1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vòm họng (UTVH) hay ung thư biểu mô mũi họng
(Nasopharyngeal carcinoma) là loại ung thư đứng đầu trong các ung thư vùng
đầu mặt cổ. UTVH có đặc điểm dịch tễ học, đặc điểm mô học và cả chiến
lược điều trị đều khác biệt so với các nhóm ung thư đầu cổ khác.
UTVH là bệnh hiếm gặp trên thế giới nhưng xuất hiện nhiều ở Trung
Quốc, Châu Phi và một số nước ở Đông nam Á, nhưng rất hiếm gặp ở châu
Âu, châu Mỹ. Bệnh có tỷ lệ mắc cao ở vùng Nam Trung Quốc và Hồng
Kông: 30-100/100.000 dân. Nhóm tuổi có nguy cơ mắc cao từ 40-50, nam/
nữ là 2/1 đến 3/1.
Ở Việt Nam, UTVH có tỷ lệ mắc cao, là một trong mười loại ung thư
phổ biến nhất. Theo ghi nhận ung thư Hà Nội, giai đoạn 2001-2004, thì
UTVH là bệnh đứng thứ tư trong các loại ung thư nói chung ở nam giới, hàng
thứ 7 ở nữ giới. Tỷ lệ mắc ở nam là 7.8 và ở nữ là 3.3/ 100.000 dân . Mô bệnh
học chủ yếu là týp ung thư biểu mô không biệt hoá .
Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước xạ trị đơn thần vẫn là
phương pháp điều trị chính cho UTVH. Các chuyên gia trong ngành ung thư
đều cho rằng loại UTVH rất khó được kiểm soát nếu chỉ dùng xạ trị, vì tỷ lệ
thất bại tại chỗ và di căn xa sau điều trị tương đối cao. Tỷ lệ sống thêm 5 năm
của bệnh nhân UTVH giai đoạn I, II là trên 70%, tuy nhiên khi bệnh ở giai
đoạn tiến triển tại chỗ hoặc lan tràn (giai đoạn III, IV) thì dù kiểm soát khối u
và hạch khá tốt sau điều trị xạ trị đơn thuần nhưng tỷ lệ tái phát tại chỗ và di
căn xa sau điều trị tương đối cao, có thể lên tới 21,7% và 46,4%, do vậy tỷ lệ
sống thêm 5 năm ở giai đoạn này chỉ còn khoảng 10- 40%.
2
Do UTVH khá nhạy cảm với xạ trị và hóa chất nên đã có nhiều nghiên
cứu phối hợp hóa xạ trị đã được thực hiện. Năm 1998 thử nghiệm lâm sàng
0099 tại bắc Mỹ đã đưa ra kết quả của điều trị pha III hóa xạ trị đồng thời
kèm theo hóa chất bổ trợ cho UTVH giai đoạn III, IV và đã trở thành phác đồ
điều trị chuẩn (Guideline- NPC), sau đó một số tác giả ở Hồng Kông và
4
- Thành bên có lỗ vòi Eustachian thông với tai giữa, xung quanh có
nhiều mô bạch huyết gọi là hạch nhân vòi, phía sau là hố Rosenmuller (là nơi
hay xuất hiện các khối u vòm họng).
- Thành dưới hở, tạo bởi mặt trên của khẩu cái mềm, trải rộng từ bờ sau
xương vòm miệng đến bờ tự do của màn hầu mềm.
