nghiên cứu nuôi sinh khối tảo thalassiosira sp làm thức ăn cho ấu trùng tu hài (lutrariarhynchaena jonas, 1884) từ giai đoạn ấu trùng chân bò đến giai đoạn giống cấp i - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
 TRẦN ANH TUẤN NGHIÊN CỨU NUÔI SINH KHỐI TẢO THALASSIOSIRA
SP LÀM THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG TU HÀI
(Lutrariarhynchaena Jonas, 1884) TỪ GIAI ĐOẠN ẤU
TRÙNG CHÂN BÒ ĐẾN GIAI ĐOẠN GIỐNG CẤP I Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã ngành: 60.62.70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGÔ ANH TUẤN
NHA TRANG - NĂM 2012

i

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính bản
thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và
chưa được ai công bố ở bất kỳ tài liệu nào.

Tác giả

Trần Anh Tuấn

iii
MỤC LỤC

1.5.3. Nghiên cứu về sản xuất giống tu hài ở Việt Nam. 21
iv
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 23
2.1.1. Thời gian nghiên cứu. 23
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu. 23
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu. 23
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu. 24
2.3. Môi trường thí nghiệm 24
2.4. Bố trí thí nghiệm 25
2.5. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 30
2.5.1. Phương pháp xác định các thông số môi trường. 30
2.5.2. Phương pháp xác định mật độ tế bào và tốc độ sinh trưởng của quần thể 30
2.5.3. Phương pháp xác định số lượng, tỷ lệ sống và sự tăng trưởng của ấu trùng 32
2.6. Phân tích và xử lý số liệu 33
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Ảnh hưởng của các môi trường dinh dưỡng đến sinh trưởng của quần thể tảo
Thalassiosira sp. 34
3.2. Nuôi sinh khối tảo Thalassiosira sp theo hình thức nuôi bán liên tục 37
3.2.1. Tốc độ sinh trưởng của quần thể tảo Thalassiosira sp 37
3.2.2. Sản lượng tảo Thalassiosira sp trong nuôi sinh khối theo hình thức bán liên
tục ở các tỷ lệ thu hoạch khác nhau 41
3.3. Ảnh hưởng của tảo Thalassiosira sp đến tốc độ tăng trưởng, thời gian biến thái
và tỷ lệ sống của ấu trùng tu hài từ giai đoạn ấu trùng Spat đến giai đoạn giống cấp
I 43
3.3.1. Ảnh hưởng của tảo Thalassiosira sp đến tốc độ tăng trưởng ấu trùng tu hài
từ giai đoạn ấu trùng Spat đến giai đoạn giống cấp I 43
3.3.2. Ảnh hưởng tảo Thalassiosira sp đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu
trùng tu hài từ giai đoạn ấu trùng Spat đến giống cấp I. 46
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49

Hình 1.1. Tế bào tảo Thalassiosira sp 3
Hình 1.2. Mô tả về động thái sinh trưởng của một quần thể tảo 5
Hình 2.1. Tảo giống 23
Hình 2.2. Ấu trùng Spat 23
Hình 2.3. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng lên sự phát
triển của tảo Thalassiosira sp 26
Hình 2.5. Khu vực bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng lên sự
phát triển của tảo Thalassiosira sp. 27
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm về nuôi sinh khối tảo Thalassiosira sp theo hình thức
nuôi bán liên tục. 28
Hình 2.7. Sơ đồ bố trí thí nghiệm về dùng tảo Thalassiosira sp làm thức ăn cho ấu
trùng tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas, 1884) giai đoạn ấu trùng xuống đáy (ấu trùng
spat) đến giai đoạn giống cấp I 29
Hình 2.8. Bể thí nghiệm về ương nuôi ấu trùng tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas,
1884) giai đoạn ấu trùng xuống đáy (ấu trùng spat) đến giai đoạn giống cấp I. 30
Hình 2.9. Thiết bị đếm mẩu 31
Hình 3.1. Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng lên phát triển của tảo Thalassiosira sp 36
Hình 3.2. Tốc độ sinh trưởng của quần thể tảo Thalassiosira sp trong nuôi bán liên tục.
39
Hình 3.3. Tăng trưởng của ấu trùng tu hài 45
Hình 3.4. Giai đoạn con non (Juvenile) 48
Hình 3.5. Giống cấp I 48
1

