BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hồng Thị Ngọc Hường
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THUYẾT
TRÌNH NHÓM THEO CHỦ ĐỀ TRONG
DẠY HỌC PHẦN “LÝ LUẬN DẠY HỌC
HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG” Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
Chun ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ mơn Hóa học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNH VĂN BIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
TRÌNH NHÓM THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “LÝ LUẬN DẠY HỌC HÓA
HỌC ĐẠI CƯƠNG” Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM” với mong muốn nghiên cứu
sâu và mở rộng phạm vi sử dụng của phương pháp này trong dạy học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứ
u việc sử dụng phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề trong dạy học
phần “Lý luận dạy học hoá học đại cương” nhằm phát huy tính tích cực, năng lực hợp tác
của SV qua đó nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Sư phạm.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề ở trường Cao
đẳng Sư phạm.
Điều tra thực trạng về phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề.
Thiết kế giáo án sử dụng phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề trong dạy học
môn PPDHHH ở trường Cao đẳng Sư phạm.
TN sư phạm để
đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
4. Đối tượng – Khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: việc sử dụng phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề trong
dạy học phần “Lý luận dạy học hoá học đại cương” ở trường Cao đẳng Sư phạm.
Khách thể nghiên cứu: quá trình đào tạo GV hoá học của trường Cao đẳng Sư phạm.
5. Phạm vi nghiên cứ
u
Phương pháp thuyết trình nhóm theo chủ đề được nghiên cứu sử dụng trong phần “Lý
luận dạy học hoá học đại cương” ở trường Cao đẳng Sư phạm.
Phần TN sư phạm được tiến hành với SV trường Cao đẳng Sư phạm Bình Phước, SV
hệ cao đẳng trường Đại học Sài Gòn.
6. Giả thuyết khoa học
Kết quả học tập và năng lực h
ợp tác của SV sẽ cao hơn khi phương pháp thuyết trình
độ nhận thức, kĩ năng suy luận… các nghiên cứu về dạy học nhóm còn đem lại những kết
quả bất ngờ
về kĩ năng giao tiếp đa văn hoá, mở ra một phương hướng áp dụng mới để giải
quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo và các vấn đề do đa văn hoá gây ra.
Mở đường cho những nghiên cứu về hợp tác nhóm trên thế giới là ba học thuyết: tương
thuộc xã hội, phát triển tri thức và thái độ trong học tập [49], [57].
Thuyết tương thuộc xã hội
Tương tác với ngườ
i khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong dạy học,
sự tương thuộc xã hội liên quan tới sự nỗ lực của HS để phát triển các mối quan hệ tích cực,
điều chỉnh tâm lý và thể hiện kĩ năng xã hội.
Tiền đề của sự tương thuộc xã hội về hợp tác nhóm giả định rằng cách mà tương
thuộc xã hội đượ
c xây dựng chỉ ra cách mọi người tác động lẫn nhau. Một trong những yếu
tố quan trọng là phải xây dựng được những lớp học trong đó sự hợp tác có tồn tại. Kết quả là
sự hợp tác dẫn tới các mối tương thuộc được đẩy mạnh khi những thành viên động viên và
khuyến khích tinh thần nỗ lực học.
Thuyết tương thuộc xã hội bắt đầu được nghiên c
ứu vào những năm đầu tiên của thập
niên 1900, một trong những người sáng lập của Trường Tâm lý học Gestalt, Kurt Koffka đề
xuất rằng “Nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các thành viên”. Năm 1920-
1930 đồng nghiệp của Koffka, Kurt Lewin đã tinh chế khái niệm của ông khi nói rằng: “Bản
chất của một nhóm là sự tương thuộc lẫn nhau giữa các thành viên với mong muốn hoàn
thành tốt các mục tiêu chung”. Cuối năm 1940, Morton Deutsch một học trò xuất sắc của
Lewin, đã mở rộng lý luận về thuyết tương thuộc xã hội của th
ầy mình, xây dựng một lý
thuyết hợp tác và cạnh tranh (Deutsch, 1949, 1962). Lý thuyết của Deutsch cũng được mở
rộng và áp dụng cho giáo dục của tác giả tại Đại học Minnesota (Johnson, năm 1970,
Johnson & Johnson, 1974, 1989). Năm 1960, David và Roger Johnson nghiên cứu ảnh
nhóm”.
