày đất
được tính trên 50cm.
Kết quả phân tích đã cho thấy trừ loại đất đen nhiệt đới (feralit
macgalit) đa số các loại đất của nước ta kể cả đất phù sa trung tính và đất đỏ 25 bazan có hàm lượng các nguyên tố vi lượng ít hơn các loại đất tương tự ở các
nước khác ( như Trung Quốc, Myanmar, các nước Cộng hòa miền Nam Liên
Xô, )
Đến nay, đã tìm thấy trong đất có khoảng 45 nguyên tố nằm trong các