skkn vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “công dân với đạo đức thpt tân phú - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG PHƯỚC
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Anh
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học mônGDCD.
Năm học: 2012 - 2013
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Anh
2. Ngày tháng năm sinh: 07 - 04 - 1982
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: Số nhà 145, Ấp 4, Biên Hoà, Đồng Nai
5. Điện thoại: 0985507755
6. E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Phước
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: ĐHSP TP Hồ Chí Minh ngành Giáo dục chính trị
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn GDCD
- Số năm có kinh nghiệm: 07
A MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng
HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp
3
tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”[6; 8].
Từ năm học 2006 – 2007 cả nước bắt đầu thực hiện theo triển khai của Bộ giáo
dục và Đào tạo về đổi mới nội dung, chương trình SGK, đẩy mạnh PPDH. Đồng thời,
bắt đầu tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về PPDH và sau đó đã có nhiều cuộc
hội thảo khoa học về đổi mới PPDH ở các Tỉnh, Thành Phố do Bộ Giáo dục và Đào tạo
tổ chức.
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng
định: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi,
kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi
trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã
hội…”[43; 216].
Đặc biệt liên quan đến đề tài nghiên cứu phải nhắc đến các văn bản chỉ đạo như:
Chỉ thị số: 3398/CT- BGDĐT, ngày 12 tháng 8 năm 2011, đã xác định một trong
những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông năm học 2011 - 2012 là điều chỉnh nội dung
dạy học theo hướng giảm tải, tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục, PPDH và kiểm
tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông cho tất
các các môn học. Công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn nhiệm vụ năm học
2011- 2012 là tiếp tục thực hiện đổi mới PPDH triệt để hơn, sâu rộng hơn đến từng cán
bộ quản lý, GV trung học và HS.
Thực hiện yêu cầu đổi mới, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã triển khai
cho đội ngũ GV trong toàn tỉnh thực hiện đổi mới PPDH. Trong mỗi tiết dạy đổi mới
phương pháp đã tạo nên sự hứng thú, niềm say mê, khám phá, tìm tòi trong học tập của
HS, làm cho HS tự tin trình bày quan điểm của mình trước đám đông và kích thích sự
tư duy sáng tạo, nhu cầu tự học của HS. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các GV đang trực
tiếp giảng dạy, là phải không ngừng đổi mới PPDH cho phù hợp với đặc trưng môn

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”[27; 383].
5
Trong công tác giáo dục điều quan trọng là nhà giáo phải làm cho học sinh hào
hứng, phấn khởi, tích cực tiếp nhận sự giáo dục. Nhà giáo dục chỉ là người hướng dẫn,
gợi mở cho học sinh chứ không thể thay thế được tính tích cực chủ động, sáng tạo của
học sinh như nhà triết học, người thầy vĩ đại của Trung Quốc thời kỳ cổ đại là Khổng
tử nói: “Trò nào không hỏi làm thế nào? Làm thế nào? Thì ta cũng chẳng làm thế nào
được”. Vì vậy, nhà giáo dục phải tìm mọi biện pháp động viên, khơi dậy tính tích cực
của chủ thể, ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực
mình vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà
không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”.
Ở Việt Nam tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học
như tác giả Phan Huy Ngọ: “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác
giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận dạy học, các phương pháp dạy học, kỹ thuật sử
dụng phương tiện dạy học trong nhà trường, điểm mạnh và hạn chế của các phương
pháp dạy học, các phương pháp đánh giá kết quả [33; 183, 326]. Cũng như Trần Bá
Hoành: “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình SGK” tác giả nghiên cứu và
trình bày lý luận chung đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK phổ thông
[19; 7,176]. Còn Đặng Thành Hưng: “Tương tác và hoạt động của thầy trò trên lớp
học” tác giả đã chú trọng trình bày kỹ thuật sử dụng câu hỏi trong bài học, hành vi ứng
xử của giáo viên, sử dụng lời nói trên lớp và trình bày bảng như một phương tiện ngôn
ngữ viết trên lớp [20; 28, 46]. Với Trần Bá Đoàn: “Lý luận cơ bản về dạy và học tích
cực” tác giả nêu lên những vấn đề chung về thực trạng dạy và học hiện nay, sự cần
thiết phải đổi mới, những định hướng đổi mới theo phương pháp dạy và học tích cực
[16; 3] và nhiều công trình khác. Từ sự nghiên cứu lý luận dạy học và nêu lên hệ thống
các PPDH theo hướng tích cực, chủ động của người học, khẳng định vai trò trung tâm
của người học trong quá trình dạy học, các tác giả đã có cách viết khác nhau tạo ra sự
đa dạng và phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Bản thân tôi là GV đang trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi muốn đi tìm hiểu sâu