Các bài báo về hoạt động nhóm
Tiếp thu những tính ưu việt của PP học nhóm, ở nước ta trong những năm gần đây đã
có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học. Đặc biệt trong giảng dạy hóa học
đã có nhiều bài báo khoa họ
c, luận văn, khóa luận tốt nghiệp về hoạt động này như:
“Hoạt động nhóm trong dạy học ở trường phổ thông”của PGS.TS Trịnh Văn Biều, Kỷ
yếu hội thảo (khoa Hóa) về nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học (7/2008).
“Dạy học nhóm – PPDH tích cực”của tác giả Nguyễn Trọng Sửu , Tạp chí giáo dục
số 171 kì 1- 9/2007.
Bài viết: “ phương pháp dạy học nhóm” được đă
ng trên trang web trường Đại học
Cần Thơ, địa chỉ: www.ctu.edu.vn/colleges/tech/daotao/2006/thamkhao/PPGD%20moi.pdf
,
chúng tôi không tìm được tên tác giả. Nhưng bài viết với nhiều nội dung lí luận và phương
pháp dạy học giá trị, cụ thể gồm 3 chương như sau [55]:
Chương 1 - Giúp sinh viên học
Chương 2 - Việc học với sinh viên là trung tâm
Chương 3 - Việc dạy học theo nhóm nhỏ
3.1. Dạy học theo nhóm nhỏ là gì ?
3.2. Việc quản lí nhóm
3.3. Nhiệm vụ của nhóm
3.4. Duy trì hoạt động của nhóm
3.5. Kế hoạch làm việc của PPDH theo nhóm nhỏ
3.6. Giớ
i thiệu các phương tiện kích thích nhóm tham gia thảo luận
3.7. Các phương pháp kĩ thuật áp dụng cho việc thảo luận nhóm
3.8. Các khó khăn trong việc dạy học theo nhóm nhỏ
3.9. Đánh giá PPDH theo nhóm nhỏ
1.1.1.2. Các luận văn, khóa luận về hoạt động nhóm
- Tổ chứ
c hoạt động nhóm chuyên gia.
- Tổ chức hoạt động nhóm chia sẻ kết quả học tập.
- Tổ chức hoạt động nhóm theo mô hình trò chơi.
- Tổ chức hoạt động nhóm có sử dụng thí nghiệm.
- Tổ chức hoạt động nhóm ở ngoài lớp học và báo cáo sản phẩm tại lớp
Tác giả đã thiết kế 10 bài lên lớp có vận dụng 5 hình thức tổ chức hoạt động nhóm và
TN sư ph
ạm để xác định tính hiệu quả và khả thi của 5 hình thức tổ chức hoạt động nhóm.
Trong luận văn này tác giả đã chú trọng xây dựng và rèn luyện các kĩ năng hoạt động
cho HS đồng thời đánh giá được đóng góp của mỗi thành viên vào kết quả chung của nhóm.
Khóa luận tốt nghiệp “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và phương pháp
đóng vai trong dạy học môn hóa lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS”
của SV Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng được:
- 8 hình thức dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ:
+ Trả lời câu hỏi trong phiếu học tập
+ Trả lời câu hỏi do GV trực tiếp đưa ra
+ Thự
c hành thí nghiệm theo nhóm
+ Mô tả thí nghiệm
+ Quan sát hình vẽ hay mô hình
+ Hỏi đáp giữa các nhóm
+ Cùng nhau nghiên cứu nội dung của bài học
+ Giải bài tập hóa học theo nhóm
- 12 kịch bản đóng vai.
