Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Vận dụng phơng pháp dạy và học tích cực vào dạy tiết
ôn tập tiếng việt
Lời nói đầu
Nh chúng ta đã biết nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục trong thời
kì đổi mới là nhằm xây dựng, đào tạo những con ngời, những thế hệ có năng lực
tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Phát huy tiềm năng dân tộc và tính
tích cực cá nhân làm chủ tri thức, có kĩ năng thực hành giỏi, có t duy sáng tạo, có
tác phong công nghiệp, có tính tổ chức, tính kỉ luật, sức khỏe để xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc.
Để đạt đợc nhiệm vụ trên thì giáo dục phải đợc coi là nhiệm vụ của toàn đảng,
toàn dân, toàn xã hội, trong đó nhà trờng giữ vai trò quan trọng nhất.
Với nhà trờng phổ thông ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức, phẩm
chất của ngời lao động mới còn phải trang bị cho các em tình yêu thơng, tinh thần
hợp tác, đoàn kết và lòng nhân ái. Trong đó việc trang bị cho HS những tri thức
khoa học cũng là một nhiệm vụ cơ bản vì tri thức là chìa khóa mở cửa cho tất cả
các bộ môn khoa học.
Mỗi môn học trong nhà trờng đều có đặc thù riêng, một phơng pháp nhận
thức. Đặc điểm bộ môn và phơng pháp nhận thức có nghĩa hết sức quan trọng trong
quá trình tìm tòi và thiết kế những giải pháp dạy và học bộ môn.
Đối với môn nhữ văn : Là một môn học có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện
mục tiêu chung của nhà trờng THCS . Góp phần hình thành con ngời có ý thức tu d-
ỡng, biết yêu thơng, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã
hội, biết hớng tới những t tởng, tình cảm cao đẹp nh lòng nhân ái, tinh thần tôn
trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái sấu cái ác. Bớc đầu có năng lực cảm
thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trớc hết là trong văn học, có năng
lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng việt nh một công cụ để t duy và giao tiếp.
Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế giảng dạy tôi mạnh dạn đa ra một số phơng
pháp để dạy tốt một tiết ôn tập Tiếng Việt. Đề tài này cũng mới chỉ là ý kiến chủ
quan của cá nhân tôi chắc chắn có nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc các ý
kiến góp ý của cấp trên và đồng nghiệp để đề tài đợc hoàn thiện hơn.
đợc xem là phù hợp: " Phơng pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên
trong chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt các mục
tiêu dạy học."
2
Trong tiến trình một tiết dạy thì nội dung và phơng pháp dạy học bao giờ cũng
gắn bó với nhau mỗi nội dung đòi hỏi một phơng pháp
thích hợp. Các kĩ năng giao tiếp không thể đợc hình thành và phát
triển bằng con đờng truyền giảng thụ động. Muốn phát triển kĩ năng này học sinh
phải đợc hoạt động trong môi trờng giao tiếp dới sự hớng dẫn của thầy (cô).Các
kiến thức về ngôn ngữ văn học, văn hóa xã
hội có thể đợc tiếp thu qua lời giảng, học sinh chỉ làm chủ đợc kiến thức khi các em
chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng nh vậy những t t-
ởng tình cảm nhân cách tốt đẹp có thể đợc hình thành chắc chắn thông qua sự rèn
luyện, thông qua thực tế
( học đi đôi với hành ,lí thuyết gắn với bài tập luyện tập). Đó là những lí do cắt
nghĩa sự ra đời của phơng pháp dạy học mới. Phơng pháp tích cực hóa hoạt động
của ngời học: lấy học sinh làm trung tâm trong đó giáo viên là ngời tổ chức hoạt
động của học sinh, mỗi học sinh đều đợc tham gia hoạt động, đều đợc bộc lộ mình
và phát triển rèn luyện
I.1.2. Cơ sở thực tiễn:
Nghị quyết TW 4 khóa VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ " đổi mới phơng pháp dạy
học ở tất cả các cấp học bậc học " Nghị quyết TW2 khóaVII ( 12-1996)nhận định :
Phơng pháp giáo dục đào tạo chậm đợc đổi mới, cha phát huy đợc tính tích cc, chủ
động sáng tạo của ngời học"
Trong những năm gần đây các trờng THCS đã xuất hiện ngày càng nhiều tiết
dạy tốt áp dụng một số phơng tiện dạy học hiện đại nh dạy học bằng công nghệ
thông tin, phát huy đợc tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh trí thức của học sinh.