7
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn .
- Phương pháp quan sát, thực nghiệm: Nhằm kiểm tra giả thuyết nghiên cứu
bằng cách trực tiếp nghe nhìn (dự giờ, thực nghiệm giảng dạy).
- Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp dạy học tích cực môn Giáo dục công dân
THPT.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số phương PPDH phù hợp với phần thứ hai
“Công dân với đạo đức”, chương trình Giáo dục công dân lớp 10 và vận dụng vào dạy
học một số bài của phần này.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với
đạo đức” chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 phù hợp thì hiệu quả dạy – học
sẽ được nâng cao.
7. Đóng góp của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc vận dụng
PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công
dân lớp 10 ở các trường THPT.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo, đóng góp cho việc
nghiên cứu và dạy học môn Giáo dục công dân tại các trường THPT.
8
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG
DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP

ra.
1.1.1.2. Khái niệm phương pháp dạy học
Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học. Theo
Iu.K.Babanxki “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải
quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học ” [18; 62].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và
trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt nhiệm
vụ dạy học” [18; 62]. Còn tác giả Phan Trọng Ngọ: “Định nghĩa chung nhất về phương
pháp dạy học là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học”[33; 145].
Theo tác giả Trần Kiều coi PPDH là những hành động, hoạt động của giáo viên
“Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức
10
hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các
thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt mục đích đã định” [50; 25]. Nhóm tác giả
Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu Vân quan niệm: “Phương pháp dạy học là tổ hợp các
cách thức hoạt động của Thầy và Trò (trong đó Thầy đóng vai trò chủ đạo) được tiến
hành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học” [35; 72].
GS.
TS Đặng Thành Hưng: “
Phương pháp dạy học là những phương thức hoạt động trật tự
có liên quan qua lại của giáo viên và học sinh nhằm đạt những mục tiêu giáo dục” [21;
1]. Tuy nhiên, có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung của định nghĩa trên
đều có một tư tưởng chung là:
Phương pháp dạy học là sự tương tác trong tiến trình
hoạt động của giáo viên và học sinh, do đó phương pháp dạy học được xem xét trong
mối liên hệ giữa phương pháp với các nhân tố khác của quá trình dạy học (mục đích,
nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá, ). Trên cơ sở nghiên cứu
những định nghĩa của nhiều nhà khoa học khác nhau, chúng tôi đã đưa ra định nghĩa
về phương pháp dạy học như sau:
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, với sự tương tác giữa

chức cho HS thực hiện các hoạt động học tập để từng bước nắm vững các nội dung của
chương trình, đạt được các mục tiêu của bài học [32; 11].
Tuy nhiên, hiện nay cũng đang có nhiều quan niệm, tư tưởng của các giáo dục
trong và ngoài nước tập trung làm rõ “Phương pháp dạy học tích cực”. Mỗi một khái
niệm có sự tiếp cận khác nhau về cách diễn đạt. Nhưng hầu hết các tác giả đều khẳng
định, phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học.
Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng
tôi đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học tích cực như sau:
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động
sáng tạo tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung
tâm trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy và kết hợp các
phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm đạt được các mục tiêu của bài học.
12
1.1.2.
Một số phương pháp dạy học tích cực có thể vận dụng trong phần
“Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân
lớp 10.
Hiện nay có rất nhiều PPDH tích cực có thể vận dụng vào tất cả các bài dạy học ở
chương trình môn GDCD cấp THPT. Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu một
số PPDH có nhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực của HS trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức”, thuộc chương trình môn GDCD lớp 10 như sau:
1.1.2.1. Phương pháp nêu vấn đề
PPNVĐ là hoạt động có chủ đích của người GV bằng cách tổ chức, hướng dẫn
HS, tìm tòi, nêu lên được vấn đề cần nghiên cứu, tạo điều kiện cho HS lĩnh hội tri thức
và xác định cách thức giải quyết, hình thành năng lực sáng tạo của HS.
Để có thể nêu tình huống vấn đề, GV phải nắm vững bản chất của vấn đề, nắm
vững nội dung bài học. Nếu không GV chỉ có thể nêu ra câu hỏi mà HS chỉ cần đọc
sách giáo khoa là có thể trả lời một cách dễ dàng, không đòi hỏi phải có hoạt động tư
duy. Yêu cầu đặt ra đối với việc vận dụng PPNVĐ và giải quyết vấn đề trong môn