- 14 phiếu ghi bài và nhiều phiếu học tập cho các hoạt động nhóm.
Tác giả đã thiết kế được 16 giáo án thuộc chương trình hoá học 10 nâng cao có vận
dụng phương pháp hợp tác nhóm nhỏ.
Trịnh Văn Biều [30].
Hiện nay, PPDH này ở các trường đại học, cao đẳng sư phạm còn ít được sử dụng và
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.
1.2. HOẠT ĐỘNG NHÓM
1.2.1. Khái niệm nhóm và hoạ
t động nhóm
Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các
mục tiêu (chung và riêng) và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Sửu – Tổ chức quá trình dạy học hóa học phổ thông-2008:
“Hoạt động nhóm trong dạy học là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó HS dưới sự
hướng dẫn của GV làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học
tập chung c
ủa nhóm đặt ra. Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa các
HS với nhau, giữa GV với từng HS”.
Hoạt động nhóm cho phép các thành viên nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới.
Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau về kiến
thức, kĩ năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ nă
ng xã hội khác [37,
tr.20- 21].
Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều (7/2008), Hoạt động nhóm trong dạy học ở trường phổ
thông, Kỷ yếu hội thảo (khoa Hóa) về nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học [8,
tr.40]: “Hình thức học tập theo nhóm là một hình thức dạy học trong đó HS không làm việc
cá nhân đơn lẻ mà là làm việc tập thể dưới sự hướng dẫn của GV. Trong hoạt động đó có
nhiều mối quan hệ giao tiếp: gi
ữa các HS với nhau, giữa GV với từng HS. Trong hình thức
học tập theo nhóm từng thành viên trong nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập
của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các thành viên khác”.
Tóm lại có thể quan niệm: “Dạy học theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học,
tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên, trách
nhiệm với nhiệm vụ và kết quả làm việc của mình. Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm và
hành động độ
c lập, sáng tạo của HS.
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc: HS được luyện tập những kĩ năng cộng tác
làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến người khác và tính khoan dung.
- Phát triển năng lực giao tiếp: Thông qua cộng tác làm việc trong nhóm sẽ giúp HS
phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến của người
khác, biết trình bày bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
- H
ỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội: HS trong mối tương tác lẫn nhau trong
nhóm, có thể giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và cảm thấy
không phải chịu áp lực của GV.
- Tăng cường sự tự tin cho HS: HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội, các em
sẽ mạnh dạn hơn và ít mắc sai lầm; thông qua giao tiếp sẽ khắc phục sự thô bạo, cục cằn.
- Phát tri
ển năng lực phương pháp: Thông qua quá trình tự lực làm việc và làm việc
nhóm giúp HS rèn luyện, phát triển phương pháp làm việc.
- Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hóa: Lựa chọn nhóm theo hứng thú chung
hay lựa chọn ngẫu nhiên, các đòi hỏi như nhau hay khác nhau về mức độ khó khăn, cách học
tập như nhau hay khác nhau…
- Tăng cường kết quả học tập: Thực tế đã chứng minh những trường họ
c đạt kết quả
dạy học đặc biệt tốt là những trường có áp dụng và tổ chức tốt hình thức dạy học nhóm.
1.2.2.3. Các tiêu chí thành lập nhóm
Có rất nhiều tiêu chí để tạo lập nhóm trong dạy học nhóm, GV có thể áp dụng linh
hoạt, không nên dùng một tiêu chí duy nhất cho cả năm học. Sau đây là các phương án lập
nhóm với các tiêu chí khác nhau:
- Các nhóm gồm các HS tự nguyện, chung mối quan tâm: Đối với HS thì đây là cách
dễ chịu nhấ
động chính sau:
- Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: Thông qua thuyết trình, đàm thoại hay làm
mẫu, GV thực hiện việc giới thiệu chủ đề, nhiệm vụ chung; đưa ra các chỉ dẫn cần thiết.