Tuy nhiên vẵn còn không ít trờng hợp dạy theo phơng pháp thầy đọc trò chép hoặc
giảng giải xen kẽ vấn đáp. Đứng trớc một tiết ôn tập giáo viên ngữ văn thờng hay
mắc phải sai sót về thời gian cho tiết học tức là cha xác định đợc thời gian giành
Nơi nghiên cứu trờng THCS Tiên Lãng- Tiên yên- QN
I.3.3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát
Đối tợng là học sinh lớp 9
I.4. Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:
II. Phần nội dung
II.1. Chơng 1: Tổng quan
Môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng việt nói riêng là phân môn quan
trọng trong hệ thống chơng trìng giảng dạy ở trờng
THCS. Nó cung cấp cho học sinh vốn ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp giúp học
sinh nói đúng viết đúng tiến tới nói hay, viết hay Tiếng việt. Mặt khác dạy Tiếng
việt là dạy tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm hiểu và yêu tiếng mẹ đẻ.
Phần Tiếng việt nội dung dạy học có khá nhiều vấn đề mới không chỉ cung
cấp kiến thức, cung cấp vốn từ để học sinh có thể dùng từ viết câu và liên kết câu
4
trong văn bản mà còn có khả năng vận dụng rông rãi trong việc phân tích văn bản
trong phân môn văn và phân môn Tập làm văn.
Chơng trình Ngữ văn 9 giành một thời lợng khá nhiều cho các phần ôn tập,
tổng kết. Không chỉ ôn tập tổng kết những nội dung học ở lớp 9 mà của cả cấp học,
ở học kì I,về Tiếng việt số tiết ôn tập, tổng kết và kiểm tra gần bằng số tiết học bài
mới. Phối hợp một cách hợp lý có hiệu quả việc ôn tập tổng kết và cung cấp kiến
thức mới là một đời hởi khắt khe đối với việc tổ chức dạy- học Ngữ văn 9 . Với
phạm vi chơng trình này tôi xin đề cập đến việc "Vận dụng phơng pháp đổi mới
vào dạy một giờ ôn tập Tiếng việt"cho HS THCS nói chung và HS lớp 9 nói riêng.
Đây là một vấn đề nan giải mà trong quá trình ôn tập ( giảng dạy) chúng tôi đã gặp
và giải quyết.
II.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
thuật, giảng giải, bình luận vẫn rất cần thiết. Các phơng pháp vấn đáp làm việc với
sách đều có nhiều thuận lợi để phát huy tính tíc cực của ngời học.
- Trong nhóm các phơng tiện trực quan thì phơng tiện trực quan đợc sử dụng nh là
" nguồn " chủ yếu dẫn đến kiến thức mới, lời của thầy đóng vai trò tổ chức, hớng
dẫn tri giác các tài liệu trực quan ( biểu mẫu tranh ảnh, băng hình )
- Trong nhóm thực hành, học sinh trực tiếp thao tác trên các đối tợng thực hành
( vấn đề khía cạnh, vấn đề bài tập )
+ Các phơng pháp tích cực cần đợc phát triển ở trờng phổ thông :
- Vấn đáp, tìm tòi.
- Đặt và giải quyết vấn đề.
- Dạy học theo nhóm.
+ Đặc trng của phơng pháp tích cực:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh.
- Chú trong rèn luyện phơng pháp tự học
- Tăng cờng học tập cá thể với phối hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp sự đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh.
Kết luận chơng 1
II.2. Chơng 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu:
II.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu :
+ Nhiệm vụ về lý luận
Trong hệ thống trơng trình Tiếng Việt 6,7,8,9 tiết ôn tập chiếm một vị trí không
nhỏ theo chúng tôi đây là những tiết học vô cùng quan trọng. Ôn tập Tiếng Việt tức
là giúp học sinh hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học một học kì, cả năm học hay
liên cấp học. Nói nh vậy có thể coi giờ học ôn tập là một giờ củng cố, khắc sâu
6
kiến thức Tiếng Việt lần 2, thông qua đó học sinh tự đánh giá kiến thức của mình
và chuẩn bị tốt cho kì thi I+ II và cả năm học.
toàn bộ lý thuyết có trong SGK rồi mới cho học sinh làm bài tập ôn luyện, thực
hành. Việc tách rời giữa lý thuyết và thực hành nh vậy thờng khiến cho các giờ học
sa đà việc ôn tập củng cố lý thuyết nhiều hơn là làm bài tập thực hành. Điều này
7
dẫn tới việc học sinh thụ động nắm bài, không tích cực trong giờ ôn luyện và kết
quả là nhiều học sinh hiểu và nắm kiến thức theo kiểu học vẹt, không sâu.
