Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HÒA

KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP
NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO
ĐỨC”
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HÒA

KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP
NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO
ĐỨC”
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Chính trị
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
2
TS. TRẦN VIẾT QUANG
NGHỆ AN - 2014
3

KH - CN : Khoa học - Công nghệ
PPDH : Phương pháp dạy học
PPNVĐ : Phương pháp nêu vấn đề
PPTT : Phương pháp thuyết trình
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Ủy ban Nhân dân 6
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
Trang
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo. Mục đích của giáo dục là "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khoẻ thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trung thành
với lý tưởng độc lập dân tộc CNXH. Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất năng lực công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" (Luật
giáo dục).
7
Để nâng cao hiệu quả giáo dục, nhằm chuyển tải nội dung tri thức đến
người học một cách hiệu quả nhất, ngoài trình độ chuyên môn, lòng yêu nghề,
người dạy còn cần phải biết sử dụng linh hoạt các PPDH để phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng phương pháp tự học. Rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS. Thực tế cho thấy, không có bất kỳ một
PPDH nào được xem là tối ưu, hoàn hảo nhất. Mỗi một phương pháp đều có

pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD, 2006; Nguyễn Cảnh
Toàn - Lê Khánh Bằng, Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học truyền thống và
đổi mới, Nxb Giáo dục, 2008; PGS. Vương Tất Đạt, Phương pháp dạy học môn
GDCD, Nxb Hà Nội, năm 1994; Nguyễn Cảnh Toàn, Học và cách dạy học, Nxb
Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2004; Vũ Văn Tạo, Dạy - học giải quyết vấn đề, một
hướng đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, huấn luyện, Trường Quản lý
giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1996; Đinh Văn Đức - Dương Thị Thuý Nga
(Đồng chủ biên), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Đại
học sư phạm Hà nội 2009 Các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh
khác nhau của vấn đề PPDH. Cụ thể, trong cuốn “Lý luận dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường THPT” của Phùng Văn Bộ, tác giả viết: “Trong hệ thống này thì
phương pháp thuyết trình gần như giữ vị trí then chốt. Bởi vì một bài giảng lý luận
triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội, đạo đức, pháp luật, đều phải sử dụng lời
giảng, thuyết minh, diễn giảng của giáo viên, cái đó là chủ đạo” [9; 36]. Còn đối với
tác giả Vương Tấn Đạt trong cuốn “Phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân”
viết: “Trong giảng dạy bộ môn GDCD nếu giáo viên sử dụng tốt phương pháp
thuyết trình để truyền thụ các khái niệm, phạm trù quy luật mang tính trừu và khái
quát cao sẽ giúp cho học sinh nắm vững chúng. Do đó tránh được sự đơn điệu, gây
hứng thú học tập, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của họ” [17;108].
9
Xung quanh vấn đề vận dụng PPNVĐ trong dạy học môn GDCD cũng có
rất nhiều công trình nghiên cứu như: Vũ Văn Tạp và Trần Văn Hà, Dạy học giải
quyết vấn đề: Một hướng đổi mới trong công tác giáo dục và đào tạo, đã nghiên
cứu, lý giải việc dạy học giải quyết vấn đề là một hướng trong đổi mới mục tiêu,
phương pháp đào tạo cũng như đề xuất phương pháp xử lý tình huống, hành
động và việc vận dụng phương pháp đó vào công tác giáo dục, đào tạo. Trong
cuốn: phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ
thông, do Đinh Văn Đức và Dương Thị Thúy Nga chủ biên đã đề cập đến
nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn trong dạy học môn GDCD và việc vận dụng
PPDH nêu vấn đề trong giảng dạy môn GDCD. Trong cuốn giáo trình: Phương

môn GDCD lớp 10 theo phương thức kết hợp PPTT với PPNVĐ tại các trường
THPT, trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Thực nghiệm sư phạm kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn
thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất quy trình và giải pháp kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học
phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPT trên địa
bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần “Công
dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10.
- Đề tài tập trung khảo sát, thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT
trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về giáo
11
dục và đổi mới giáo dục; nội dung, chương trình môn học GDCD; lý luận dạy
học và phương pháp giảng dạy môn GDCD.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp phân tích và
tổng hợp; phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương
pháp thống kê và điều tra xã hội học; phương pháp thực nghiệm sư phạm, v.v…
6. Giả thuyết khoa học
Việc kết hợp các phương pháp nói chung và kết hợp PPTT với PPNVĐ
nói riêng trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở các trường THPT hiện nay có
những hạn chế nhất định. Nếu kết hợp hai phương pháp này một cách khoa học,
thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn học này trong điều kiện
hiện nay.