Công việc này có thể giao cho HS trình bày với điều kiện là đã có sự thống nhất và chuẩn bị
từ trước cùng GV.
- Xác định nhiệm vụ của từng nhóm: Xác định và giải thích rõ nhiệm vụ và những
mục tiêu cần đạt được ở các nhóm. Thông thường nhiệm vụ của các nhóm là giống nhau,
nhưng cũng có thể khác nhau.
- Thành lập các nhóm làm việc: Tuỳ theo mục tiêu dạy học mà thành lập các nhóm
thích hợp.
Giai đoạn 2. Làm việc nhóm: Các nhóm tự lực thực hiện các nhiệm vụ được giao,
trong đó có những hoạt động chính như:
- Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm, đảm bảo
các thành viên có thể ngồi đối diện nhau để thảo luận. Cần làm nhanh để không tốn thời gian
và giữ
trật tự.
- Lập kế hoạch làm việc: Chuẩn bị tài liệu và đọc sơ qua tài liệu; Làm rõ xem tất cả
mọi người có hiểu các yêu cầu của nhiệm vụ hay không; Phân công công việc trong nhóm;
Lập kế hoạch thời gian.
- Thoả thuận về các quy tắc làm việc như: Mỗi thành viên làm công việc của mình và
ghi lại kết quả; Lắng nghe ý kiến của người khác, không ngắt lời người khác…
- Tiến hành giải quy
ết nhiệm vụ: Đọc kĩ tài liệu; Cá nhân thực hiện công việc đã phân
công; Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết nhiệm vụ; Sắp xếp kết quả công việc.
- Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp: Xác định nội dung và cách thức trình bày; Phân
công nhiệm vụ trình bày trong nhóm; Làm các hình ảnh minh hoạ; Quy định quá trình diễn
biến bài trình bày của nhóm.
Giai đoạn 3. Trình bày và đánh giá kết quả: Đại diện các nhóm trình bày kế
thức điều kiện cho công việc nhóm chưa ? Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế
nào ? Cần chia nhóm theo tiêu chí nào ? Cần tổ chức lớp học, kê bàn ghế như thế nào ?
Một số chú ý trong khi thực hiện dạy học nhóm: cần luyện tập cho HS quy tắc làm
vi
ệc nhóm, trao đổi về tiến trình làm việc nhóm với HS. Chú ý luyện tập về kĩ thuật làm việc
nhóm và duy trì trật tự cần thiết trong làm việc nhóm. GV quan sát các nhóm HS và giúp ổn
định các nhóm làm việc khi cần thiết.
1.3. PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH NHÓM THEO CHỦ ĐỀ [30, tr.68-72]
1.3.1. Khái niệm
Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều trong bài viết “Sử dụng phương pháp thuyết trình nhóm
theo chủ đề ở đại học và cao đẳng”, Tuyển tập báo cáo hội thảo quốc gia “đổi mới nội dung
và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng hóa học ở các trường đại học và cao đẳng, Hội Hóa
Học Việt Nam - phân hội giảng dạy Hóa Học, Hà Nội (2008) [30, tr.68]: “Thuyết trình nhóm
theo chủ đề là một PPDH trong đ
ó một cá nhân hay tập thể nhóm lên thuyết trình về một chủ
đề đã định trước cùng với việc sử dụng các phương pháp khác để tăng sự hấp dẫn người
nghe”.
Trong thuyết trình nhóm theo chủ đề, sử dụng đa dạng các PPDH, trong đó PP thuyết
trình là chủ yếu, nhưng có kết hợp với các phương pháp khác như đóng vai, phỏng vấn, đàm
thoại,…
Thuyết trình theo chủ đề có thể do một cá nhân (diễn thuyết, hùng biện) hay một tập
thể nhóm, tuy nhiên ở đây chúng ta đi sâu vào hoạt động theo nhóm.
Tính chất hấp dẫn là một trong những yêu cầu quan trọng cần đạt được.