Một số yếu tố nữa ảnh hởng không nhỏ đến kết quả dạy học của một tiết ôn tập,
tổng kết là về phía học sinh. Trừ một số ít học sinh khá, giỏi và ý thức học tập tơng
đối tốt thì phần lớn học sinh còn lời học, chuẩn bị bài qua loa, hình thức gây trở
ngại lớn tới việc ôn tập. Vì vậy lớp học không thể tích cực chủ động tham gia vào
giờ học dẫn tới kết quả học tập trên lớp cha cao. Song điều này cũng có một phần
trách nhiệm của giáo viên trực tiếp giảng dạy cha coi trọng việc hớng dẫn học sinh
chuẩn bị chu đáo bài vở trớc khi đến lớp .
Từ tế trên, trong mấy năm gần đây thực hiện chơng trình thay sách giáo khoa
mới, tôi nhận thấy chơng trình SGK mới có nhiều cải tiến theo hớng tích cực. Với
phơng pháp giảng dạy : Thầy đóng vai trò là ngời hờng dẫn, trò chủ động tích cực
trong việc lĩnh hội kiến thức tạo cho giáo viên và học sinh làm việc trong giờ học
nhịp nhàng và cởi mở hơn. Đối với các môn học khác nói chung và môn Ngữ văn
nói riêng , tất cả đều đợc giảng dạy theo quan điểm tích hợp và tích cực. Bộ môn
Ngữ văn không tách rời giữa phân môn Văn - Tiếng Việt- Tập làm văn tạo cho
chúng có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Học tốt phần Tiếng
Việt không chỉ giúp học sinh có khẳ năng sử dụng tốt Tiếng Việt trong giao tiếp và
tạo lập văn bản mà còn giúp học sinh tìm hiểu để thấy cái hay, cái đẹp trong cảm
thụ văn chơng. Ngợc lại học tốt phần văn học cũng giúp học sinh có thêm kiến
thức, kĩ năng để học tốt phần Tiếng Việt. Vì vậy các giờ học Tiềng Việt đặc biệt là
các tiết Ôn tập, tổng kết Tiếng Việt chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng thực
hành, hiểu và vận dụng tốt những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. Cấu trúc
SGK mới không tách rời phần lý thuyết và phần thực hành. Phần lớn các tiết ôn tập
và tổng kết đợc trình bày bằng một hệ thống các bài tập nhằm giúp học sinh nhận
diện, luyện tập, củng cố, năng cao hơn những kiến thức đã học. Đó cững là điều
hỏi : Em cho biết tình huống trên thuộc phơng châm hội thoại nào?Em hiểu gì về
phơng châm hội thoại đó? Sau câu hỏi này GV dẫn vào bài. Nh vậy khi vào bài sẽ
tạo cho học sinh hứng thú lấy các tình hớng thuộc các phơng châm hội thoại khác.
b. Dạy bài mới:
- Khi giới thiệu bài, giáo viên nêu yêu cầu của tiết học, chú ý làm nổi bật mối
quan hệ giữa nội dung bài ôn tập.
- Giáo viên hớng dẫn học sinh ôn tập lí thuyết ( theo quy trình trong SGK) giáo
viên hớng đẫn học hinh trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập củng cố lí thuyết bằng
các phơng pháp sau:
* Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập hoặc câu hỏi.
* Cho HS đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập.
* Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập ( nếu cần )
* Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của cau hỏi hoặc bài tập để
cả lớp nắm đợc yêu cầu của giờ ôn tập ( nếu đó là bài tập khó) . Sau đó giáo viên tổ
chức cho học sinh trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập theo các hình thức: làm
việc cá nhân hoặc trao đổi theo cặp, nhóm để trả lời câu hỏi và thực hiện bài tập .
Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức khác nhau, trao đổi với
9
học sinh, sửa lỗi cho HS hoặc tổ chức cho HS góp ý cho nhau và tự đánh giá nhau
trong quá trình làm bài. Cuối cùng là sơ kết tổng kết ghi bẳng nếu cần thiết.
c. Hớng dẫn luyện tập.