Phương pháp vấn đáp là PPDH trong đó GV đặt ra những câu hỏi và gợi mở để
HS dựa vào kiến thức đã học mà trả lời, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học và là
một trong những phương pháp được nhiều GV áp dụng ở nhiều môn học khác nhau.
Để áp dụng PPVĐ, GV cần tổ chức cho HS học tập theo các bước như sau:
14
- GV nêu câu hỏi cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc cho từng nhóm để HS suy nghĩ.
- GV khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến.
- GV hoặc lớp trưởng liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu của các thành viên trong lớp lên
bảng hoặc trên giấy khổ lớn (A0, A3, A4…) không loại trừ một ý kiến nào kể cả các ý
kiến chưa chính xác trừ trường hợp trùng lặp, hoặc cho HS trả lời vào phiếu học tập.
- Phân loại các ý kiến HS đã trả lời.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và khẳng định những ý kiến đúng đắn.
- GV tổng hợp ý kiến của HS và tạo điều kiện cho HS bổ sung ý kiến hoặc nêu các thắc
mắc của mình nếu chưa hiểu vấn đề.

PPVĐ
có thể vận dụng để lý giải những vấn đề trong phần triết học, đạo đức,
pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Song đặc biệt phù hợp với
các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong đời sống thực tế của HS và vận dụng các kiến
thức liên môn đã được học qua các môn học khác nhau, các kiến thức ở các phần, các
bài đã học trước đó.
Ví dụ: Ở bài 11:
Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học. Để học sinh tìm hiểu
nghĩa vụ là gì, thì giáo viên chiếu lên màn ảnh: tranh ảnh về việc thanh niên lên đường
nhập ngũ, cha mẹ chăm sóc con.
- GV đặt câu hỏi:
1. Em có cảm nghĩ gì sau khi xem tranh, ảnh trên?
2. Những tranh, ảnh đó nói về những nghĩa vụ nào?
3. Nghĩa vụ là gì?
Hoặc ở bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình. Giáo viên sử dụng

(lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được
làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về
vấn đề đó [33; 223].
PPTLN là
phương pháp có nhiều ưu thế trong việc tăng cường học
tập của cá nhân phối hợp với học tâp hợp tác
giúp người học hiểu bài sâu hơn, phù hợp
với những vấn đề trong phần đạo đức, pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng,
Nhà nước.
16
PPTLN có thể tiến hành theo 2 cách là thảo luận lớp và thảo luận theo nhóm
nhỏ. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung làm rõ hình thức thảo
luận nhóm nhỏ trong một lớp học.
Dựa vào nội dung bài học, GV chuẩn bị các câu hỏi thảo luận, chia HS theo
nhóm nhỏ từ 6 - 12 em và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận 1 – 2 câu hỏi. Mọi ý
kiến của các thành viên nêu lên trong nhóm phải được bàn bạc thống nhất. Sau khi thảo
luận, mỗi nhóm cử một người lên trình bày kết quả trước cả lớp. Sau phần trình bày
của mỗi nhóm, GV hướng dẫn, điều khiển để cả lớp được đóng góp ý kiến bổ sung. Hệ
thống câu hỏi của các nhóm chính là cấu trúc nội dung của bài học, hoặc một phần của
bài học.
Là một trong những PPDH tích cực, PPTLN nếu được sử dụng rộng rãi sẽ giúp
cho HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, khuyến khích tính tích cực
ngay cả với những HS rụt rè, nhút nhát trong học tập, tạo cơ hội để các em được tự thể
hiện mình, HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay cùng giải quyết một vấn đề, một
tình huống về triết học, đạo đức… trong chương trình môn GDCD. Phương pháp này
đòi hỏi người học tích cực động não, cho phép mọi thành viên trong nhóm được phát
huy tối đa khả năng của bản thân trong hoạt động hợp tác, cộng tác, tương tác với mọi
thành viên khác, được tạo mọi điều kiện để tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học,
được thể hiện quan điểm của mình.
Áp dụng PPTLN vào dạy học môn GDCD cần phải theo các bước sau:

cuộc sống và học tập. Cả hai đều được vào Đại học và đến năm cuối của trường Đại
học, họ chính thức tuyên bố với bạn bè về tình yêu của họ. Em có nhận xét gì về tình
huống trên?
Bước 2: HS trong nhóm trao đổi về tình huống được giao, ghi kết quả thảo luận.
Bước 3: Đại diện các nhóm lần lượt báo cáo, tranh luận bổ sung và lựa chọn đáp án
đúng theo cách hiểu của các em.
Bước 4: GV tổng kết các ý kiến của HS để thống nhất nội dung bài học và nhấn mạnh
một số ý trong nội dung.
18
1.2. Thực trạng vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo
đức”, chương trình môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Long Phước, Long Thành,
Đồng Nai
Thực trạng học tập môn GDCD lớp 10 của học sinh (qua khảo sát trường THPT
Long Phước, Long Thành, Đồng Nai)
19
I.
Để biết được thực trạng môn GDCD của HS như thế nào, chúng tôi tiến hành điều
tra, khảo sát 160 HS ở trường THPT Long Phước, để tìm hiểu nhận thức của HS về vai
trò, vị trí và thái độ tích cực, hứng thú học tập của môn GDCD trong nhà trường như
sau:
 Nhận thức của HS về vai trò của môn GDCD (Câu hỏi số 1, phụ lục 1)
Bảng 1.1: Khảo sát, đánh giá nhận thức của HS về vai trò của môn GDCD
Rất bổ ích Bổ ích Ít bổ ích Không bổ ích Tổng cộng
Tần số 103 41 8 8 160
Tỷ lệ % 64.4 25.6 5 5 100
20
Mã số phiếu
A…………
Hình 1.1: Biểu đồ đánh giá nhận thức của HS về vai trò của môn GDCD
Nhận xét:

 Thái độ hứng thú của HS với môn GDCD (Câu 7,8,9,10,11,12; phụ lục 1)
22
Hình 1.4: Biểu đồ đánh giá thái độ hứng thú của HS về môn GDCD
Nhận xét:
Với số liệu khảo sát số ý kiến HS (98/160 chiếm 61.2%) thường
xuyên chỉ học trong vở ghi; không tìm hiểu bài mới (52/160 chiếm 32.5%); hiếm khi
tìm hiểu bài mới (57/160 chiếm 35.6%); HS không đọc thêm tài liệu vào mạng Internet
(87/160 chiếm 54.3%); hiếm khi đọc thêm tài liệu vào mạng Internet (42/160 chiếm
26.2%); HS không chuẩn bị bài ngoài sách giáo khoa (97/160 chiếm 60.6%); không
thoải mái khi đặt câu hỏi (73/160 chiếm 45.6%); chờ đến kỳ thi mới học (73/160 chiếm
45.6%) cho thấy đa số học sinh còn chưa có hứng thú trong việc học tập môn GDCD.
1.3.1. Hiệu quả thực nghiệm qua việc xếp loại điểm bài kiểm tra
Sau khi kiểm tra chúng tôi tiến hành xếp loại điểm các bài kiểm tra lần 2 của lớp
TN và lớp ĐC theo bảng thống kê phân loại như sau:
Lớp
< 5
Loại yếu
5→6
(LoạiT.bình)
7→8
(Khá)
9→10
(Giỏi) T. cộng
Lớp TN 0 (%) 12(15%) 39(48.75%) 29(36.25%) 80
Lớp ĐC 3(3.75%) 30(37.5%) 34(42.5%) 13(16.25%) 80
Bảng : Thống kê phân loại điểm kiểm tra
Hình: Đồ thị phân loại điểm kiểm tra
23
Từ bảng thống phân loại điểm kiểm tra, chúng tôi có nhận xét:
- % điểm loại giỏi của lớp thực nghiệm (36.25%) > lớp đối chứng (16.25%).

đến bài học môn GDCD (25/80 – 31.25%); không thích (35/80 – 43.75%) cao hơn
nhiều so với LTN. Như vậy chúng tôi khẳng định tính ưu thế của vận dụng PPDH tích
cực đã tạo nên sự hứng thú, say mê đối với người học.
 Khả năng nhận thức, tiếp thu tri thức của HS đối với bài học (Câu 2, phụ lục 9, 10).
Hình 2.5: Đồ thị đánh giá khả năng nhận thức, tiếp thu tri thức của bài học
LTN số ý kiến hiểu và vận dụng kiến thức làm các bài tập (44/80- 55%), cao
hơn LĐC; còn số ý kiến của LĐC có nội dung hiểu, có nội dung chưa rõ (40/80 - 50%);
chưa hiểu nhiều (21/80 – 26.25% ); không hiểu bài (6/80 – 7.5%) cao hơn LTN. Điều
này khẳng định việc vận dụng PPDH tích cực vào dạy học môn GDCD của LTN có
chất lượng cao hơn nhiều so với với LĐC.
25

Trích đoạn Thái độ hứng thú của các em đối với môn GDCD (Đánh dấu X vào các lựa chọn mà các em cho là đúng nhất).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status