1.3.2. Các bước tiến hành
Có thể thực hiện việc thuyết trình nhóm theo chủ đề với trình tự sau:
- Chọn chủ đề
- Chia nhóm
- Giới thiệu tên nhóm và các thành viên.
- Đặt câu hỏi định hướng (thu hút sự chú ý) và dẫn dắt vào chủ đề.
- Viết câu hỏi định hướng và dàn ý lên bảng để cả lớp theo dõi.
- Thuyết trình từng phần nội dung của chủ đề.
- Kết luận và cám ơn.
1.3.2.5. Thảo luận
- Các học viên tham dự thuyết trình đặt câu hỏi.
- Nhóm báo cáo có nhiệm vụ trả lời.
- Người h
ướng dẫn đặt thêm một vài câu hỏi chốt, điều khiển thảo luận và trợ giúp
nhóm báo cáo trả lời khi cần thiết.
- Người hướng dẫn nêu ý kiến nhận xét, hệ thống các kiến thức cốt lõi cần nắm của
chủ đề.
1.3.2.6. Đánh giá
- Trong khi nghe báo cáo từng học viên nhận xét về các cá nhân, nhóm vào vở ghi.
- Bỏ phiếu bình chọn một số cá nhân, một vài nhóm trình bày tốt nhất.
1.3.2.7. Tổng kết
Các học viên tóm tắt nội dung bài học (chủ đề vừa thuyết trình) ở lớp và bổ xung
thêm khi về nhà.
1.3.3. Vai trò của người hướng dẫn và học viên
1.3.3.1. Vai trò người hướng dẫn
- Hỗ trợ học viên trong việc tìm tài liệu, thiết kế dàn ý, phát hiện ý tưởng mới.
- Chuẩn bị trước những câu hỏi chốt.
- Điều khiển phần thuyết trình và thảo luận.
1.3.3.2. Vai trò của học viên
- Tham dự
đủ các buổi báo cáo.
- Chuẩn bị chu đáo, sưu tầm và nghiên cứu kĩ tài liệu. Đọc kĩ và ghi nhớ những ý
chính trong phần mình sẽ trình bày để thuyết trình được lưu loát, trôi chảy. Chuẩn bị các VD
minh họa sinh động, các câu hỏi phỏng vấn….
- Phát hiện những học viên có năng khiếu.
- Tập d
ượt năng lực tổ chức, điều khiển
1.3.4.4. Đối với tập thể
- Các thành viên hiểu nhau hơn do có cơ hội nói lên những suy nghĩ, tình cảm riêng tư,
trao đổi ý tưởng.
- Tăng thêm sự đoàn kết gắn bó, tinh thần tập thể.
- Tạo không khí thi đua, học tập lẫn nhau.
1.4. ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC [9]
1.4.1. Phương pháp dạy học
PPDH là một trong những thành tố quan trọng nhất của quá trình dạy học. Cùng một
nội dung nhưng học sinh có hứng thú, tích cực hay không, có hiểu bài một cách sâu sắc
không, phần lớn phụ thuộc vào PPDH của người thầy. PPDH có tầm quan trọng đặc biệt nên
nó luôn luôn được các nhà giáo dục quan tâm.
PPDH là cách thức thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học nhằm
thực hiện tối ưu các nhiệ
m vụ dạy học. Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng
giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học.
PPDH theo nghĩa rộng bao gồm:
- Phương tiện dạy học
- Hình thức tổ chức dạy học
- PPDH theo nghĩa hẹp
.
1.4.2. Dạy học hướng vào người học
Dạy học hướng vào người học còn có cách gọi khác trước đây là “Dạy học lấy học
sinh làm trung tâm”. Cách gọi này dễ gây sự hiểu lầm: vô hình dung làm giảm vai trò, giá trị
người thầy... nên một số nhà giáo dục đã sửa lại là “Dạy học hướng tập trung vào học sinh”.