MỞ ĐẦU

Trong lĩnh vực sản xuất giống các đối tượng hải sản, vi tảo đóng một vai trò
quan trọng quyết định kết quả của cả đợt sản xuất. Với hàm lượng dinh dưỡng cao,
kích thước nhỏ (1-15µm) và tốc độ phát triển nhanh nên vi tảo được chọn nuôi cấy để

khối tảo Thalassiosira sp làm thức ăn cho ấu trùng tu hài (Lutrariarhynchaena
Jonas, 1884) từ giai đoạn ấu trùng chân bò đến giai đoạn giống cấp I”.
Thalassiosira sp là một loài tảo giàu dinh dưỡng mới được nhập nội vào nước ta nên
quy trình nuôi sinh khối chưa hoàn thiện, chưa có nhiều thử nghiệm về ứng dụng loài
tảo này làm thức ăn cho ấu trùng các loài động vật thân mềm.
Mục tiêu nghiên cứu:
 Xác định môi trường và tỷ lệ thu hoạch thích hợp để nuôi thu sinh khối tảo
Thalassiosira sp cho sản lượng cao nhất.
 Đánh giá hiệu quả việc sử dụng Thalassiosira sp làm thức ăn cho ấu trùng tu
hài giai đoạn ấu trùng chân bò đến giai đoạn giống cấp I.
Nội dung nghiên cứu:
 Nuôi sinh khối tảo Thalassiosira sp với các môi trường dinh dưỡng khác
nhau.
 Nuôi sinh khối tảo Thalassiosira sp theo hình thức nuôi bán liên tục.
 Thử nghiệm làm thức ăn cho ấu trùng tu hài từ giai đoạn ấu trùng chân bò
đến giai đoạn giống cấp I.
Ý nghĩa của đề tài:
 Kiểm chứng khả năng nuôi thu sinh khối và sử dụng làm thức ăn cho ấu
trùng tu hài.
 Ứng dụng vào việc nuôi sinh khối ngoài trời và làm thức ăn để phục vụ cho
các trại sản xuất giống nhân tạo các loài động vật thân mềm.
3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN


 Vỏ tế bào được cấu tạo bởi hai lớp: lớp trong là pectin và lớp ngoài là chất silic.
4
 Thể sắc tố: nhiều, nhỏ, hình hạt. Màu của tảo Thalassiosira sp thay đổi từ màu
nâu đến màu xanh hoặc màu vàng tùy thuộc vào số lượng của diệp lục.
 Nhân tế bào: mỗi tế bào có một nhân dạng hình cầu
 Tế bào chất trong suốt, tạo thành lớp mỏng nằm bên dưới thành tế bào hay tạo
thành khối nhỏ ở trung tâm với nhiều sợi sinh chất nối với thành tế bào.
1.1.3. Đặc điểm sinh sản[1];[10]
Thalassiosira sp sinh sản theo 2 kiểu phân chia tế bào và sinh sản bằng bào tử:
Phân chia tế bào:
Hai mảnh vỏ tách rời nhau ra, mỗi mảnh vỏ đều chứa tế bào chất với nhân và
thể màu. Các mảnh vỏ của tế bào mới được hình thành về sau chúng tạo thành mảnh
vỏ dưới. Do đó sau một số lần phân chia sẽ dẫn đến sự suy giảm kích thước tế bào từ
1/3 đến 1/2 kích thước ban đầu.
Sinh sản bằng bào tử:
Trong điều kiện bất lợi tảo Thalassiosira sp sinh sản theo hình thức bào tử nghỉ,
bào tử sinh trưởng (phục hồi độ lớn):
 Sự hình thành bào tử nghỉ: Gặp điều kiện bất lợi tảo silic hình thành bào tử nghỉ
bằng cách chất tế bào mất nước, co lại và tạo ra lớp vỏ tạm thời khá dày, nhiều
khi có gai nhưng vẫn nằm trong nắp cũ. Khi gặp điều kiện thận lợi trở lại thì
nắp vỏ ngoài tan đi và phát triển thành tế bào mới và sinh trưởng bình thường.
Các loài tảo trong bộ silic trung tâm thường có hình thức sinh sản này như chi :
Chaetoceros, Melosira, Thalassiosira,…
 Sự hình thành bào tử sinh trưởng: Khi kích thước tế bào giảm, tảo silic tiến
hành phục hồi lại kích thước ban đầu bằng cách phân chia đặc biệt hình thành
bào tử sinh trưởng.
 Sinh sản hữu tính theo kiểu tiếp hợp: Hai cá thể ở gần nhau tách nắp ra, chất
nguyên sinh kết hợp với nhau tạo hợp tử. Sau đó phân chia giảm nhiễm tạo vỏ
mới bao bọc bên ngoài và thành cơ thể mới.
1.1.4. Phân bố
1. Pha ban đầu.
2. Pha gia tốc dương: tế bào phân chia liên tục nhờ mật độ tế bào còn thấp
và môi trường giàu dinh dưỡng.
3. Pha gia tốc âm (hay pha giới hạn): tốc độ sinh trưởng chậm lại do môi
trường dinh dưỡng và ánh sáng bị hạn chế.
4. Pha cân bằng: số lượng tế bào ngừng tăng lên.
Thời gian nuôi
Mật
độ tế
bào
1

