www.sangkienkinhnghiem.com
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006- BGDĐT ngày 5/6/2006 của bộ trưởng bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn
học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và
trách nhiệm học tập cho học sinh”. Thực hiện mục tiêu này, đổi mới phương
pháp dạy học được đẩy mạnh ở tất cả các môn học trong nhà trường THPT. Đổi
mới phương pháp dạy học văn cũng không nằm ngoài mục tiêu ấy.
Là một giáo viên ngữ văn cấp trung học phổ thông tôi cũng trăn trở rất
nhiều, gắng tìm tòi và thử nghiệm để lựa chọn những phương pháp dạy học phù
hợp với lớp học và môn học của mình. Trong quá trình đó, tôi nhận thấy phương
pháp dạy học nêu vấn đề rất phù hợp với bộ môn Ngữ văn. Tôi đã áp dụng
phương pháp dạy học tích cực này vào dạy học các tác phẩm văn học và nhận
thấy rất hiệu quả. Thực sự phương pháp dạy học này đã đáp ứng được yêu cầu
của việc đổi mới phương pháp dạy học văn, phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, và tạo ra nhiều hứng thú cho người dạy. Tuy nhiên,
việc vận dụng phương pháp nên ở mức độ nào, cách vận dụng sao cho đạt hiệu
quả cao nhất… là vấn đề mà bản thân tôi còn không ít trăn trở.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn đề tài này vừa để trao đổi kinh nghiệm, vừa để có điều kiện
nghiên cứu kĩ lưỡng, sâu sắc hơn về phương pháp dạy học mà mình tâm đắc.
Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo thêm hứng thú, niềm say mê cho các
em khi học các tác phẩm văn học trong chương trình ngữ văn ở trường THPT.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi của một đề tài nhỏ này tôi chỉ tập trung vào một số tác
phẩm văn học Việt Nam( gồm cả văn học dân gian và văn học viết) ở chương
trình hệ thống hóa, củng cố kiến thức tiếp thu được”.
V. Ôkôn cho rằng: “Nét bản chất nhất của dạy học nêu vấn đề không phải
là sự đặt ra những câu hỏi mà là tạo ra những tình huống có vấn đề”.
T.V. Kudriaxep cũng phát biểu ý tương tự: “Khái niệm về tình huống có
vấn đề và các biện pháp giải quyết nó tạo nên cơ sở của dạy học nêu vấn đề”.
Như vậy, hạt nhân của phương pháp dạy học nêu vấn đề là tạo ra các tình
huống có vấn đề.
Vậy thế nào là “tình huống có vấn đề”?
1.2. Khái niệm tình huống có vấn đề
Hiện nay chưa có một định nghĩa hoàn toàn thống nhất, sau đay là một số
định nghĩa đáng chú ý:
Theo M.I Mackmutov: Tình huống có vấn đề là trở ngại về trí tuệ của
con người xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải quyết hiện tượng, sự kiện,
quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động
quen thuộc. Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay
hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng
tạo có hiệu quả. Nó qui định sự khởi đầu của tu duy, hành động tư duy tích cực
sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết các vấn đề.
Một tác giả khác lại viết: Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí độc
đáo của người gặp chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu
cầu giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà, bằng
tìm tòi, sáng tạo tích cực đầy hưng phấn, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến
thức, phương pháp giành kiến thức và cả niềm vui sướng của phát hiện.
Như vậy, có thể coi tình huống có vấn đề trong dạy học là trạng thái tâm lí
đặc biệt của học sinh khi họ gặp mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức
giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải
2
www.sangkienkinhnghiem.com
quyết mâu thuẫn đó bằng tìm tòi tích cực, sáng tạo, kết quả là họ nắm được cả
kiến thức và phương pháp giành kiến thức.
2. 2. Về phía giáo viên:
Đối với bộ môn ngữ văn ở trường THPT Bá Thước, phương pháp dạy
học nêu vấn đề mới chỉ được sử dụng thường xuyên trong các giờ thao giảng.