Đa số các bài ôn tập Tiếng Việt từng phần lí thuyết đan xen với thực hành vì
vậy GV hớng dẫn HS làm bài tập thực hành nh cách hớng dẫn luyện tập bài lý
thuyết đã nêu ở trên, cần chú ý các dạng bài tập, nếu bài tập lập bảng biểu thì giáo
viên chú ý lợc đồ cho học sinh và so sánh kiến thức học trớc đó, rèn kĩ năng thực
hành, củng có, khắc sâu kiến thức của toàn bài ôn tập.
Nội dung 2: Cách tiến hành dạy một giờ ôn tập Tiếng Việt.
Dạy một tiết ôn tập, chúng ta không sa vào lý thuyết, mục đích là thực hành
ứng dụng để mang lại hiệu quả thiết thực, luôn gắn với văn bản, trở thành công cụ
để làm rõ cho việc đọc văn và làm theo tinh thần tích hợp, u tiên cho bài tập rèn
kiến thức, có kĩ năng giải các bài tập Tiếng Việt, tự khám phá, tự trình bày theo
cách hiểu đúng của mình.
Trong giờ ôn tập Tiếng Việt, dựa trên những cơ sở, những yêu cầu trên GV đã
định hớng đợc kiến thức theo từng mảng, từng phần trong gìơ ôn tập.Phân môn
Tiếng Việt ở các khối lớp 6,7,8 đã đợc tiến hành ôn tập theo trình tự của tiết học là
đi từ hệ thống bài tập nh lập bảng biểu , lợc đồ đến củng cố lí thuyết cho từng phần.
Hệ thống bài tập đợc sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ bài tập củng cố đến bài
tập rèn luyện kĩ năng, phát triển óc t duy sáng tạo của học sinh.
Đối với tiết ôn tập Tiếng Việt của lớp 9 cũng dùng lợc đồ, bảng so sánh nhng
hình thức ôn tập phong phú hơn. Vì lớp 9 là lớp cuối cùng của cấp học, thời lợng
kiến thức tăng do đó hệ thống bài tập cũng đa dạng, phong phú đòi hỏi học sinh
phái suy nghĩ nhiều hơn, có nhiều câu hỏi, bài tập phải vận dụng kiến thức kĩ năng
cả ba phân môn ( Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn)ở mức độ cao hơn.
Nội dung 3: Biện pháp thực hiện
* Với học sinh:
Giáo viên hớng dẫn học sinh xây dựng tiết ôn tập ngay từ đầu năm học vì kiến
thức ôn tập là một hệ thống. Chúng tôi cho học sinh lập cuốn " Sổ tay Tiếng Việt",
tạo cho các em một thói quen ghi lại những kiến thức cơ bản sau mỗi giờ học Tiếng
Việt. Đến giờ học với những câu hỏi dạng lý thuyết nh : nêu khái niệm,so sánh, đối
chiếu ,các em có thể làm ngay đợc.
11
Ví dụ: nêu một số biện pháp t từ từ vựng:Điệp ngữ , chơi chữ, ẩn dụ hoán dụ,
nhân hóa, so sánh
Với những câu hỏi khái niệm này, với cuốn "Sổ tay Tiếng Việt "thì học sinh dễ
dàng trả lời.
Để chuẩn bị tốt cho tiết học ôn tập, giáo viên hớng dẫn học sinh chuẩn bị trớc ở
nhà thật kĩ càng.Đây là công việc quan trọng bởi nó phản ánh kết quả học tập của
cô và trò trong giờ học ôn tập. Đã là ôn tập thì các em không đợc bỏ qua một kiến
thức nào. Các em cần phải có một sự chuẩn bị chu đáo, hệ thống hóa toàn bộ kiến
thức, toàn bộ chơng trình đã học.
a.Là những từ đợc thêm vào câu để cấu tạo câu nghi vấn, câu cầu
khiến, câu cảm thán và biểu thị sắc thái tình cảm của ngời nói.
2.Câu
ghép
b.Là những từ chuyên đi kèm với một từ ngữ trong câu để nhấn
mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc đợc nói đến ở từ
ngữ đó.
3.Tình
thái từ
c.Là những câu do 2 hoặc nhiều cụm C-V không bao cha nhau tạo
thành. Mỗi cụm C-V đợc gọi là một vế câu.
4.Thán
từ
d.Là những từ dùng để bộc lộ tình cảm , cảm xúc thái độ của ngời
nói hoặc dùng để gọi đáp.
Ngoài ra GV còn xây dựng một hệ thốnh câu hỏi tối u có tính khoa học, tính s
phạm và có tính t tởng, dạng câu hỏi này có thể khai thác ngay trong văn bản các
em đã học hoặc thông qua các bài viết Tập làm văn của học sinh qua đó khắc sâu
kiến thức. Mục đích các tiết ôn tập không chỉ dừng lại ở hệ thống khái niệm mà
phải đạt đén kĩ năng. Muốn hình thành kĩ năng phải coi trọng việc luyện tập và
giành nhiều cho luyện tập. Bài tập tối u chính là ta đã tíc hợp đợc môn văn - Tập
làm văn.
Ví dụ : Bài ôn tập và kiểm tra tra phần Tiếng Việt - Bài 3, tiết 126,lớp 8kỳ II
Mục II. Hành động nói - đa bài tập
Hãy viết một hoặc vài ba câu theo một trong những yêu cầu nêu dới đây.Xác
định mục đích của hành động nói.
a. Cam kết không tham gia các hoạt động tiêu cực nh đua xe trái phép, cờ bạc,
nghiện hút,
b.Hứa tích cực học tập, rèn luyện và đạt kết quả tốt trong năm học tới.
Với học sinh khá giỏi các em đã có sự chuẩn bị ở nhà, giáo viên có thể cho học
II.3. Chơng 3: Phơng pháp nghiên cứu - kết quả nghiên cứu:
II.3.1. Phơng pháp nghiên cứu:
* Phơng pháp dạy bài ôn tập Tiếng Việt đi từ hệ thống bài tập để củng cố lí
thuyết
Từ trớc tới nay, dạy bài ôn tập Tiếng Việt thờng có hai cách: Cách1 : đi từ lí
thuyết đến giải hệ thống bài tập; cách 2 : đi từ hệ thống bài tập đến củng cố lí
thuyết vì vậy nhiều GV dạy bài ôn tập theo quy trình GSK ( tức là đi từ lí thuyết
đến bài tập củng cố ). Quy nghiên cứu nội dung bài ôn tập chúng tôi nhận thấy việc
thực hiện phơng pháp dạy bài ôn tập cho học sinh đi từ hệ thống bài tập để củng cố
kiến thức lí thuyết là hợp lí hơn và thu đợc kết quả cao hơn.
Nhng tiến hành dạy bài này nh thế nào ? phơng pháp cụ thể ra sao tùy thuộc
vào khả năng của từng ngời. Mục đích cuối cùng của giáo viên phải đạt đợc là:
Củng cố khắc sâu kiến thức bài học cũ, chuẩn bị tâm thế cho HS làm bài kiểm tra
14
và thi học kì đạt kết quả. Từ thực tế dạy các tiết ôn tập Tiếng Việt của các khối lớp
trong những năm qua. Tôi đã đúc rút đợc vài kinh nghiệm cho giờ dạy nh sau:
Theo tôi để dạy tốt một bài ôn tập Tiếng Việt theo phơng pháp dạy học tích cực
thì GV phải xác định đợc mục tiêu, yêu cầu cơ bản của bài dạy là gì ? ( Giúp HS hệ
thống hóa một số nội dung kiến thức đã học rèn cho học sinh các kĩ năng tổng hợp
về sử dụng Tiếng Việt trong nói, viết,tích hợp các kiến thức của cả ba phân môn
Văn - nTiếng Việt- Tập làm văn.
Để đạt đợc những mục tiêu trên GV cần hớng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài
cho tiết học cụ thể:
Bài Ôn tập Tiếng Việt - Bài 15- Tiết 73-lớp 9 kỳ I
Đối với bài này GV phải có một hệ thống câu hỏi, bài tập để hớng dẫn cho học
sinh và các bảng, lợc đồ, bảng phụ ( Tức là GV phải chuẩn bị tốt các đồ dùng dạy
học )
Giáo viên yêu cầu học sinh ôn lại kiến thức đã học đã học, nghiên cứu kĩ hệ
thống câu hỏi, bài tập trong SGK, đọc kĩ các văn bản liên quan đến bài tập ôn tập.
+ Cách tổ chức và ph ơng pháp dạy học .
- Tha thầy " sóng "là bài thơ của Xuân Quỳnh ạ !
Ví dụ 2: Truyện thứ 2.
Truyện cời Tây Ban Nha " Hết bao lâu"
" Một bà già tới phòng bán vé máy bay hỏi:
- Xin làm ơn chơ biết Pa ri tới Mê hi cô bay hết bao lâu ?
Nhân viên bán vé máy bay đang bận việc gì đó liền đáp:
- Một phút nhé !
- Xin cảm ơn - bà già đáp và đi ra "
* Giáo viên gợi dẫn và yêu cầu học sinh chỉ rõ:
+ Câu chuyện thứ nhất: Ngời nói vi phạm phơng châm quan hệ.
+ Câu chuyện thứ hai: Ngời nói vi phạm phơng châm về lợng.
Từ hai ví dụ trên GV có thể cho HS lấy thêm một số ví dụ khác.Sau đó giáo viên
yêu cầu học sinh thực hiện gợi dẫn 2:
Khi giao tiếp chúng ta cần tuân thủ phơng châm hội thoại nào? yêu cầu học sinh
điền vào lợc đồ nh (SGK trang 190) trên bảng
16
? Khí giao tiếp chúng ta cần tuân thủ các phơng châm nào?
Từ đó học sinh rút ra kết luận
Khi giao tiếp cần tuân thủ các phơng châm sau:
- Nói phải có nội dung, nội dung của lời nói phải đáp ứng yêu cầu của một cuộc
giao tiếp không thừa, không thiếu ( phơng châm về lợng )
- Đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác
thực ( phơng châm về chất)
- Cần nói đúng về đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề ( Phơng châm quan hệ )
- Cần tế nhị và tôn trọng ngời khác ( phơng châm lịch sự ).
GV cần lu ý cho học sinh để tuân thủ các phơng châm hội thoại, ngời nói phải
làm gì ?( Phải nắm trắc đợc các đặc điểm của tình huống giao tiếp: Mục đích,
không gian, thời gian giao tiếp và trạng thái tâm lí, sức khỏe, công việc, vốn hiểu
biết, văn hóa của ngời nghe )
? Phơng châm hội thoại có phải là căn cứ chung bắt buộc trong mọi tình huống
tập rồi từ bài tập các em rút ra khái niệm chung của mỗi phần. Giáo viên phát mỗi
nhóm một bảng phụ nhỏ , ghi kết quả thảo luận vào đó trong thời gian 15 đến 20
phút các em treo kết quả của nhóm mình lên trên bảng chính. Các nhóm khác nhận
xét và chữ lỗi cho các nhóm nếu sai. Nh vậy tiết ôn tập mất rất ít thời gian, thời
gian còn lại GV đa ra một số bài tập nâng cao củng cố thêm kiến thức và rèn cho
học sinh kĩ năng viết đoạn văn theo nội dung vừa ôn tập tổng kết.
Với phơng pháp làm việc nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ các
suy nghĩ , hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới. Bằng
cách nêu suy nghĩ mỗi em có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì . Giờ ôn tập trở thành quá trình học hỏi
lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp cận thụ động từ giáo viên. Phơng pháp này giúp
học sinh dễ hiểu dễ nhớ hơn dễ nhớ hơn vì các em đợc tham gia trao đổi trình bày
vấn đề nêu ra, cảm thấy hào hứng khi thành công chung của tổ, lớp có phần đống
gióp của mình.
* Các hoạt động giống trò chơi:
Thờng tiết ôn tập bao giờ kiến thức cũng nặng, giờ học rất trầm, nhng nếu giáo
viên biết cách tổ chức hoạt động dạy cho phù hợp thì vẫn gây đợc không khí hào
hứng nh các giờ dạy kiến thức mới. Có thể trong giờ học GV tổ chức chơi các trò
chơi, tổ chức thi đua giữa các tổ, nhóm với nhau, đôi khi có cả phần thởng nho nhỏ
để tạo hứng thú cho giờ học.Tuy nhiên việc áp dụng cũng phải linh hoạt theo từng
bài, không nên gợng ép.
Ví dụ khi dạy tiết 43: Tổng kết từ vựng (lớp 9)
Phần 1 : Từ đơn và từ phức
Bài tập . Trong các từ sau, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy?
ngặt nghèo, nho nhỏ,giam giữ, gật gù, bó buộc, tơi tốt,lạnh lùng,bọt bèo,xa xôi,cổ
cây, đa đón, nhờng nhịn, rơi rụng, mong muốn,lấp lánh.
Từ ghép Từ láy
18
19
20
21
22