SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ TRANG
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG HÀ TĨNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn khoa học:
Th.S TRẦN THU THỦY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Quản trị kinh doanh
Lớp: K1B-QTKD Khóa: 2008-2012 Người hướng dẫn khoa học:
ThS TRẦN THU THỦY Hà Tĩnh, 2012
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và số liệu
trong khóa luận chưa được ai công bố dưới hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Hà Tĩnh, ngày 12 tháng 06 năm 2012
Tác giả:
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty 26
Bảng 2.2: Tổng hợp và so sánh kết quả dự thầu qua các năm của công ty 28
Bảng 2.3: Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong 2 năm 2010-2011 30
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu về tài sản của công ty 32
Bảng 2.5: Năng lực máy móc thiết bị nhà thầu của công ty 33
Bảng 2.6: Tình hình lao động của công ty giai đoạn 2009-2011 42
Bảng 2.7: Số lượng các công trình trúng thầu qua các năm 43
Bảng 2.8: Giá trị các công trình giai đoạn 2009-2011 44
Bảng 2.9: Thị phần chiếm lĩnh của các công ty trên địa bàn Hà Tĩnh 46
Bảng 2.10 Mô hình SWOT 50
công nghệ, đất đai nhà xưởng, máy móc thiết bị, lao động…
Hiện nay, cùng với chủ trương luật hoá hoạt động đấu thầu thì phương thức đấu
thầu đã trở thành một phương thức cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng.
Bên cạnh đó, do đặc trưng của ngành, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp xây dựng lại được bắt đầu bằng hoạt động tiêu thụ thông qua việc kí kết hợp
đồng xây dựng. Chính vì vậy, tất cả sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng giờ đang đều
phụ thuộc vào khả năng thắng thầu và hợp đồng bao thầu xây dựng các công trình.
Tuy nhiên, ở nước ta, hoạt động đấu thầu nhìn chung mới chỉ tiến hành ở một
vài năm trở lại đây và chưa hoàn chỉnh về nhiều mặt. Cùng với điều này, nhiều
doanh nghiệp xây dựng cũng đang phải tự điều chỉnh để tiến tới thích ứng hoàn
toàn với phương thức cạnh tranh mới. Vì thế, công tác đấu thầu tại các doanh
nghiệp này không tránh khỏi bất cập và gặp những khó khăn dẫn đến hiệu quả
không cao, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, việc làm của người lao động cũng
như tình hình sản xuất chung của đơn vị.
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh, tôi
nhận thấy vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh trong công tác đấu thầu xây
dựng là một vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty. Với mong muốn được góp phần giải quyết yêu cầu đó, tôi
mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp nhằm tăng
khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần tư vấn
và xây dựng Hà Tĩnh" để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
2
o Đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty CP tư
vấn và xây dựng Hà Tĩnh
o Hệ thống hóa những vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
o Đề tài nhằm làm rõ và đánh gía năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của
Vì thời gian thực tập và kiến thức của tôi còn hạn chế cho nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Do vậy tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô
giáo trong khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh cũng như Ban lãnh đạo cùng các cán bộ
nhân viên trong Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
4
CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH
VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
1.1 Tổng quan về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại hàng
hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Đây là một điều tất yếu và
là đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường. Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát
triển của nền sản xuất hàng hoá.
Hiểu theo nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường, khách hàng và các điều kiện thuận lợi
trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành
về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Cạnh tranh là một điều tất yếu
khách quan của nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận
cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế
tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhằm thu
lợi nhuận tối đa, kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém và giúp
phát triển các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thì cuãng là
lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh được thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày
Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy
luật mua rẻ bán đắt, cả 2 bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Người bán muốn
bán với giá cao nhất còn người mua muốn mua với giá thấp nhất nhưng chất lượng
phải được đảm bảo và mức giá cuối cùng cũng là mức giá thỏa thuận giữa 2 bên.
Cạnh tranh giữa người mua với người mua: Là cuộc cạnh tranh được dựa trên cơ
sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu hàng hóa trên thị
trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẵn
sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
6
những người mua, kết quả là giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được
lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi về cả giá cả và chất lượng.
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc chiến tranh gay go và ác
liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách
hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp phải luôn ganh đua và loại trừ
nhau để giành ưu thế và lợi thế cho mình.
Cuộc canh tranh này diễn ra ở các góc độ: giá cả, chất lượng, hình thức, nghệ thuật
tổ chức bán hàng, thời gian…
Kết quả cuộc cạnh tranh này là kẻ mạnh (cả về khả năng vật chất và trình độ chuyên
môn) sẽ là người chiến thắng còn những doanh nghiệp nào không có đủ tiềm lực sẽ bị
thua cuộc và bị loại bỏ ra khỏi thị trường.