2

3

4

5

6
5. Pha tàn lụi: tế bào bị chết và phân hủy do chất lượng nước xấu đi và các
chất dinh dưỡng cạn kiệt tới mức không thể duy trì được sự sinh trưởng.
Trong thực tế, công việc nuôi tảo phải dừng lại do một số nguyên nhân khác
nhau gây ra, bao gồm sự cạn kiệt các chất dinh dưỡng, thiếu oxy, nhiệt độ quá cao, pH
thay đổi hoặc nhiễm tạp. Mấu chốt của thành công trong nuôi tảo là duy trì tảo ở pha
gia tốc dương. Giá trị dinh dưỡng của vi tảo có thể bị thay đổi rất lớn ở các pha phát
triển và dưới các điều kiện nuôi khác nhau. Kết quả nghiên cứu của Renaud, Thing &

C.(Coutteau, 1996) [21] (Lê Viễn Chí,
1996) [3].
7

Khi nuôi tảo ở nhiệt độ thích hợp thì tốc độ tăng trưởng của tảo tỷ lệ thuận
với nhiệt độ, nhiệt độ cao sinh trưởng càng lớn nhưng khi đó tảo sẽ đạt đến pha cân
bằng nhanh và tàn lụi cũng rất nhanh. Vì thế nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự
phát triển của tảo là rất cần thiết, xác định được khoảng nhiệt độ tối ưu, để từ đó lựa
chọn được các loài tảo nuôi phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
1.2.2.2. Ánh sáng

Ánh sáng là nguồn năng lượng chính cho quá trình quang hợp của thực vật nói
chung và vi tảo nói riêng. Cường độ ánh sáng, chất lượng quang phổ và chu kỳ quang
có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của tảo (Lê viễn Chí, 1996) [3]. Theo Kowallik
(1987), (trích theo Nguyễn Thị Hương, 2001 ) [8] thì ánh sáng màu xanh làm tăng hàm
lượng protein, còn ánh sáng màu đỏ làm tăng hàm lượng hydratcarbon. Theo Brand và
Guillard (1981) khi nghiên cứu trên 22 loài tảo cho thấy có một số loài tảo không tăng
trưởng trong điều kiện ánh sáng liên tục nhưng một số lại tăng trưởng rất tốt. Một số
loài tăng trưởng tốt nhất ở chế độ 14giờ chiều và 8giờ tối trong ngày. Ngoài ra cường
độ ánh sáng mạnh có thể làm tăng nhiệt độ trong bể nuôi, ảnh hưởng đến sự phát triển
của vi tảo, vì thế trong quá trình nuôi cần chú ý đến mối quan hệ giữa hai yếu tố ánh
sáng và nhiệt độ.
Ánh sáng đóng một vai trò quan trọng và yều cầu về điều kiện chiếu sáng thay
đổi theo độ sâu của khối nước và mật độ tảo: độ sâu càng lớn mật độ tảo càng cao thì
yêu cầu cường độ ánh sáng càng lớn để xuyên sâu vào nước. Thông thường trong
phòng thí nghiệm cần cường độ 1.000 lux cho nuôi bình tam giác, 5.000 – 10.000 lux
cho nuôi thể tích lớn. Trong nuôi sinh khối do độ sâu lớn nên ánh sáng thường bị che
khuất vì vậy làm giảm tốc độ sinh trưởng khi mật độ tế bào tăng lên, đây là một nhược
điểm hạn chế khả năng nuôi thu sinh khối trong các bể ngoài trời cần khắc phục.
1.2.2.3. Độ mặn (S‰)