Tuy nhiên tên gọi mới này vẫn chưa nêu được những nội dung quan trọng mà nó vốn có.
thắc mắc, hỏi thầy những điều không hiểu hay chưa được rõ. Dạy như thế kết qu
ả học tập bị
hạn chế rất nhiều. Người ta đã tìm cách để giảm thời gian hoạt động của thầy và tăng thời
gian hoạt động của trò trong một tiết học. Với cách tiếp cận đó, thực chất của dạy học bằng
hoạt động của người học là chuyển từ lối dạy cũ (thầy nặng về truyền
đạt, trò tiếp thu một
cách thụ động) sang lối dạy mới, trong đó vai trò chủ yếu của thầy là tổ chức, hướng dẫn
hoạt động, trò chủ động tìm kiếm, phát hiện ra kiến thức.
1.4.3.2. Ý nghĩa, tác dụng
Dạy học bằng hoạt động của người học có nhiều ý nghĩa và tác dụng trong việc đổi mới
nền giáo dục nước ta hiện nay:
1. Dạy học b
ằng hoạt động của người học là một nội dung của dạy học hướng vào
người học. HS chỉ có thể phát triển tốt các năng lực tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, thích
ứng với cuộc sống … nếu như họ có cơ hội hoạt động.
2. Dạy học bằng hoạt động của người học là một trong những con đường dẫ
n đến
thành công của người GV (dạy tốt, trở thành GV giỏi).
3. Dạy học bằng hoạt động của người học làm tăng hiệu quả dạy học:
- HS chỉ có thể học tập một cách thực sự nếu như họ có cơ hội hoạt động. Một giờ
học, nếu HS chỉ nghe giảng một cách thụ động, thì rất dễ bị phân tâm. Họ sẽ thờ ơ, sao
nhãng với nhiệm vụ học tập, nghĩ đến những việc khác như lo cho bài học sắp tới, giờ ra
chơi sẽ làm gì …, họ sẽ làm việ
c riêng, thậm chí có thể còn quậy phá gây ảnh hưởng đến
những bạn học xung quanh. Thời gian học tập thực sự của HS khó có thể chiếm một tỷ lệ cao
so với thời gian đã sử dụng. Nhưng một khi HS bị cuốn hút vào hoạt động, là chủ thể của
một hoạt động tự giác, tích cực, thì họ sẽ hoạt động tích cực hơn. Họ sẽ không thể sao nhãng,
l
ơ là như khi hoạt động một cách cưỡng ép, bắt buộc, thời gian họ học tập thực sự trong một
- Tóm tắt nội dung bài học.
- Đặt câu hỏi cho từng nội dung của bài học.
6. Tổ chức cho HS làm một vài thí nghiệm nhỏ, đơn giản trên lớp rồi nhận xét.
7. Hoạt động nhóm: tổ chức cho HS thảo luận các câu hỏi dưới sự điều khiển của
thầy hay
để HS tự điều khiển.
8. Thuyết trình theo chủ đề: giao cho HS chuẩn bị trước một phần nội dung bài học
(có thể lên mạng lấy thêm thông tin, hình ảnh minh họa, dùng phầm mềm powerpoint) sau
đó báo cáo trước lớp.
9. Tổ chức cho HS nhận xét, góp ý, tham gia vào quá trình đánh giá (tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau).
10. Câu lạc bộ hoá học, thi đố vui hóa học, trò chơi ô chữ.
1.4.4. Dạy học bằng sự đa dạng các phương pháp
1.4.4.1. Khái niệ
m
Với nhiều cách hiểu khác nhau người ta có thể coi “PPDH theo nghĩa rộng” bao
gồm “PPDH theo nghĩa hẹp”, phương tiện dạy học và các hình thức tổ chức dạy học.