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất mức độ cạnh tranh
Theo tiêu thứ này cạnh tranh được chia làm 2 loại:
Cạnh tranh hoàn hảo: hay còn gọi là cạnh tranh thuần tuý, là hình thức cạnh tranh
trong đó giá cả của một loại hàng hoá là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị
trường; các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác, chi
phí vận tải không đáng kể và không đề cập tới .
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiêp nhỏ sản xuất một mặt
được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt
của hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày
càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp thậm chí còn có thể
bị phá sản.
Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm
đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các
doanh nghiệp của một ngành với ngành khác. Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều
kiện kỹ thuật và các điều kiện khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu
vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào
ngành này sẽ thu được lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Điều đó dẫn đến tình trạng
nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuân thấp có xu
hướng chuyển sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là
biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành. Kết quả là những ngành trước kia
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
8
có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng. Dẫn tới cung
vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi
nhuận và ngược lại
1.2 Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.2.1 Khái niệm khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Hiện nay một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trường và ngày
càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh. Khả năng cạnh tranh của
một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó
một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít
nhất bằng tỉ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo đó cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng được hiểu như sau: Theo nghĩa hẹp: “
Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình các doanh nghiệp xây dựng ganh đua
nhau đưa ra các giải pháp về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thi công để xây dựng công
trình thỏa mãn một cách tối ưu các yêu cầu của bên mời thầu”. Theo nghĩa rộng: “
của địa phương nơi dự án được thi công.
Việc xây dựng giá dự thầu phụ thuộc vào mục tiêu đấu thầu của nhà thầu như kiếm
lợi nhuận, công ăn việc làm hay mở ra thị trường mới. Mỗi nhà thầu xây dựng một
mức giá khác nhau với mục tiêu đạt được khác nhau. Tùy theo từng công trình cụ thể,
tiềm lực nguồn lao động, khả năng về vốn, thiết bị máy móc… mục tiêu đấu thầu có
chính sách định giá khác nhau trong việc quyết định giá bỏ thầu.
Phương thức 2: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
Chất lượng công trình là tập hợp tất cả các thuộc tính của công trình trong điều kiện
nhát định về kinh tế kỹ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt
khác nhau về cơ, lý, hóa của công trình mà chủ đầu tư đặt ra. Doanh nghiệp phải luôn
giữ vững và nâng cao chất lượng công trình. Đó là điều không thể thiếu nếu doanh
nghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy chất lượng công trình là
vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp xây dựng. Nâng cao chất lượng công trình có ý
nghĩa quan trọng nó thể hiện ở các giác độ:
- Chất lượng công trình tăng lên sẽ góp phần tăng uy tín của doanh nghiệp, năng
cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường.
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
10
- Nâng cao chất lượng công trình góp phần nâng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Trong phương thức cạnh tranh bằng chất lượng công trình các nhà thầu xây dựng
không chỉ cạnh tranh bằng chất lượng thực hiện cam kết của công trình đang được đấu
thầu xây dựng mà còn cạnh tranh với nhau qua chất lượng xây dựng của các công trình
đã và đang được xây dựng.
Chất lượng là yếu tố chủ yếu của mỗi loại sản phẩm sản xuất ra, chất lượng của sản
phẩm là một công trình xây dựng lại càng quan trọng cũng chính vì vậy chất lượng
công trình là một công cụ mạnh để cạnh tranh trong đấu thầu xâu dựng.
Phương thức 3: Cạnh tranh bằng tiến độ thi công
Tiến độ thi công thể hiện ở việc bố trí tổng thể của doanh nghiệp trong công tác thi
cột 3 và cột 4 cho biết mức tăng trưởng qua từng năm được tính toán bằng việc so sánh
qui mô của năm sau với năm trước: cột 5 cho biết qui mô giá tri bình quân một công
trình trúng thầu biểu hiện khả năng của doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu và
trúng thầu các công trình có qui mô lớn hay nhỏ.
Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát kết quả dự thầu của doanh nghiệp. Qua đó
có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và biết quy
mô của các công trình mà doanh nghiệp đã trúng thầu. Từ đó thấy được khả năng, tiềm
lực của doanh nghiệp.
1.3.2 Chỉ tiêu xác suất trúng thầu
Xác suất trúng thầu trong đấu thầu xây dựng là những công trình mà công ty tham
gia dự thầu sẽ có bao nhiêu công trình công ty thắng thầu nó được biểu hiện dưới 2
mặt đó là số lượng và giá trị các công trình.