+ OH
-

Trong quá trình quang hợp, tảo hấp thụ CO
2
mạnh nên thường làm pH tăng lên
rất cao. Khắc phục phương pháp này bằng cách sục khí có bổ sung khí CO
2
hoặc bổ
sung NaHCO
3
vào môi trường nuôi[17].
1.2.2.5. Môi trường dinh dưỡng
Mật độ của tế bào tảo trong nuôi sinh khối thường cao hơn nhiều so với mật độ
tảo trong tự nhiên. Do đó, việc bổ sung nguồn dinh dưỡng vào môi trường nuôi là vấn
đề thiết yếu giúp cho tảo sinh trưởng và phát triển.
Thành phần dinh dưỡng được bổ sung cho nước nuôi tảo được chia thành hai
loại đó là đa lượng và vi lượng. Thành phần của đa lượng gồm các muối nitơ, muối
phốt pho (xấp xỉ tỷ lệ 6 : 1), silicát (đối với tảo khuê). Thành phần dinh dưỡng vi
lượng gồm những yếu tố vi lượng như Cu, Fe, Mo, Mn, Zn…, các Vitamin như B
1
, B
6
,
B
12
. Hiện nay có rất nhiều loại môi trường dinh dưỡng khác nhau đang được sử dụng.
Môi trường bổ sung dinh dưỡng đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới và phù hợp
9
cho hầu hết các loài vi tảo nuôi hiện nay là môi trường Guillard F/2 (Guillard, 1975)

đó. Vì vậy, trong phạm vi đề tài này yếu tố môi trường được quan tâm nghiên cứu ảnh
10
hưởng của chúng lên sự phát triển của tảo Thalassiosira sp. Qua đó để xác định môi
trường phù hợp cho nuôi tảo sinh khôi và giảm chi phí sản xuất.
1.2.2.6. Chế độ sục khí
Để giúp cho tảo tiếp xúc được với các thành phần môi trường và tránh bị lắng
đáy thì cần thiết phải có sục khí. Ngoài ra, sục khí làm giảm sự phân tầng nhiệt trong
hệ thống nuôi, giúp cho các tế bào tảo luôn tiếp xúc với mức ánh sáng như nhau.
Việc sục khí còn giúp trao đổi khí giữa môi trường nuôi và không khí bên
ngoài, nhờ đó mà khí CO
2
được đưa vào môi trường nuôi tham gia vào quá trình quang
hợp của tảo và tạo hệ đệm CO
2
/HCO
3
- để ổn định pH.
Tùy thuộc vào quy mô, hệ thống nuôi mà sử dụng nhiều cách sục khí khác nhau
nhằm đảo bảo cho tảo phát triển tốt và tiết kiệm chi phí sản xuất[2].
1.3. Vai trò của vi tảo đối với nghề nuôi trồng thủy sản
1.3.1. Vai trò của vi tảo trong sản xuất giống hải sản
Thành phần hóa sinh thô của tảo gồm: Protein, hydratecarbon, lipid và khoáng
chất chiếm 90 – 95% khối lượng khô của tế bào tảo. Phần còn lại chủ yếu là acid
nucleic (chiếm từ 5 – 10%) (Brow. M, 1991) [19]. Thành phần này thay đổi khác nhau
tùy thuộc vào từng loài nuôi và điều kiện nuôi như chu kỳ chiếu sáng, bước sóng, nhiệt
độ, chế độ dinh dưỡng trong từng môi trường nuôi và thời gian thu hoạch ở các giai
đoạn tăng trưởng khác nhau[17].