Trong các giờ dạy ấy, nó cũng chỉ phát huy được tính chủ động, tích cực của
một bộ phận học sinh có ý thức xây dựng bài tốt. Nguyên nhân là do trong giáo
viên còn có những cách nhìn nhận chưa thỏa đáng về dạy học nêu vấn đề. Một
số người cho rằng phương pháp này hay nhưng khó, nó đòi hỏi người giáo viên
phải có khả năng phát hiện tình huống có vấn đề và nghệ thuật nêu tình huống
có vấn đề nên còn ngại. Có người lại băn khoăn rằng phương pháp này không
phù hợp với đối tượng học sinh miền núi (năng lực rất hạn chế, phần lớn các em
rất yếu về kỹ năng nói trước tập thể)… Bên cạnh đó, một tồn tại lớn nữa là nhiều
3
www.sangkienkinhnghiem.com
giáo viên còn lúng túng trong việc tạo ra các tình huống có vấn đề và nhiều khi
vấn đề được đưa ra chưa được giải quyết thỏa đáng nên không gây được hứng
thú với học sinh. Cho nên: Làm thế nào để sử dụng hiệu quả phương phap dạy
học này? Vận dụng nó ra sao cho phù hợp với bài học, đối tượng học? là
những câu hỏi đặt ra với tất cả các giáo viên văn ở nhà trường chúng tôi. Bản
thân tôi đã mạnh dạn sử dụng phương pháp này một cách thường xuyên. Và với
các giải pháp của mình bước đầu tôi thu được kết quả khả quan.
Chương 3: Các giải pháp thực hiện
Từ ý thức về tầm quan trọng của dạy học nêu vấn đề, từ thực trạng của
việc dạy và học môn ngữ văn ở THPT Bá Thước, những năm qua tôi đã cố gắng
tìm tòi, vận dụng phương pháp này vào việc dạy học các tác phẩm văn học và
bước đầu đã thấy hiệu quả. Khi dạy mỗi tác phẩm văn học, tôi chú ý phát hiện ra
tình huống có vấn đề và tổ chức, hướng dẫn cho học sinh giải quyết tình huống
được nêu ra.
Theo kinh nghiệm của mình, tôi đã tạo ra các tình huống có vấn đề và tổ
chức cho học sinh giải quyết tình huống theo các cách thức sau đây:
3.1. Xây dựng tình huống lựa chọn:
- Học sinh nắm được ý tưởng nghệ
thuật cũng như tình cảm nhân đạo của
tác giả dân gian.
- Một số học sinh rút ra được bài học
4
www.sangkienkinhnghiem.com
ta nói chung với Trọng Thủy. Để
Trọng Thủy tự vẫn thì kẻ thù của dân
tộc bị trừng phạt nhưng lại cho thấy
tình cảm bao dung, độ lượng và sự cảm
thông của nhân dân ta đối với Trọng
Thủy và đó cũng là cơ sở cho sự sáng
tạo hình ảnh hoàn mĩ “ ngọc trai –
giếng nước”.
ứng xử trong cuộc sống: cần phải có
một tấm lòng độ lượng, bao dung và
tha thứ cho những lỗi lầm của con
người.
Ví dụ 2: Bài “Tràng giang” (Huy Cận)
Tình huống: Có người cho rằng “Tràng giang” là một bài thơ nói về
những rung cảm của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Người khác lại
cho rằng bài thơ hàm chứa tình yêu đất nước. Anh (chị) đồng ý với ý kiến nào?
Vì sao?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Chấp nhận cả hai cách hiểu: bài thơ là
cảm xúc của con người trước thiên
nhiên đồng thời tâm trạng trong bài thơ
Cô Tấm thực ra không hiền như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ( Quả thị thơm cô
Tấm rất hiền) mà trái lại rất ghê gớm, thậm chí có phần độc ác vì hành động
giết người trả thù của Tấm cũng độc ác không kém hành động giết hại Tấm của
mẹ con Cám. Suy nghĩ của anh (chị ) thế nào?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
- Tấm là nhân vật văn học đại diện cho
cái thiện mà nhân dân lao động sáng
tạo ra để thể hiện quan niệm, thái độ
của mình về cuộc sống. Cái tư tưởng
cốt lõi mà dân gian muốn gửi gắm đến
người đọc, người nghe là: “thiện luôn
thắng ác”, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp
ác”. Với suy nghĩ như thế, dân gian
không cho rằng hành động của Tấm là
độc ác thậm chí là cần thiết đối với
Cám tức là kẻ ác cần bị trừng trị đích
đáng.
- Hiền không đồng nghĩa với nhút nhát,
sợ hãi, nhường nhịn hay là chịu khuất
phục trước cái ác, cái xấu. Trong quan
niệm của dân gian là “ đi với bụt mặc
áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.
- Học sinh có cơ hội củng cố và tích
hợp kiến thức vì cần phải huy động
những kiến thức về tác phẩm, về thể
loại truyện cổ tích, về tư tưởng của dân
gian mới có thể lí giải được vấn đề.
- Học sinh huy động được kiến thức
tổng hợp về hoàn cảnh lịch sử triều
đình nhà Nguyễn, cùng cảm nhận, miêu
tả của tác giả về bức tranh mùa thu để
hiểu tình cảnh, tâm sự của nhà thơ. Từ
đó, các em thấy được tâm trạng rất
đáng cảm thông, rất đáng trân trọng ở
6
www.sangkienkinhnghiem.com
tầm thường của bậc ẩn sĩ. nhà thơ Nguyễn Khuyến.
- Không chỉ hiểu tâm sự của Nguyễn
Khuyến trong bài thơ, học sinh còn có
cơ sở để hiểu rộng hơn về tâm trạng và
quan điểm xử thế của những nhà nho
yêu nước thời phong kiến: “lánh đục về
trong” để giữ gìn tiết tháo (ví dụ như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…)
3.3. Xây dựng tình huống nhân quả:
Tình huống nhân quả là tình huống giáo viên yêu cầu học sinh đi tìm
nguyên nhân của một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc quy luật
của một sự kiện, động cơ sâu xa của một hành vi nào đó. Tình huống này đòi hỏi
học sinh phải trả lời câu hỏi “tại sao” và để trả lời thấu đáo các em cần phải thảo
luận, tranh luận để đi đến câu trả lời thuyết phục nhất. Các em được thể hiện khả
năng phán đoán, suy luận của mình trước những tình huống đặt ra. Từ đó, mỗi
học sinh sẽ nắm được nội dung kiến thức cần đạt.
Với tình huống này, tôi thường tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm
nhỏ (5 học sinh/nhóm), các em trong nhóm sẽ trình bày ý kiến và nhóm trưởng
tổng hợp, đại diện trình bày trước lớp. Giáo viên tổ chức, chỉ đạo chung và hỗ
trợ các nhóm khi cần thiết bằng câu hỏi gợi dẫn. Kết thúc hoạt động này, giáo
viên đánh giá, nhận xét và nêu định hướng chung cho việc trả lời câu hỏi.
tạp trong diễn biến tâm lí của nhân vật.
Qua đó, hiểu sâu một nét phong cách
nghệ thuật rất độc đáo của Nam Cao là
7
www.sangkienkinhnghiem.com
nữa” đã chứng tỏ Chí hoàn toàn tỉnh
táo. Câu nói đó là biểu hiện cao nhất
của sự tuyệt vọng và của niềm khát
vọng trong Chí: Khát vọng trở lại làm
người lương thiện nhưng không bao
giờ thực hiện được nữa. Từ đây bản
tính lương thiện đẹp đẽ trong con
người Chí Phèo được khẳng định.
khả năng khám phá “con người bên
trong con người”.
Ví dụ 2: Bài “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu)
Tình huống: Hành động đánh vợ của người đàn ông là do thói quen khó
sửa, do sở thích kì quặc, hay là một lí do nào khác? Tại sao mỗi khi đánh vợ
người đàn ông lại “rên rỉ đau đớn”?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Hành động đánh vợ của ông ta không
phải do thói quen, cũng không phải do
sở thích kì quặc mà là một hành động
giải tỏa nỗi ẩn ức, bế tắc trong lòng
ông ta. Nghèo khổ, túng quẫn vì trốn
lính, quá nhiều con…là những lí do
rõ vấn đề cần tìm hiểu.