Chỉ tiêu xác suất trúng thầu được xác định theo hai mặt biểu hiện là:
+ Xác suất trúng thầu theo số hợp đồng công trình
Ltt
K1= x 100%
Ldt
Trong đó: K1 là xác suất trúng thầu theo số hợp đồng (%)
Ltt: Tổng số lần trúng thầu
Ldt: Tổng số lần tham gia dự thầu
+ Xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng:
Gtt
K2= x 100%
Gdt
Trong đó: - K2: Xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng (%)
- Gtt: Tổng giá trị hợp đồng thắng thầu
- Gdt: Tổng giá trị hợp đồng tham gia dự thầu
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
12
việc có hiệu quả.
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
13
Đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của bộ máy quản lý từ Giám đốc doanh nghiệp đến cán bộ kỹ thuật, trình độ tay
nghề và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân.
* Cán bộ lãnh đạo:
- Phải là người có trình độ, có khả năng nhận thức, nắm bắt được các quy luật khách
quan và vận dụng các quy luật đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phải có kỹ năng dẫn dắt tập thể lao động trong doanh nghiệp theo đúng pháp luật,
tạo đủ công ăn việc làm và cuộc sống ổn định cho tập thể người lao động.
- Có thể chọn và tạo một ekip chỉ đạo, vận hành doanh nghiệp theo đúng dự kiến
của mình.
Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo của một doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư thường
quan tâm đến các tiêu thức: kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý, các hoạt động của
doanh nghiệp và các mối quan hệ. Sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết, đồng lòng của
cán bộ công nhân viên cũng như ekip lãnh đạo. Điều này sẽ làm tăng sức mạnh của
doanh nghiệp và tạo ra uy tín đối với chủ đầu tư.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo sẽ quyết định đến phương thức làm việc trong công ty,
cách bố trí các công việc và nhân công như thế nào sao cho phù hợp… điều này có ảnh
hưởng tới tiến độ thi công các công trình, chất lượng của mỗi công trình từ đó năng cao
hay làm giảm uy tín của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của Công ty.
* Cán bộ điều hành và quản lý kỹ thuật:
Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi cán bộ điều hành và cán bộ quản
lý kỹ thuật phải có những phẩm chất sau:
- Hiểu rõ ý đồ của cấp trên để tự giác thực hiện nghiêm túc nhằm đạt được mục tiêu
chung đề ra.
- Năng động, sáng tạo trong điều hành thiết kế tổ chức thi công đã vạch ra.
- Có kinh nghiệm quản lý, điều hành thi công, nắm vững kỹ thuật.
nghệ với điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất
lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra.
- Tính hiệu quả: thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, từ
đó tác động dến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực
vật chất sẵn có, phục vụ cho mục đích cạnh tranh.
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
15
- Tính đổi mới: là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởng rất nhiều đến các mặt
hoạt động của doanh nghiệp. Yếu tố kỹ thuật quyết định việc lựa chọn, bố trí con
người và thiết bị một cách hài hòa nhằm đạt được tiêu chuẩn về chất lượng rút ngắn
tiến độ thi công công trình, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng
lợi thế cạnh tranh.
1.4.1.3 Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động các
nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Mặt
khác để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét giữa vốn cố định
và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng.
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu nhiều công
trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng kịp
thời quy trình công nghệ hiện đại. Đồng thời sẽ tạo được niềm tin đối với các tổ chức
tín dụng và các nhà cung cấp vật tư hàng hóa.
Năng lực về tài chính mạnh sẽ tác động tích cực đến quá trình đấu thầu:
- Trước hết nó giúp doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong điều
kiện giới hạn về vốn
- Thứ hai, nó tạo niềm tin nơi chủ đầu tư về khả năng quản lý hiệu quả đồng vốn
được giao
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh là yếu tố quyết định tới khả năng
của công ty và có những biện pháp điều chỉnh, bổ sung kịp thời các yếu tố nguồn lực
cho phù hợp với đòi hỏi của thực tế.
Thu thập các thông tin về đối thủ cạnh tranh của công ty thông qua các mặt mạnh
yếu của công ty để có chiến lược cạnh tranh phù hợp.