Bảng 1.1: Thành phần sinh hóa của các loài vi tảo (tính theo khối lượng khô tế bào)


nuôi sinh khối là chưa đủ, cần phải xem xét thành phần sinh hóa của loài đó có đáp
ứng được nhu cầu của đối tượng nuôi hay không và đáp ứng ở mức nào. Trong nuôi tu
hài, việc kết hợp các loài tảo như Nannochloropsis sp, các loài tảo silic như
Chaetoceros sp, tảo roi Tetraselmis chui hay Isochry galbana làm thức ăn thường cho
tỷ lệ sống cao và tốc độ sinh trưởng nhanh.
Mổi loài tảo có thành phần sinh hóa khác nhau, để đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh
dưỡng cho đối tượng nuôi đòi hỏi người nuôi phải biết kết hợp nhiều loài với nhau trong
khẩu phần ăn để đáp ứng nhu cầu trong từng giai đoạn cụ thể của đối tượng nuôi.
Thalassiosira sp là loại tảo giàu dinh dưỡng, đặc biệt là các axit béo không no,
cacbohydrat, protei, khoáng. Với kích thước 4- 6 µm rất phù hợp với các trại sản xuất
giống động vật thân mềm (trong giai đoạn ĐVTM có kích thước 200 µm trở lên) có
nhu cầu cao về thành phần silic để hình thành vỏ và các trại sản xuất tôm giống từ giai
đoạn Mysis đến giai đoạn Post larvae. Nó làm tăng tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng
của các đối tượng trên.
1.3.1.1. Nuôi động vật thân mềm (ĐVTM).
Trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài ĐVTM nguồn thức ăn quan
trọng không thể thiếu đó là vi tảo, từ rất lâu người ta đã tìm cách thay thế tảo bằng
một số loại thức ăn khác như men bánh mì, vi khuẩn, thức ăn dạng vi hạt, tảo
khô…tuy nhiên tảo tươi vẫn là thức ăn quan trọng nhất và không thể thay thế.
Nhu cầu sử dụng vi tảo làm thức ăn cho ĐVTM thay đổi theo từng giai đoạn
sinh trưởng, chẳng hạn như giai đoạn ấu trùng đòi hỏi nguồn tảo tươi phải đảm bảo
thành phần dinh dưỡng đầy đủ cũng như phải sạch khuẩn. Giai đoạn hậu ấu trùng nhu
cầu về nguồn tảo có thể thấp hơn giai đoạn ấu trùng, tuy nhiên về mặt dinh dưỡng
cũng phải đảm bảo thành phần đầy đủ.[2] Giai đoạn bố mẹ, đòi hỏi nguồn tảo phải
đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng. Như vậy, khi nuôi động vật thân mềm cần
một số lượng rất lớn vi tảo.
Việc lựa chọn loài tảo để nuôi một đối tượng thân mềm cần phải xem xét thành
phần dinh dưỡng, kích thước của loài tảo và khả năng lọc của các giai đoạn ấu trùng có
12
phù hợp hay không. Nếu trong quá trình nuôi mà không đáp ứng đủ số lượng cũng như

thuộc vào kích thước tế bào, khả năng tiêu hóa và đặc biệt là thành phần sinh hóa của
13
tế bào. Chất lượng của đối tượng dùng làm thức ăn cho ấu trùng cá biển phụ thuộc vào
chất lượng tảo cung cấp cho nó.[2]
Hiện nay, luân trùng là một đối tượng đang được nuôi để là thức ăn trực tiếp
cho ấu trùng cá biển, thức ăn chính cho luân trùng là các loài vi tảo như N.oculata,
Tetraselmis. Nhờ kỹ thuật làm giàu luân trùng mà chúng ta có thể cung cấp trực tiếp
các acid amin tự do, peptit hoặc protein thông qua thức ăn cho ấu trùng cá khi đang ở
giai đoạn noãn hoàng.
1.4. Nghiên cứu và ứng dụng vi tảo phục vụ nuôi hải sản.
1.4.1. Thế giới.
Việc nghiên cứu nuôi vi tảo làm thức ăn tươi sống cho động vật thủy sản nói
chung được bắt đầu hai thập kỷ trước nhưng thành công còn rất hạn chế (Watanabe và
ctv,1994).
Bảng 1.2. Các loài tảo được phân lập và sử dụng nuôi.
(Theo Huei Meei Su, Mao Sen Su and I Chiu Liao, 1994).
Cyanophyceae

Synechococcus sp
Ankistrodesmus convolutus
Carteria golobosa
Chlorella ellipoidea
Oocystis borgei
Prasinophyceae