Ví dụ 1: Bài “Chí Phèo” (Nam Cao).
8
www.sangkienkinhnghiem.com
Tình huống: Thử hình dung sau khi giết Bá Kiến, Chí Phèo không tự sát
thì cuộc sống của hắn tiếp đó sẽ ra sao? Từ đó, anh (chị) có nhận xét gì về sự
lựa chọn của Chí Phèo?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Sau cái chết của Bá Kiến, dân làng Vũ
Đại ( kể cả Thị Nở) càng ghê sợ và xa
lánh Chí; Lí Cường sẽ cho người đánh
đập, hành hạ Chí Phèo để Chí sống
không bằng chết cũng có thể hăn sẽ
bỏ tù Chí Phèo để trả thù cho bố…. Và
dù có khát khao lương thiện đến cháy
bỏng, Chí vẫn phải sống nốt phần đời
còn lại trong cô độc và tuyệt vọng,
trong men say và tội lỗi. Qua đó, ta
hiểu rằng chỉ có cái chết mới giúp Chí
Phèo thoát khỏi bi kịch đau đớn ấy và
tự sát là cách duy nhất để Chí Phèo
được chết như một con người.
- Học sinh được phát huy trí tưởng
tượng phong phú và năng lực sáng tạo
dồi dào khiến giờ học thêm sôi nổi, hấp
dẫn .
- Học sinh thấm thía hơn bi kịch bị cự
- Học sinh rút ra được bài học trong
cuộc sống: không nên đánh giá con
người, sự vật ở dáng vẻ bên ngoài mà
phải phát hiện ra bản chất thực sau vẻ
bề ngoài ấy vì giữa nội dung bên trong
và hình thức bên ngoài không phải bao
giờ cũng có sự thống nhất.
9
www.sangkienkinhnghiem.com
Ví dụ 3: Truyện “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy”
Tình huống: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng
Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.
( Đề bài làm văn số 2)
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Có thể kể và kết thúc theo nhiều cách
khác nhau miễn là bài viết có tính
thuyết phục và phù hợp với ý đồ nghệ
thuật của tác giả dân gian:
- Gặp lại Trọng Thủy dưới thủy cung ,
Mị Châu nặng lời phê phán rồi quay đi,
bỏ mặc Trọng Thủy đầu tóc bơ phờ,
nét mặt đau khổ, dáng hình mờ dần và
tan trong dòng nước xanh.
- Mị Châu bình tĩnh phân tích mọi lẽ
đúng, sai lúc hai người còn sống. Hiểu
lời Mị Châu, Trọng Thủy rất ân hận,
muốn nối lại duyên xưa. Tuy cảm động
viên đánh giá, nhận xét và nêu định hướng chung cho việc trả lời câu hỏi.
Ví dụ 1: Bài “ Vội vàng ( Xuân Diệu)
10
www.sangkienkinhnghiem.com
Tình huống: Học xong bài “Vội vàng” có bạn học sinh cho rằng cuộc
đời là hữu hạn và tuổi trẻ thật ngắn ngủi. Vì vậy, từ khi còn trẻ phải biết tìm
cách tận hưởng mọi thú vui của cuộc sống kẻo sau này hối tiếc. Anh( chị) có
đồng tình với suy nghĩ này không? Vì sao?
Định hướng giải quyết tình huống
của giáo viên
Kết quả đạt được sau khi giải quyết
tình huống
Đây là cách hiểu chưa đúng về lẽ
sống vội vàng của Xuân Diệu. Ta nên
hiểu bài thơ là lời giục giã thanh niên
hãy sống mê say, mãnh liệt, hết mình,
hãy nâng niu từng phút, từng giây của
cuộc đời và tuổi trẻ để tận hiến và tận
hưởng, hãy sống sao cho mỗi giây phút
trôi qua tràn đầy ý nghĩa.
- Học sinh hiểu đúng đắn về triết lí
sống vội vàng của Xuân Diệu.
- Các em rút ra được bài học bổ ích cho
bản thân: sống không phải chỉ để tận
hưởng mà còn phải tận hiến, phải làm
sao để hài hòa giữa cá nhân và tập thể,
riêng và chung, sống hết mình và sống
có ích cho mọi người
Ví dụ 1: Bài “ Thương vợ”( Trần Tế Xương)
Tình huống: Có ý kiến cho rằng hai câu thơ:
11
www.sangkienkinhnghiem.com
Sau đây là phần câu hỏi và định hướng trả lời trong một giáo án có sử
dụng các câu hỏi nêu vấn đề để đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề. Tôi
chỉ thực hiện cho phần đọc – hiểu văn bản và phần tổng kết, củng cố bài học.
Bài: “Đây thôn Vĩ Dạ” ( Hàn Mặc Tử)
12
www.sangkienkinhnghiem.com
Câu hỏi cho hoạt động học Định hướng trả lời cho hoạt động học
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi, Em
hãy cho biết: Ai hỏi? Giọng điệu
hỏi? Ý nghĩa lời hỏi?
Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong
tưởng tượng của nhà thơ hiện lên
với những màu sắc và hình ảnh như
thế nào?
+ Em hiểu như thế nào về cụm từ
“nắng hàng cau” và “nắng mới
lên”?
+ Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cho em
suy nghĩ gì?
+ Em có cảm nhận gì về cách dùng
từ “mướt” của tác giả? Nếu thay từ
“mướt”bằng từ “biếc” hoặc từ
“thắm” thì có ảnh hưởng gì đến ý
nghĩa và sắc thái biểu cảm của câu
thơ không?
( Tình huống giả định)
+ Theo em cách so sánh “vườn
+ “ Nắng hàng cau”: là cái nắng tinh khôi,
trong trẻo.
+ “Nắng mới lên” là nắng buổi ban mai
còn tinh khôi, thanh khiết. Đó là ánh nắng
ấm áp, nguyên lành.
+ “vườn ai”: đại từ phiếm chỉ “ai” gợi
cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về
một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh,
không thể sở hữu.
+ Từ “mướt diễn tả màu xanh mỡ màng,
mượt mà của lá cây còn ướt sương đêm.
Từ biếc hoặc từ thắm chỉ diễn tả được
mức độ xanh.
+ “Xanh như ngọc”: nghệ thuật so sánh,
diễn tả được sự xanh mướt, xanh trong,
màu xanh ấy đổ đầy sắc ngọc. → gợi lên
vẻ đẹp tươi tốt, màu mỡ, lung linh làm
bừng sáng cả khu vườn thôn Vĩ.
* Người thôn Vĩ
+ “Mặt chữ điền”: là biểu tượng của nét
đẹp phúc hậu, hiền lành.
+ “lá trúc che ngang”: lá trúc mảnh mai,
gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con
người xứ Huế.
Hình ảnh thơ được miêu tả theo
hướng cách điệu hóa, tức là chỉ gợi lên vẻ
đẹp của con người, không chỉ rõ cụ thể là
ai
ð Bằng hệ thống ngôn ngữ chọn lọc, bút
đó, họ sẽ nghe tòa án lương tâm phán xét, sẽ ăn năn hối cải. Như vậy, họ đã
nhận sự trừng phạt mà vẫn còn cơ hội sám hối, và cô Tấm sẽ hoàn toàn thanh
thản sống hạnh phúc bên nhà vua đến trọn đời. Lại có học sinh thích một cái kết
thúc như kiểu truyện “ Thạch Sanh”. Tấm sẽ tha chết cho hai mẹ con Cám
nhưng đuổi họ khỏi hoàng cung. Ra đường, cả hai mẹ con Cám đều bị sét đánh
chết.
Như vậy, có thể nói các em đã không còn thơ ơ với tác phẩm, không học
một cách hời hợt, đối phó nữa. Đọc kĩ tác phẩm, tranh luận để hiểu sâu sắc tác
phẩm đã trở thành nhu cầu rất tự nhiên của mỗi học sinh. Đây là điều đáng
mừng mà bất cứ người giáo viên ngữ văn nào cũng mong đợi.
4.2. Kết quả cụ thể
4.2.1. Kết quả theo dõi tinh thần xây dựng bài trên lớp của học sinh:
Trong năm học vừa qua, tất cả các giờ đọc - hiểu tác phẩm văn học ở lớp
11A1(sĩ số: 41 học sinh) tôi đều có sử dụng câu hỏi nêu vấn đề để đặt học sinh
vào tình huống có vấn đề. Tuy nhiên, căn cứ vào từng tác phẩm mà tôi đưa ra
mức độ và số lượng câu hỏi khác nhau. Qua theo dõi tinh thần, và thái độ học
tập của học sinh tôi thấy có nhiều chuyển biến tích cực. Hầu hết các em tỏ ra hào
14
www.sangkienkinhnghiem.com
hứng phát biểu suy nghĩ của mình trước mỗi tình huống được đưa ra. Số lượng
học sinh chủ động tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài tăng lên đáng kể,
nhiều em học sinh đã mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước tập thể, không còn tình
trạng học sinh bị “bắt cóc” phát biểu không trả lời được. Kết quả theo dõi cụ thể
như sau :
Thường xuyên
phát biểu
Phát biểu không
thường xuyên
Rất ít khi phát biểu
SL % SL % SL %
12A3 (41 hs) 9 22 10 24 18 44 4 10
15
Đối tượng
học sinh
Thời điểm
www.sangkienkinhnghiem.com
đề được đưa ra và kết quả ở bài kiểm tra cũng cao hơn rõ rệt. Sau đây là kết quả
bài kiểm tra số 2 ở hai lớp 10A3 và 10A4.
Đề bài: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy
đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.
Phần III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
Qua một thời gian dài tìm tòi, thử nghiệm phương pháp dạy học tích cực
này, tôi có thể kết luận: Việc áp dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học các
tác phẩm văn học là rất cần thiết và hiệu quả. Nó đã thực sự đáp ứng được yêu
cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung yêu cầu của môn học nói
riêng. Vì vậy, bản thân tôi thấy mình cần phải quan tâm hơn nữa đến viêc áp
dụng phương pháp này trong quá trình dạy học.
2. Đề xuất:
Đối với sách giáo khoa: Hằng năm trong quá trình tái bản sách người biên
soạn nên bổ sung thêm một vài câu hỏi dạng nêu vấn đề ở phần luyện tập để
giáo viên và học sinh có định hướng tìm hiểu bài học.
Đối với tổ chuyên môn nhà trường: Trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên
môn cần dành nhiều thời gian quan tâm đặc biệt đến đổi mới phương pháp dạy
học văn nhất là phương pháp dạy học nêu vấn đề.
Đối với giáo viên: Mỗi giáo viên phải không ngừng tự học hỏi, nâng cao
trình độ chuyên môn, và rất cần thiết phải tìm tòi, phát hiện tình huống có vấn
đề trong mỗi tác phẩm văn học để đưa ra được những câu hỏi nêu vấn đề trong
giờ học. Người giáo viên cũng nên tạo điều kiện, khuyến khích học sinh hưởng
ứng câu hỏi nêu vấn đề. Tuy nhiên, mức độ áp dụng phương pháp dạy học nêu
9. Bộ giáo dục và đào tạo, Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra,
đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
môn Ngữ văn, Hà Nội tháng 7/2010.
10. Đặng Thị Trinh – Vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học một số
bài thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông - Trường đại học sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh.
11. Phương Thảo- Tìm hiểu phương pháp dạy học nêu vấn đề, Trường đại
học văn hóa nghệ thuật quân đội.
12. Nguyễn Xuân Lạc- Chuẩn bị kiến thức và kĩ năng làm bài thi môn Văn-
Nxb ĐHQG Hà Nội 2009
13. Phan Trọng Luận- Thiết kế bài học ngữ văn 11( Tập hai) – Nxb Giáo dục
2008
17
www.sangkienkinhnghiem.com
MỤC LỤC
Phần Nội dung Trang
I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 1
3. Đối tượng nghiên cứu 1
4. Phương pháp nghiên cứu 1
5. Phạm vi nghiên cứu 1
6. Những đóng góp của đề tài 1
II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2
Chương 1:Cơ sở lí luận 2
1.1. Khái niệm dạy học nêu vấn đề 2