1.1. Cơ sở lý luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và
phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn
Giáo dục công dân lớp 10
1.1.1. Phương pháp thuyết trình và phương pháp nêu vấn đề
1.1.1.1. Phương pháp thuyết trình
* Khái niệm phương pháp thuyết trình:
Thuyết trình là một trong những PPDH lâu đời nhất là một trong những
phương pháp được sử dụng khá phổ biến hiện nay. Phương pháp này được sử dụng
hầu như trong tất cả các bộ môn khoa học ở trường THPT, nhất là các bộ môn khoa
học xã hội. Có lẽ, dù các phương tiện dạy học ngày càng hiện đại đến đâu, dù
người học có thể thu nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau với sự giúp đỡ của
các phương tiện truyền thông, thì cũng không thể nào thay thế hoàn toàn PPTT.
Ngược lại, nó càng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với phương pháp này.
Trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giả
Phan Trọng Ngọ đã cho rằng: “Phương pháp thuyết trình là phương pháp giáo
viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống
thông tin về nội dung học tập. Người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ
người dạy và xử lý chúng tùy theo tính chủ thể của người học và yêu cầu của
người dạy học” [29; 187].
Đối với tác giả Phạm Viết Vượng lại cho rằng: “Phương pháp thuyết trình
là phương pháp giáo viên dùng lời nói để mô tả, phân tích, giải thích nội dung
14
bài học một cách chi tiết và đầy đủ; qua đó thu hút sự chú ý của học sinh vào bài
giảng, giúp cho học sinh nghe, hiểu và ghi chép được đủ nội dung của bài học”.
Trong cuốn: “Phương pháp dạy học Chủ nghĩa xã hội khoa học” do PGS.
TS Nguyễn Văn Cư chủ biên có viết “Thuyết trình là phương pháp giáo viên
dùng lời nói trình bày, giải thích nội dung bài học một cách có ý thức” [12; 58].
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
PPTT nhưng đều có chung cách hiểu: PPTT là PPDH trong đó GV sử dụng ngôn
ngữ và hành động để truyền đạt, thuyết minh, trình bày và làm sáng tỏ một nội

chắc nội dung tri thức, tổ chức chúng theo một lôgic chặt chẽ, tìm ra hình thức,
cách thức trình bày để truyền đạt cho HS.
Kết thúc: GV khái quát, nhấn mạnh nội dung cơ bản mà HS cần hiểu và
nắm vững.
* Những kỹ năng thuyết trình mà giáo viên cần có.
Ngôn ngữ của người thuyết trình cần đơn giản, dễ hiểu, không được sử
dụng những từ ngữ mập mờ, không rõ nghĩa.
Kỹ thuật nói: phát âm phải rõ ràng, chính xác, không nói ngọng, nói lắp.
Tốc độ và cường độ của lời giảng phải phù hợp với trình độ nhận thức của đối
tượng. Biết sử dụng ngữ điệu linh hoạt để tăng hiệu quả truyền đạt tri thức. Cách
lôi cuốn người nghe, ngôn ngữ có sức thuyết phục cao, được thực hiện bằng sự
giải thích mô tả, so sánh chứng minh bằng các ví dụ, các luận cứ khoa học, phát
huy được tính chủ động của người học.
* Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình:
+ Ưu đểm của PPDH thuyết trình trong dạy học ở bậc THPT: Thuyết trình
là một trong những PPDH cơ bản, phổ biến và trong tương lai nó vẫn tồn tại và
tiếp tục phát huy vai trò của mình trong quá trình dạy học. Thế mạnh của PPTT
được thể hiện ở một số nội dung sau:
Đây là phương pháp dễ thực hiện, không đòi hỏi nhiều các phương tiện
dạy học, thiết bị hiện đại nào đối với GV mà vẫn cung cấp được lượng kiến thức
16
lớn tới HS. Từ đó, HS nắm một cách cơ bản nội dung mà GV truyền đạt trên
lớp. Với cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với lôgic nhận thức và
trình độ của HS. Sử dụng phương pháp này cho phép GV truyền đạt những nội
dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS tự
mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc. Trong một khoảng thời
gian ngắn (1tiết học) GV có thể chuyển tải đến HS một khối lượng thông tin cần
thiết, cô đọng theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ, phản ánh nội dung môn học mà
GV đã chắt lọc được từ kho tàng tri thức của nhân loại. Đây là điểm mạnh của
PPTT mà những phương pháp khác không dễ gì có được. Do đó, nếu sử dụng