Tetraselmis sp
Tetraselmis chui
Tetraselmis subcordiformis
Tetraselmis suecica
Tetraselmis tetrathele

costatum sử dụng làm thức ăn cho tôm Penaus japonicus. Ông đã sử dụng hai phương
pháp: Phương pháp đầu tiên là phân lập loài tảo mong muốn từ nước biển tự nhiên, sau
đó bổ sung nguồn dinh dưỡng, ánh sáng, sục khí để phát triển. Dưới những điều kện
khống chế, phương pháp này có thể tiến hành sản xuất đại trà vi tảo theo yêu cầu. Đây
là bước cơ bản nhất cho sự phát triển tảo trong ngành nuôi trồng thủy sản ngày nay.
Phương pháp thứ hai là điều khiển tảo phát triển nở hoa. Fujinaga đã tiến hành vào
năm 1946. Nước biển tự nhiên sau khi lọc qua than đã được bổ sung nguồn phân bón
vô cơ và chiếu sáng, nhiều loài tảo sẽ phát triển nở hoa. Sau đó phương pháp tương tự
này đã được Loosanoff (1951) và Davis (1963) (trích theo Fulks và Main, 1991) [27].
thực hiện dùng làm thức ăn cho bọn hai mảnh vỏ. Khi phân bón được bổ sung trực tiếp
vào bể nuôi tôm, không chỉ tảo phát triển mà Trùng bánh xe và Chân mái chèo cũng
phát triển theo. Những sinh vật này là thức ăn lý tưởng cho tôm ở giai đoạn ấu trùng
và hậu ấu trùng.
Tại Trung Quốc, nghiên cứu nuôi tảo đã được bắt đầu từ những năm 1940 (Guo
và cộng sự, 1959) [25] đã phân lập và nuôi hai loài tảo đơn bào Tetraselmis sp. và
Dunaliella sp. Jin và cộng sự (1956) (trích theo Chen, 1991) [20], nghiên cứu điều
kiện tăng trưởng tốt nhất của ba loài tảo khuê dùng trong nuôi trồng thủy sản. Từ
những năm 1980, nhiều loài đã được tiến hành phân lập và phát triển nuôi đại trà như
Tetraselmis subcordiformis, Chaetoceos muelleri, Isochrysis galbana, Pavlova
viridis…Tất cả các loài tảo này đều phát triển rất tốt ở nhiệt độ 25
o
C. Gần đây, qua
phân tích thành phần hóa sinh 6 loài tảo cho thấy rằng Pavlova viridis có hàm lượng
Protein cao nhất (trên 62,25%) (Chen, 1991) [20].
Đối với động vật thân mềm hai mảnh vỏ, có các loài tảo đơn bào được nuôi làm
thức ăn như: Platymonas sp; Chaetoceros muelleri; Chlorella sp; Isochrysis galbana;
Nannochloropsis sp; Thalassiosira sp; Amphiprora sp, được sử dụng trong sản xuất
nhân tạo điệp Pectinopecten yessensis (Khang Hu, Cheng & CTV, 1982), Chlamays
15
nobilis (Toma, Teruya & Ohshira, 1983); Nghêu Meretrix lusoria (Chen, 1984),

Nannochloropsis salina
Nannochloropsis oculata
3x5
3x5
4x6
5-8
3-6
4-5
10x5
15x19
8-12
6
12x4
30x5
3x2
3

n.d
-
+
-
+
+
-
++
++
-
+
++
++

-
++
++
++
++
++
+
+
+
+
+
+
+
++
++
+
+
+
++
++
+
++
+ +


 Mức độ sử dụng tảo cho nuôi BV: Bivavial; AT-T: ấu trùng tôm; J-A: bào ngư
con; ĐVPD: động vật phù du; ++ được dùng nhiều hơn +.
 Giá trị dinh dưỡng: -, dưới 0.2% của hàm lượng acid béo tổng cộng; ++, 1-5 %;
+++, trên 20 %; và nd, không được xác định.