Phương pháp theo nghĩa hẹp
(cách thức hành động)
Phương pháp theo nghĩa rộng
Phương tiện dạy học Các hình thức tổ chức dạy học
Dạy học bằng sự đa dạng các PP có nghĩa là sử dụng một cách hợp lý nhiều PP,
phương tiện, hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong một giờ, một buổi lên lớp hay trong
một khoá học, để đạt hiệu quả dạy học cao. Dạy học bằng sự đa dạng các PP bao hàm các
Hình 2: Sơ đồ các căn cứ lựa chọn phương pháp dạy học
- Mục đích dạy học chung và mục tiêu của môn học
- Đặc trưng của môn học
- Nội dung dạy học
- Đặc điểm lứa tuổi và trình độ HS
- Điều kiện cơ sở vật chất (phòng ốc và trang thiết bị)
- Thời gian cho phép và thời điểm dạy học
- Trình độ và nă
ng lực của GV
- Thế mạnh và hạn chế của mỗi PP.
1.4.4.3. Tác dụng của dạy học bằng sự đa dạng các PP
1. Sử dụng PPDH thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể sẽ phát huy những mặt
mạnh, khắc phục mặt yếu của mỗi phương pháp. Chúng ta đều biết rằng mỗi một PP đều có
những ưu, nhược điể
m riêng, không có PP nào là vạn năng. HS sẽ có điều kiện tiếp thu bài
một cách thuận lợi khi GV lựa chọn đúng PPDH thích hợp với tiến trình bài giảng.
2. Mỗi khi thay đổi PPDH là đã thay đổi cách thức hoạt động tư duy của học sinh,
thay đổi sự tác động vào các giác quan, giúp cho các em lâu mệt mỏi.
3. Mỗi HS khác nhau thích ứng với những PPDH khác nhau. Sử dụng đa dạng các
PP sẽ tạo điề
u kiện thích ứng cao nhất giữa PP dạy của thầy với PP học của trò, tạo sự tương
tác tốt nhất giữa thầy với cả lớp. Những dạng HS khác nhau sẽ lần lượt tìm thấy các tình
huống có lợi trong các dạng hoạt động thích hợp với bản thân.
4. Mỗi lần thay đổi PP là một lần giáo viên đã tạo ra “cái mới”, nhờ thế sẽ tránh
được sự
đơn điệu, nhàm chán.
5. Giờ học sẽ sinh động, hấp dẫn, HS hứng thú và có nhiều cơ hội hoạt động tích
cực hơn.
6. Dạy học bằng sự đa dạng các PP góp phần đáng kể trong việc nâng cao hiệu
ểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn
thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại
hình kiểm tra thích hợp với từng môn học.
7. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát
triển của HS, theo cấp học, bậc học).
1.4.6. Các phương pháp dạy học tích cực
1.4.6.1.Khái niệm
PPDH tích cực là các PPDH hướng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của người học dưới sự tổ chức, điều khiển và định hướng của người dạy nhằm đạt được
kết quả tối ưu của quá trình hoạt động nhận thức.
Dạy học tích cực đồng nghĩa với việc HS là chủ thể hoạt động, GV là người thi
ết
kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học.
1.4.6.2. Những đặc trưng của các PPDH tích cực
Các PPDH tích cực có những đặc trưng cơ bản sau:
1. Đặt trọng tâm vào hoạt động của người học.
2. Coi trọng hoạt động tổ chức, điều khiển của GV.
3. Các mối quan hệ tương tác thầy-trò, trò-trò phong phú và đa dạng.
4. Tính vấn đề cao của nội dung dạy học.
5. Mang lại kết quả họ
c tập cao.
1.4.6.3. Tác dụng của các PPDH tích cực
1. Khuyến khích sự tham gia chủ động, độc lập, sáng tạo của HS vào quá trình học
tập.
2. Tạo điều kiện cho người học phát triển tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo.
3. Tạo điều kiện cho người học phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
4. Tạo điều kiện cho ng
ười dạy phát triển năng lực tổ chức, điều khiển, khả năng
ứng xử sư phạm và năng lực hợp tác.