học nhưng cơ sở vật chất còn thiếu, GV dễ dàng bao quát toàn bộ lớp học.
Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, không có PPDH nào là tối ưu và
duy nhất cả, PPTT cũng không thể tránh mắc phải những hạn chế nhất định. Bởi
vậy, GV cần phải nhận thấy rõ những hạn chế của phương pháp này để dần khắc
phục trong quá trình giảng dạy của mình.
+ Hạn chế của phương pháp thuyết trình trong dạy học ở bậc THPT.
Khi dùng phương pháp này quá nhiều, GV thu được ít thông tin phản hồi
từ phía người học; ít chú ý đến việc kiểm tra đánh giá kết quả lĩnh hội tri thức
của từng HS. Nếu GV sử dụng PPTT một cách thường xuyên sẽ làm cho HS tiếp
thu kiến thức một cách thụ động. Thuyết trình là phương pháp thông tin một
chiều, HS chỉ thực hiện nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép, chủ yếu sử dụng thính
giác cùng với tư duy tái hiện. Do đó, làm cho HS nhanh mệt mỏi, nhàm chán. Vì
vậy, sử dụng phương pháp này sẽ hạn chế khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của
HS, dẫn đến HS lười suy nghĩ, ỷ lại, không đưa ra các quan điểm về nội dung
bài học của bản thân. Khi sử dụng phương pháp này, GV sẽ thu được ít thông tin
phản hồi từ phía HS, khó có thể nắm bắt được HS hiểu bài hay không. Sử dụng
PPTT thường xuyên sẽ làm cho HS thiếu tính tích cực trong việc phát triển ngôn
ngữ nói. Vì độc thoại thầy giảng trò nghe nên HS dễ bị rơi vào trạng thái thụ
18
động. Phải cố gắng tập trung lắng nghe để hiểu, ghi chép bài nên thần kinh dễ bị
ức chế, dễ gây mệt mỏi.
PPPTT ít phù hợp với mục đích đào tạo kỹ năng sáng tạo của người học.
Khi sử dụng PPTT người học không có cơ hội thể hiện năng lực và kỹ năng
thuyết trình của mình. Bởi vậy, quá trình rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, gặp nhiều khó
khăn, hạn chế. Chính vì những nhược điểm trên, hiện nay có nhiều quan điểm phủ
nhận PPDH thuyết trình, thậm chí còn muốn loại trừ nó ra khỏi hệ thống PPDH
trong nhà trường. Đây là quan điểm tiêu cực, bởi vì dạy học vẫn rất cần sử dụng
PPTT. Với những tri thức mang tính lý luận, khái quát cao đòi hỏi có sự phân
tích, so sánh, sử dụng PPTT sẽ đem lại hiệu quả cao. Sử dụng PPTT trong dạy
học là cần thiết. Tuy nhiên, người GV cần phát huy những mặt tích cực và khắc

giúp đỡ cho học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách
giải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức
tiếp thu được” [47; 103].
“Dạy - học nêu vấn đề là một kiểu dạy học trong đó giáo viên đưa sinh
viên vào các tình huống có vấn đề giúp học tự lực và sáng tạo giải quyết các vấn
đề đặt ra, qua đó mà nắm được tri thức mới; đồng thời phát huy được tính tích
cực sáng tạo. Như vậy, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên không cung cấp cho
sinh viên những tri thức có sẵn như trong dạy học thuyết trình mà nêu cho sinh
viên một vấn đề cần phải giải quyết và tạo ra những điều kiện giúp cho sinh viên
tự lực giải quyết trên cơ sở những mối liện hệ giữa cái đã cho và cái cần biết,
giữa điều đã biết và điều chưa biết” [30; 189].
Dạy học nêu vấn đề được các nhà giáo dục nước ta quan tâm nghiên cứu
vào những năm 60,70 của thế kỷ trước. Theo PGS, TS Nguyễn Ngọc Bảo, “Dạy
học nêu vấn đề là hình thức dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri
thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương
pháp dạy và học có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học, phát triển tính tích
cực, tính tự giác và năng lực sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoa
học cho họ” [6; 41].
20
Có nhiều quan niệm khác nhau song đều thống nhất ở quan điểm cho
rằng: Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo nảy sinh khi con người
gặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn trong bản thân, mâu thuẫn
giữa điều đã biết và điều chưa biết, đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn đó bằng
tìm tòi sáng tạo chứ không phải bằng tái hiện hay bắt chước. Tình huống có vấn
đề nảy sinh khi người học suy nghĩ về điều gì đó đã biết nhưng không đủ tri thức
để giải thích. Khi đó là lúc xảy ra mâu thuẫn giữa điều đã biết với điều chưa biết
và người học ý thức được vấn đề đó.
Như vậy, PPDH nêu vấn đề là phương pháp trong đó GV đặt trước HS
một hay hệ thống vấn đề nhận thức, dẫn HS vào tình huống có vấn đề, sau đó
GV phối hợp cùng HS giải quyết vấn đề đã nêu và đi đến những kết luận cần