Nghiên cứu thị trường về các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu (nguồn cung
cấp nguyên vật liệu, giá cả, các vật liệu thay thế), lao động (khả năng thuê lao động
nhất là lao động có tay nghề, chi phí liên quan đến thuê lao động, khả năng tận dụng
các lao động có tính chất thời vụ cho các công việc ít quan trọng), thiết bị thi công…
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
17
Tiến hành nghiên cứu vào chủ đầu tư, sở thích, thị hiếu, uy tín và tiềm lực tài
chính. Đây là căn cứ để xem công ty có nên hợp tác đầu tư với chủ đầu tư đó hay
không, là nguồn tin quan trọng cung cấp cho quá trình lập hồ sơ dự thầu được tốt hơn.
Thu thập thông tin các nguồn vốn đầu tư xây dựng trong từng thời kỳ như: vốn
ngân sách, vốn ODA, vốn FDI, các nguồn vốn vay ngắn hạn dài hạn khác.
1.4.1.5 Văn hóa tổ chức
Mỗi doanh nghiệp đều có một phong cách văn hóa trong hoạt động của mình, nó
ảnh hưởng đến phương thức thông qua quyết định của người lãnh đạo , quan điểm của
họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức
là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính, bầu không khí của doanh nghiệp mà khi liên kết
với nhau tạo nên phương thức hoạt động, thực chất văn hóa tổ chức của doanh nghiệp
là cơ chế doanh nghiệp tương tác với môi trường.
Văn hóa tổ chức có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực hiện
chiến lược hay ngược lại là ưu điểm thúc đẩy hoạt động đó. Các doanh nghiệp có văn
hóa tổ chức tốt, tích cực có nhiều cơ hội để thành công hơn so với các doanh nghiệp có
văn hóa tổ chức yếu kém, tiêu cực.
1.4.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
1.4.2.1 Yếu tố chính phủ và chính trị:
Thị trường có tác dụng như một “ bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế. Song nếu
Các vấn đề cần xem xét về đối thủ cạnh tranh:
Điều gì mà đối thủ cạnh tranh muốn đạt tới
Mục đích tương lai
Điều gì đối thủ cạnh tranh đang làm và
có thể làm được ?
Chiến lược hiện tại
Nhận định Các tiềm năng
(Bao gồm cả mặt mạnh và mặt yếu)
Các vấn đề cần trả lời về đối thủ cạnh tranh
- Đối thủ có bàng long với vị trí hiện tại không ?
- Khả năng đối thủ chuyển dịch và đổi hướng như thế nào?
- Điểm yếu của đối thủ cạnh tranh là gì ?
- Điều gì có thể khiến đối thủ cạnh tranh một cách mạnh mẽ và có hiệu quả
nhất.
SV: Nguyễn Thị Trang Lớp K1b - Quản trị kinh doanh
19
Về mục đích tương lai: Sự hiểu biết mục đích của đối thủ cạnh tranh giúp doanh
nghiệp đoán biết được:
- Mức độ mà đối thủ cạnh tranh bằng lòng với kết quả tài chính và vị trí hiện tại của họ
- Mức độ mà đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược như thế nào?
- Sức mạnh phản ứng của đối thủ trước những diễn biến bên ngoài
- Tính chất hệ trọng của các sáng kiến mà đối thủ đề ra
Các yếu tố chủ yếu cần điều tra liên quan đến các mục đích của đối thủ cạnh tranh là:
- Các mục đích về tài chính
- Thái độ với các rủi ro
khách hàng đôi khi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp. Sự thỏa mãn đó đạt
được do biết thỏa mãn một cách tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với
đối thủ cạnh tranh.
Một vấn đề khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ, người mua có
ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của cả doanh nghiệp giảm do họ ép giá hoặc đòi hỏi chất
lượng cao hơn, nhiều dịch vụ đi kèm hơn, ưu thế đó là do các điều kiện sau tạo nên:
- Lượng hàng hóa người mua chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng hàng bán ra
- Việc chuyển sang mua hàng người khác không gây nhiều tốn kém.
- Sản phẩm của người bán ra ít ảnh hưởng đến sản phẩm của người mua.
1.4.2.4 Quyền lực nhà cung cấp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ
chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như: vật tư, máy móc thiết bị, nguồn tài
chính, nguồn nhân lực… Người cung ứng vật tư thiết bị sẽ tận dụng mọi ưu thế để tăng
thêm lợi nhuận của mình thông qua việc tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc
giảm dịch vị đi kèm.
Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về
giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng. Khả năng thương lượng về giá cả của các
nhà cung cấp tùy thuộc vào mức độ và chất lượng hàng hóa hay dịch vụ mà họ dự định
cung ứng cho doanh nghiệp. Những ưu thế và đặc quyền của nhà cung cấp cho phép
họ có những ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp. Các nhà cung cấp có thế lực
mạnh khi họ có các điều kiện sau: