SKKN Vận dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trường THPT Bá Thước - Pdf 26

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006- BGDĐT ngày 5/6/2006 của bộ trưởng bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn
học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và
trách nhiệm học tập cho học sinh”. Thực hiện mục tiêu này, đổi mới phương
pháp dạy học được đẩy mạnh ở tất cả các môn học trong nhà trường THPT. Đổi
mới phương pháp dạy học văn cũng không nằm ngoài mục tiêu ấy.
Là một giáo viên ngữ văn cấp trung học phổ thông tôi cũng trăn trở rất
nhiều, gắng tìm tòi và thử nghiệm để lựa chọn những phương pháp dạy học phù
hợp với lớp học và môn học của mình. Trong quá trình đó, tôi nhận thấy phương
pháp dạy học nêu vấn đề rất phù hợp với bộ môn Ngữ văn. Tôi đã áp dụng
phương pháp dạy học tích cực này vào dạy học các tác phẩm văn học và nhận
thấy rất hiệu quả. Thực sự phương pháp dạy học này đã đáp ứng được yêu cầu
của việc đổi mới phương pháp dạy học văn, phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, và tạo ra nhiều hứng thú cho người dạy. Tuy nhiên,
việc vận dụng phương pháp nên ở mức độ nào, cách vận dụng sao cho đạt hiệu
quả cao nhất… là vấn đề mà bản thân tôi còn không ít trăn trở.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn đề tài này vừa để trao đổi kinh nghiệm, vừa để có điều kiện
nghiên cứu kĩ lưỡng, sâu sắc hơn về phương pháp dạy học mà mình tâm đắc.
Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo thêm hứng thú, niềm say mê cho các
em khi học các tác phẩm văn học trong chương trình ngữ văn ở trường THPT.
3. Đối tượng nghiên cứu:
1
Trong phạm vi của một đề tài nhỏ này tôi chỉ tập trung vào một số tác
phẩm văn học Việt Nam( gồm cả văn học dân gian và văn học viết) ở chương

V. Ôkôn cho rằng: “Nét bản chất nhất của dạy học nêu vấn đề không phải
là sự đặt ra những câu hỏi mà là tạo ra những tình huống có vấn đề”.
T.V. Kudriaxep cũng phát biểu ý tương tự: “Khái niệm về tình huống có
vấn đề và các biện pháp giải quyết nó tạo nên cơ sở của dạy học nêu vấn đề”.
Như vậy, hạt nhân của phương pháp dạy học nêu vấn đề là tạo ra các tình
huống có vấn đề.
Vậy thế nào là “tình huống có vấn đề”?
1.2. Khái niệm tình huống có vấn đề
Hiện nay chưa có một định nghĩa hoàn toàn thống nhất, sau đay là một số
định nghĩa đáng chú ý:
Theo M.I Mackmutov: Tình huống có vấn đề là trở ngại về trí tuệ của
con người xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải quyết hiện tượng, sự kiện,
quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động
quen thuộc. Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay
hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng
tạo có hiệu quả. Nó qui định sự khởi đầu của tu duy, hành động tư duy tích cực
sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết các vấn đề.
Một tác giả khác lại viết: Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí độc
đáo của người gặp chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu
cầu giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà, bằng
tìm tòi, sáng tạo tích cực đầy hưng phấn, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến
thức, phương pháp giành kiến thức và cả niềm vui sướng của phát hiện.
Như vậy, có thể coi tình huống có vấn đề trong dạy học là trạng thái tâm lí
đặc biệt của học sinh khi họ gặp mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức
giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải
3
quyết mâu thuẫn đó bằng tìm tòi tích cực, sáng tạo, kết quả là họ nắm được cả
kiến thức và phương pháp giành kiến thức.
Một tình huống được coi là có vấn đề khi thỏa mãn ba điều kiện sau:
- Tồn tại một vấn đề.

Đối với bộ môn ngữ văn ở trường THPT Bá Thước, phương pháp dạy
học nêu vấn đề mới chỉ được sử dụng thường xuyên trong các giờ thao giảng.
Trong các giờ dạy ấy, nó cũng chỉ phát huy được tính chủ động, tích cực của
một bộ phận học sinh có ý thức xây dựng bài tốt. Nguyên nhân là do trong giáo
viên còn có những cách nhìn nhận chưa thỏa đáng về dạy học nêu vấn đề. Một
số người cho rằng phương pháp này hay nhưng khó, nó đòi hỏi người giáo viên
phải có khả năng phát hiện tình huống có vấn đề và nghệ thuật nêu tình huống
có vấn đề nên còn ngại. Có người lại băn khoăn rằng phương pháp này không
phù hợp với đối tượng học sinh miền núi (năng lực rất hạn chế, phần lớn các em
rất yếu về kỹ năng nói trước tập thể)… Bên cạnh đó, một tồn tại lớn nữa là nhiều
giáo viên còn lúng túng trong việc tạo ra các tình huống có vấn đề và nhiều khi
vấn đề được đưa ra chưa được giải quyết thỏa đáng nên không gây được hứng
thú với học sinh. Cho nên: Làm thế nào để sử dụng hiệu quả phương phap dạy
học này? Vận dụng nó ra sao cho phù hợp với bài học, đối tượng học? là
những câu hỏi đặt ra với tất cả các giáo viên văn ở nhà trường chúng tôi. Bản
thân tôi đã mạnh dạn sử dụng phương pháp này một cách thường xuyên. Và với
các giải pháp của mình bước đầu tôi thu được kết quả khả quan.
Chương 3: Các giải pháp thực hiện
Từ ý thức về tầm quan trọng của dạy học nêu vấn đề, từ thực trạng của
việc dạy và học môn ngữ văn ở THPT Bá Thước, những năm qua tôi đã cố gắng
tìm tòi, vận dụng phương pháp này vào việc dạy học các tác phẩm văn học và
bước đầu đã thấy hiệu quả. Khi dạy mỗi tác phẩm văn học, tôi chú ý phát hiện ra
tình huống có vấn đề và tổ chức, hướng dẫn cho học sinh giải quyết tình huống
được nêu ra.
5
Theo kinh nghiệm của mình, tôi đã tạo ra các tình huống có vấn đề và tổ
chức cho học sinh giải quyết tình huống theo các cách thức sau đây:
3.1. Xây dựng tình huống lựa chọn:
Tình huống lựa chọn là tình huống giáo viên đặt học sinh trước một sự lựa
chọn rất khó khăn. Học sinh được chọn một giải pháp trước hai hay nhiều

tác giả dân gian.
- Một số học sinh rút ra được bài học
6
ta nói chung với Trọng Thủy. Để
Trọng Thủy tự vẫn thì kẻ thù của dân
tộc bị trừng phạt nhưng lại cho thấy
tình cảm bao dung, độ lượng và sự cảm
thông của nhân dân ta đối với Trọng
Thủy và đó cũng là cơ sở cho sự sáng
tạo hình ảnh hoàn mĩ “ ngọc trai –
giếng nước”.
ứng xử trong cuộc sống: cần phải có
một tấm lòng độ lượng, bao dung và
tha thứ cho những lỗi lầm của con
người.
Ví dụ 2: Bài “Tràng giang” (Huy Cận)
Tình huống: Có người cho rằng “Tràng giang” là một bài thơ nói về
những rung cảm của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Người khác lại
cho rằng bài thơ hàm chứa tình yêu đất nước. Anh (chị) đồng ý với ý kiến nào?
Vì sao?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Chấp nhận cả hai cách hiểu: bài thơ là
cảm xúc của con người trước thiên
nhiên đồng thời tâm trạng trong bài thơ
cũng “dọn đường cho lòng yêu giang
san đất nước” (Xuân Diệu)
- Học sinh được rèn luyện khả năng

Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
- Tấm là nhân vật văn học đại diện cho
cái thiện mà nhân dân lao động sáng
tạo ra để thể hiện quan niệm, thái độ
của mình về cuộc sống. Cái tư tưởng
cốt lõi mà dân gian muốn gửi gắm đến
người đọc, người nghe là: “thiện luôn
thắng ác”, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp
ác”. Với suy nghĩ như thế, dân gian
không cho rằng hành động của Tấm là
- Học sinh có cơ hội củng cố và tích
hợp kiến thức vì cần phải huy động
những kiến thức về tác phẩm, về thể
loại truyện cổ tích, về tư tưởng của dân
gian mới có thể lí giải được vấn đề.
- Các em được tự bộc lộ suy nghĩ riêng
của bản thân, được đặt mình vào vị trí
của Tấm, của tác giả dân gian để lí giải
hành động của Tấm. Từ đó, hiểu được
8
độc ác thậm chí là cần thiết đối với
Cám tức là kẻ ác cần bị trừng trị đích
đáng.
- Hiền không đồng nghĩa với nhút nhát,
sợ hãi, nhường nhịn hay là chịu khuất
phục trước cái ác, cái xấu. Trong quan
niệm của dân gian là “ đi với bụt mặc

đình nhà Nguyễn, cùng cảm nhận, miêu
tả của tác giả về bức tranh mùa thu để
hiểu tình cảnh, tâm sự của nhà thơ. Từ
đó, các em thấy được tâm trạng rất
đáng cảm thông, rất đáng trân trọng ở
nhà thơ Nguyễn Khuyến.
- Không chỉ hiểu tâm sự của Nguyễn
Khuyến trong bài thơ, học sinh còn có
9
cơ sở để hiểu rộng hơn về tâm trạng và
quan điểm xử thế của những nhà nho
yêu nước thời phong kiến: “lánh đục về
trong” để giữ gìn tiết tháo (ví dụ như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…)
3.3. Xây dựng tình huống nhân quả:
Tình huống nhân quả là tình huống giáo viên yêu cầu học sinh đi tìm
nguyên nhân của một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc quy luật
của một sự kiện, động cơ sâu xa của một hành vi nào đó. Tình huống này đòi hỏi
học sinh phải trả lời câu hỏi “tại sao” và để trả lời thấu đáo các em cần phải thảo
luận, tranh luận để đi đến câu trả lời thuyết phục nhất. Các em được thể hiện khả
năng phán đoán, suy luận của mình trước những tình huống đặt ra. Từ đó, mỗi
học sinh sẽ nắm được nội dung kiến thức cần đạt.
Với tình huống này, tôi thường tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm
nhỏ (5 học sinh/nhóm), các em trong nhóm sẽ trình bày ý kiến và nhóm trưởng
tổng hợp, đại diện trình bày trước lớp. Giáo viên tổ chức, chỉ đạo chung và hỗ
trợ các nhóm khi cần thiết bằng câu hỏi gợi dẫn. Kết thúc hoạt động này, giáo
viên đánh giá, nhận xét và nêu định hướng chung cho việc trả lời câu hỏi.
Ví dụ 1: Bài “Chí Phèo” ( Nam Cao)
Tình huống: Khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo đã nghĩ “hắn tự phải đến
nhà con đĩ Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà

Chí Phèo: Giết Bá Kiến là hành động
“lấy máu rửa thù” của người nông dân.
Vì đến phút cuối Chí Phèo đã tỉnh táo
nhận ra kẻ thù của đời mình chính là
Bá Kiến.
- Học sinh hiểu được sự đa dạng, phức
tạp trong diễn biến tâm lí của nhân vật.
Qua đó, hiểu sâu một nét phong cách
nghệ thuật rất độc đáo của Nam Cao là
khả năng khám phá “con người bên
trong con người”.

Ví dụ 2: Bài “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu)
Tình huống: Hành động đánh vợ của người đàn ông là do thói quen khó
sửa, do sở thích kì quặc, hay là một lí do nào khác? Tại sao mỗi khi đánh vợ
người đàn ông lại “rên rỉ đau đớn”?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Hành động đánh vợ của ông ta không
phải do thói quen, cũng không phải do
- Học sinh hiểu thấu đáo nguyên nhân
của hành động đánh vợ ở người đàn
11
sở thích kì quặc mà là một hành động
giải tỏa nỗi ẩn ức, bế tắc trong lòng
ông ta. Nghèo khổ, túng quẫn vì trốn
lính, quá nhiều con…là những lí do
biến người chồng “hiền lành” thành

thì cuộc sống của hắn tiếp đó sẽ ra sao? Từ đó, anh (chị) có nhận xét gì về sự
lựa chọn của Chí Phèo?
Định hướng giải quyết tình huống Kết quả đạt được sau khi giải quyết
12
của giáo viên tình huống
Sau cái chết của Bá Kiến, dân làng Vũ
Đại ( kể cả Thị Nở) càng ghê sợ và xa
lánh Chí; Lí Cường sẽ cho người đánh
đập, hành hạ Chí Phèo để Chí sống
không bằng chết cũng có thể hăn sẽ
bỏ tù Chí Phèo để trả thù cho bố…. Và
dù có khát khao lương thiện đến cháy
bỏng, Chí vẫn phải sống nốt phần đời
còn lại trong cô độc và tuyệt vọng,
trong men say và tội lỗi. Qua đó, ta
hiểu rằng chỉ có cái chết mới giúp Chí
Phèo thoát khỏi bi kịch đau đớn ấy và
tự sát là cách duy nhất để Chí Phèo
được chết như một con người.
- Học sinh được phát huy trí tưởng
tượng phong phú và năng lực sáng tạo
dồi dào khiến giờ học thêm sôi nổi, hấp
dẫn .
- Học sinh thấm thía hơn bi kịch bị cự
tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.
Qua đó, hiểu đầy đủ về tội ác của cái xã
hội tàn bạo đương thời.
Ví dụ 2: Bài “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu)
Tình huống: Giả sử nhà văn để cho người nghệ sĩ chứng kiến bi kịch của
gia đình hàng chài hôm trước rồi sáng hôm sau mới phát hiện vẻ đẹp của cảnh

và hình thức bên ngoài không phải bao
giờ cũng có sự thống nhất.
Ví dụ 3: Truyện “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy”
Tình huống: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng
Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.
( Đề bài làm văn số 2)
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Có thể kể và kết thúc theo nhiều cách
khác nhau miễn là bài viết có tính
thuyết phục và phù hợp với ý đồ nghệ
thuật của tác giả dân gian:
- Gặp lại Trọng Thủy dưới thủy cung ,
Mị Châu nặng lời phê phán rồi quay đi,
bỏ mặc Trọng Thủy đầu tóc bơ phờ,
nét mặt đau khổ, dáng hình mờ dần và
tan trong dòng nước xanh.
- Mị Châu bình tĩnh phân tích mọi lẽ
đúng, sai lúc hai người còn sống. Hiểu
lời Mị Châu, Trọng Thủy rất ân hận,
muốn nối lại duyên xưa. Tuy cảm động
- Học sinh được rèn luyện kĩ năng làm
văn tự sự, được nhập vai đồng sáng tạo
với tác giả.
- Học sinh hiểu sâu sắc hơn giá trị tư
tưởng và giá trị nghệ thuật của tác
phẩm đặc biệt là đặc điểm của thể loại
truyền thuyết.

Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Đây là cách hiểu chưa đúng về lẽ - Học sinh hiểu đúng đắn về triết lí
15
sống vội vàng của Xuân Diệu. Ta nên
hiểu bài thơ là lời giục giã thanh niên
hãy sống mê say, mãnh liệt, hết mình,
hãy nâng niu từng phút, từng giây của
cuộc đời và tuổi trẻ để tận hiến và tận
hưởng, hãy sống sao cho mỗi giây phút
trôi qua tràn đầy ý nghĩa.
sống vội vàng của Xuân Diệu.
- Các em rút ra được bài học bổ ích cho
bản thân: sống không phải chỉ để tận
hưởng mà còn phải tận hiến, phải làm
sao để hài hòa giữa cá nhân và tập thể,
riêng và chung, sống hết mình và sống
có ích cho mọi người
Ví dụ 1: Bài “ Thương vợ”( Trần Tế Xương)
Tình huống: Có ý kiến cho rằng hai câu thơ:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
Là tiếng chửi đầy căm phẫn của Bà Tú khi bất lực trước hoàn cảnh . Theo anh
(chị) ý kiến này có đúng không? Ý nghĩa của tiếng chửi đó là gì?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống

hãy cho biết: Ai hỏi? Giọng điệu
hỏi? Ý nghĩa lời hỏi?

Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong
tưởng tượng của nhà thơ hiện lên
với những màu sắc và hình ảnh như
thế nào?
+ Em hiểu như thế nào về cụm từ
“nắng hàng cau” và “nắng mới
lên”?
+ Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cho em
suy nghĩ gì?
+ Em có cảm nhận gì về cách dùng
từ “mướt” của tác giả? Nếu thay từ
“mướt”bằng từ “biếc” hoặc từ
“thắm” thì có ảnh hưởng gì đến ý
nghĩa và sắc thái biểu cảm của câu
thơ không?
( Tình huống giả định)
+ Theo em cách so sánh “vườn
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tác giả
2.Tác phẩm:
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Khổ 1:
*Câu hỏi mở đầu
+ Câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái. Đó
lời trách móc nhẹ nhàng của người con gái
thôn Vĩ, lời mời gọi tha thiết về thôn Vĩ.
Đây cũng là lời tự vấn, lời nhắc nhở sao

sử dụng thường xuyên phương pháp này. Áp dụng trong dạy học tác phẩm văn
học tôi nhận thấy hiệu quả khá tốt. Hầu hết các em học sinh đều rất hứng thú học
tập, không khí giờ học sôi nổi hẳn lên. Phần lớn học sinh có ý thức đọc trước tác
phẩm, nắm được cốt truyện, nhân vật để có thể trình bày ý kiến riêng của mình
trước những tình huống có vấn đề. Học xong tác phẩm, ấn tượng về cốt truyện,
nhân vật lưu lại khá sâu đậm trong tâm trí các em. Nhiều hình tượng nhân vật đã
bước ra ngoài trang sách đi vào đời sống tâm hồn của các em, trở thành những
người gần gũi, thân quen như cô Tấm, Chí Phèo, Thị Nở, Tràng, Mỵ… Mỗi tác
phẩm dường như đã giúp các em trưởng thành hơn về nhận thức, nâng cao được
năng lực phát hiện và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Kết quả này không phải lúc nào cũng đo, đếm được bằng điểm số, bằng tỉ lệ học
sinh xếp loại giỏi, khá. Song tôi thấy chắc chắn hiệu quả của phương pháp này
trong mỗi suy nghĩ và hành động của các em. Tôi thấy thật thú vị khi một học
sinh của mình đã tưởng tượng về cuộc gặp gỡ giữa Mị Châu và Trọng Thủy ở
dưới thủy cung rất có hậu. Nhờ liều thuốc kì diệu của vua Thủy Tề, Mị Châu đã
quên hết quá khứ buồn đau mà vui vẻ tha thứ, đoàn tụ với Trọng Thủy. Từ đó,
em rút ra được bài học bổ ích trong cuộc sống là phải biết tha thứ, độ lượng với
những người đã hối lỗi ăn năn, không nên lãng phí cuộc sống bằng việc chôn
giữ hận thù. Hoặc, về cái kết của truyện “Tấm Cám”, có em đã không muốn
Tấm giết Cám mà để cho hai mẹ con Cám xuống tóc đi tu nơi của phật từ bi. Tại
đó, họ sẽ nghe tòa án lương tâm phán xét, sẽ ăn năn hối cải. Như vậy, họ đã
nhận sự trừng phạt mà vẫn còn cơ hội sám hối, và cô Tấm sẽ hoàn toàn thanh
thản sống hạnh phúc bên nhà vua đến trọn đời. Lại có học sinh thích một cái kết
19
thúc như kiểu truyện “ Thạch Sanh”. Tấm sẽ tha chết cho hai mẹ con Cám
nhưng đuổi họ khỏi hoàng cung. Ra đường, cả hai mẹ con Cám đều bị sét đánh
chết.
Như vậy, có thể nói các em đã không còn thơ ơ với tác phẩm, không học
một cách hời hợt, đối phó nữa. Đọc kĩ tác phẩm, tranh luận để hiểu sâu sắc tác
phẩm đã trở thành nhu cầu rất tự nhiên của mỗi học sinh. Đây là điều đáng

- Năm học 2011- 2012: Tôi đã dạy bài “ Chiếc thuyền ngoài xa” ( Nguyễn
Minh Châu) ở hai lớp 12A2 và 12A3 (đều là các lớp cơ bản A) theo hai cách
khác nhau. Ở lớp 12A2 tôi sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau trong đó
đặc biệt chú trọng đến việc đặt học sinh vào tình huống có vấn đề và tổ chức cho
các em giải quyết vấn đề. Còn ở lớp 12A3, tôi không sử dụng câu hỏi nêu vấn
đề, không đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề nào. Kết quả là giờ học ở
lớp 12A2 sôi nổi hơn rất nhiều, các em rất hứng thú trước những vấn đề được
đưa ra và kết quả ở bài kiểm tra cũng cao hơn rõ rệt. Sau đây là kết quả bài kiểm
tra 15 phút ở hai lớp 12A2 và 12A3.
Đề bài: Trong truyện ngắn“ Chiếc thuyền ngoài xa” ( Nguyễn Minh
Châu) nhân vật nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh( chị) ? Vì sao?
- Năm học 2012- 2013: Tôi đã dạy bài “Truyện An Dương Vương và Mị
Châu- Trọng Thủy” ở hai lớp 10A3 và 10A4 (đều là các lớp cơ bản B) theo hai
cách khác nhau. Ở lớp 10A4 tôi sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau
trong đó đặc biệt chú trọng đến việc đặt học sinh vào tình huống có vấn đề và tổ
chức cho các em giải quyết vấn đề. Còn ở lớp 10A3, tôi không sử dụng câu hỏi
nêu vấn đề, không đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề nào. Kết quả là
giờ học ở lớp 10A4 sôi nổi hơn rất nhiều, các em rất hứng thú trước những vấn
đề được đưa ra và kết quả ở bài kiểm tra cũng cao hơn rõ rệt. Sau đây là kết quả
bài kiểm tra số 2 ở hai lớp 10A3 và 10A4.
Điểm
Lớp(s.số)
Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém
SL % SL % SL % SL %
12A2 (48 hs) 14 29 15 31 17 36 2 4
12A3 (41 hs) 9 22 10 24 18 44 4 10
21
Đề bài: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy
đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.
Phần III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT


Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết không sao chép nội
dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
PHẠM THỊ THÊU
Phần 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Bá Hán( Chủ biên) - Từ điển thuật ngữ văn học - Nxb ĐHQG Hà Nội
2000.
2. SGK Ngữ văn 10- tập 1, 2 NXB Giáo dục 2011
3. SGK Ngữ văn 11, tập 1 NXB Giáo dục 2011
4. SGK Ngữ văn 12, tập 2 NXB Giáo dục 2011
5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn lớp 11 NXB Giáo dục 2007
6. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn lớp 12 NXB Giáo dục 2008
7. Phan Trọng Luận( Chủ biên)- Phương pháp dạy học văn( tập 1), Nxb
ĐHSP 1998
8. Phan Trọng Luận- Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT-
Nxb Giáo Dục 1999.
23
9. Bộ giáo dục và đào tạo, Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra,
đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
môn Ngữ văn, Hà Nội tháng 7/2010.
10. Đặng Thị Trinh – Vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học một số
bài thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông - Trường đại học sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh.
11. Phương Thảo- Tìm hiểu phương pháp dạy học nêu vấn đề, Trường đại
học văn hóa nghệ thuật quân đội.
12. Nguyễn Xuân Lạc- Chuẩn bị kiến thức và kĩ năng làm bài thi môn Văn-
Nxb ĐHQG Hà Nội 2009
13. Phan Trọng Luận- Thiết kế bài học ngữ văn 11( Tập hai) – Nxb Giáo dục

12
Chương4. Kết quả kiểm nghiệm 15
4.1. Nhận xét chung 15
4.2. Kết quả cụ thể 17
III
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
18
IV
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
MỤC LỤC 20
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status