16
1.4.2. Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam phát triển mạnh phong trào nuôi các đối
tượng hải sản kinh tế như: giáp xác, thân mềm và cá biển. Việc sản xuất giống các đối
tượng này (đặc biệt là thân mềm) cần đến một lượng lớn vi tảo để làm thức ăn cho
giai đoạn ương nuôi ấu trùng và nuôi vỗ bố mẹ. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó các
nhà nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản trong nước đã bắt tay vào việc xây dựng quy
trình nhân giống và nuôi sinh khối các loài tảo, qua đó đã mạng lại thành công lớn cho
các trại sản xuất giống hải sản.
Các công trình nghiên cứu và ứng dụng vi tảo trong sản xuất giống Hải sản đã
thành công phải kể đến:
Từ năm 1974, trường Đại học Thủy sản đã thử nghiệm nuôi tảo S. costatum trong
phòng thí nghiệm (Hoàng Thị Bích Mai, 1995) [9]. Sau đó các năm 1976 – 1984, Viện
nghiên cứu Hải sản , Hải Phòng đã có nhiều nghiên cứu về tảo silic hỗn hợp và
S.costatum của kỹ sư Lê Viễn Chí và Vũ Dũng. Năm 1989, trại giống Non Nước (liên
doanh Vatech) Đà Nẵng đã phân lập và nuôi đại trà S.costatum làm thức ăn ấu trùng
tôm đạt kết quả. Tháng 11/1989, nhóm nghiên cứu đề tài của Trung tâm nghiên cứu
Thuỷ sản III đã phân lập được S.costatum tại vùng biển Nha Trang và nuôi đại trà làm
thức ăn cho tôm sú đạt kết quả tốt (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1991) [Error! Reference
source not found.].Trại sản xuất tôm giống Qui Nhơn đã rất thành công trong việc sử
dụng tảo Skeletonema costatum làm thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng tôm.
Trung tâm nghiên cứu Thủy Sản III đã tiến hành nuôi các loài tảo Isochrysis
galbana, Nanochlorosis oculata, chaetoceros muelleri sử dụng làm thức ăn để nuôi ấu
trùng Điệp Quạt (Chalamis nobilis) và đạt được những kết quả khả quan. Viện nghiên
cứu Thủy Sản Hải Phòng cũng đã thành công trong việc sử dụng C.calcitrans,

sp và thử nghiệm nuôi thu sinh khối và làm thức ăn cho tu hài giai đoạn ấu trùng Spat
cũng xuất phát từ thức tế đó.
1.4.3. Các hình thức nuôi tảo.
 Nuôi thu hoạch toàn bộ:
Hình thức nuôi này bổ sung dinh dưỡng một lần ngay từ đầu, mật độ tảo được
cấy vào thấp. Tiến hành thu toàn bộ thể tích nuôi khi tảo phát triển đến giai đoạn giữa
hoặc cuối logarite.
 Ưu điểm: môi trường nuôi ít bị ô nhiễm, dễ làm, thời gian nuôi ngắn.
 Nhược điểm: dễ bị tảo khác lấn át do thời gian đầu mật độ tảo còn thấp
và môi trường còn rất giàu dinh dưỡng, sản lượng thấp.
18
 Nuôi bán liên tục (Semi – continuous culture):
Hình thức nuôi này thì tảo được thu hoạch từng phần theo định kỳ, sau đó bổ
sung nước và môi trường dinh dưỡng để duy trì thể tích ban đầu. Tảo được thu hoạch
và pha loãng ở cuối pha logarite.
 Ưu điểm: duy trì được sự sinh trưởng của tảo trong thời gian dài, chất
dinh dưỡng vả thành phần sinh hóa ổn định, sản lượng cao, phù hợp
với điều kiện các trại sản xuất giống, tiết kiệm nhân công và chi phí
sản xuất.
 Nhược điểm: môi trường nuôi dễ bị ô nhiễm.
 Nuôi liên tục:
Tảo nuôi sẽ được thu hoạch liên tục theo một tỷ lệ pha loãng nhất định và sẽ
được cung cấp thường xuyên môi trường dinh dưỡng. Tảo nuôi duy trì được tình trạng
phát triển ổn định ở một tốc độ tăng trưởng tốt nhất. Hình thức nuôi này khắc phục
được giới hạn về dinh dưỡng và ánh sáng khi mật độ tăng cao, tảo có thể được cung
cấp liên tục theo nhu cầu sản xuất.
Nuôi liên tục có thể chia thành hai dạng sau:
 Nuôi ổn định hàm lượng phân bón (Chemostat culture):
Tảo nuôi được thu hoạch và pha loãng liên tục theo một tỷ lệ không đổi bằng
dòng môi trường chảy vào và dòng chảy ra để thu hoạch tảo, giữ cho hàm lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status