Tạo một môi trường giúp HS làm việc với các loại vấn đề có liên quan và sử dụng
trong tương lai. Các kiến thức và kỹ năng giúp HS giải quyết các vấn đề đó dưới sự
hướng dẫn của GV; HS được trực tiếp làm việc với các tri thức khoa học, tự mình
nghiên cứu, tách các nội dung học tập thông qua các tình huống. Khi GV sử dụng
PPNVĐ khuyến khích HS làm việc cùng nhau trong giải quyết vấn đề và phát triển
sản phẩm của họ. HS cộng tác với các thành viên trong nhóm, trao đổi kiến thức, học
tập lẫn nhau, điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở đó để hình thành và phát triển
các kỹ năng của bản thân họ.
Ba là: sử dụng PPNVĐ góp phần xây dựng và hình thành ở HS những tác
phong nghiên cứu khoa học. Mặt khác, còn giúp tăng cường khả năng độc lập suy
nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của
người khác vào việc giải quyết các vấn đề học tập và trong nhiều lĩnh vực. Phát triển
cho HS kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau chính là mục tiêu của dạy
học hiện đại. HS tin tưởng vào khả năng của bản thân mình trong việc giải quyết các
tình huống học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, còn tăng cường
sự hiểu biết và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm qua việc cùng nhau nghiên
22
cứu và giải quyết tình huống. Khi sử dụng phương pháp này giúp cho HS thu được
những kiến thức tốt nhất, cập nhật nhất. Có thể, bao phủ toàn bộ các trường hợp và
bối cảnh thường gặp trong cuộc sống, giúp HS tự giác, chủ động cũng như có động
cơ học tập và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập.
Bốn là: sử dụng PPNVĐ trong dạy học làm cho GV như là một huấn luyện
viên. Thông qua quá trình giải quyết vấn đề, GV mô tả, huấn luyện, cung cấp những
chỉ dẫn cần thiết, khuyến khích HS độc lập đặt ra mục tiêu và ra quyết định.
Năm là: sử dụng PPDH nêu vấn đề còn giúp GV kiểm tra, đánh giá năng lực
nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo của người học thông qua
việc trình bày, lý giải bài toán nhận thức của HS. Qua đó, GV có thể phân loại được
HS và có phương pháp giáo dục thích hợp đối với từng đối tượng. Trong một xã hội
đang phát triển nhanh chóng theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì việc phát
hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực

Bốn là: khi sử dụng PPNVĐ đôi khi HS dễ bị lạc hướng trong quá trình giải
quyết tình huống, dễ nản chí khi gặp tình huống khó, không nhiệt tình khi gặp các
tình huống ít hấp dẫn. Khi GV giảng giải một vấn đề sâu rộng trong thời gian dài sẽ
dẫn đến sự đơn điệu và học sinh dễ rơi vào trạng thái thụ động, mệt mỏi. GV phải
biết đặt ra tình huống, có phương pháp kích thích say mê, hứng thú của người học
nếu không hiệu quả của bài học sẽ không cao.
1.1.2. Sự cần thiết và phương thức kết hợp phương pháp thuyết trình với
phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn
Giáo dục công dân lớp 10
1.1.2.1. Sự cần thiết kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp
nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn giáo dục công
dân lớp 10
* Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường:
Với sự phát triển của cách mạng KH - CN, với những bước nhảy vọt đưa
thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghệ sang kỷ nguyên thông tin và tri thức thì
24
giáo dục và đào tạo đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đổi mới giáo dục đang
diễn ra trên quy mô toàn cầu. Từ những nước đang phát triển, đến những nước
đã phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục. Vì vậy,
trong giai đoạn hiện nay việc đổi mới giáo dục trước hết là đổi mới PPDH. Đây
là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo. Vấn đề
đổi mới PPDH được nhiều người quan tâm và có nhiều hội thảo xoay quanh vấn
đề này. Một trong những nhiệm vụ được đặt ra trong văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI về phát triển giáo dục và đào tạo, đó là “Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, đào tạo trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp phát
triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện”. Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo nói chung, chất lượng dạy học nói riêng là vấn đề mang tính cấp thiết. Là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status