1.2. Hệ thống phân loại hạch cổ Robin
Vùng đầu cổ có một mạng lưới bạch huyết rất phong phú, và UTVH
cũng như các ung thư vùng đầu cổ khác có thể di căn hạch ngay cả khi bệnh ở
giai đoạn rất sớm. Vì vậy hiểu biết giải phẫu bình thường của các hạch bạch
huyết cổ là rất quan trọng trong điều trị ung thư đầu cổ. Năm 1991 hệ thống
phân loại hạch cổ Robbin được đề xuất bởi nhóm Memorial Sloan Kettering
Cancer Group và được thông qua bởi ủy ban phẫu thuật đầu cổ tai mũi họng
Mỹ. Hệ thống này phân chia hệ thống hạch cổ thành 6 nhóm dựa trên ranh
giới những cấu trúc có thể nhìn thấy khi phẫu thuật đầu cổ như: xương, cơ,
mạch máu, dây thần kinh Hệ thống Robbin được chấp nhận rộng rãi bởi các
nhà xạ trị khi điều trị ung thư đầu cổ. Một số cấu trúc như mạch máu dây thần
kinh không nhìn thấy rõ trên phim chụp CT và MRI vùng đầu cổ. Do đó xác
định ranh giới cấu trúc giải phẫu của các nhóm hạch cổ trên phim CT và MRI
là cần thiết cho các nhà xạ trị khi lập kế hoạch điều trị tia xạ. Năm 2003
hướng dẫn phân nhóm hạch cổ trên phim CT được thông qua với sự đồng
thuận cao của các học giả đến từ các tổ chức nghiên cứu ung thư lớn như
EORTC, RTOG, NCIC
5
Bảng 1.1: Hệ thống phân loại hạch cổ Robbin
Nhóm hạch Vị trí hạch
Ia
Ib
II
III
xem là yếu tố nguy cơ cao đối với ung thư vòm họng, nhưng được nói đến
nhiều nhất là tập quán ăn uống. Qua các nghiên cứu của Ho cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh cao ở những người đánh cá ở Hồng Kông so với những người làm
công việc khác. Tập quán ăn cá muối, chế độ ăn nghèo Vitamin, hoa quả đã được
chứng minh làm tăng tỉ lệ mắc bệnh ung thư vòm.Trong cá muối có chứa rất cao
hàm lượng Nitrosamin là chất gây ung thư trên thực nghiệm .
Virus Epstein - Barr
Virus Epstein - Barr là virus Herpes ở người, nó là một tác nhân gây ra
bệnh Lymphoma Burkitt ở người và ung thư vòm mũi họng, người ta thấy
Epstein - Barr có mã di truyền trong ADN được tìm thấy tại tế bào biểu mô
vòm họng và các tế bào LyB.
Sự phối hợp giữa virus Epstein - Barr và Ung thư vòm họng đã rất rõ
ràng và được chứng minh bằng phản ứng miễn dịch, IgA/VCA và IgA/ EA
tăng cao ở người đã nhiễm virus Epstein - Barr từ lâu hơn nữa sự tồn tại của
IgA, VCA và EA hiếm thấy ở những người không bị ung thư vòm họng .
7
Yếu tố gen di truyền
Gần đây một số tác giả có báo cáo là những người cùng huyết thống có
khả năng cùng mắc ung thư vòm họng nhiều hơn so với các loại ung thư khác.
Tỉ lệ này hay gặp ở thế hệ dọc (ông bà, cha mẹ, con cái) hơn là thế hệ ngang
(anh, chị, em). Tại Hồng Kông số người bị ung thư vòm họng trong một gia
đình chiếm 7,2%; ở Quảng Châu là 5,9% .
Gần đây người ta cũng đã đề cập tới sự liên quan giữa ung thư vòm
họng và HLA cũng như nói đến nhiễm sắc thể 6,3 .
1.5. Chẩn đoán ung thư vòm họng
Chẩn đoán sớm đem lại kết quả thuận lợi trong điều trị bệnh nhân UTVH.
Mặc dù gần đây có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán ung thư vòm như nội soi, các
kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và chẩn đoán huyết thanh hiện đại nhưng chỉ
khoảng 10% bệnh nhân UTVH được phát hiện ở giai đoạn sớm .
1.5.1.Triệu chứng lâm sàng
VI) và đau nhức vùng trán, ổ mắt (tổn thương nhánh mắt của dây V).
- Hội chứng đỉnh hố mắt: mù mắt do tổn thương ống thị giác.
- Hội chứng đá bướm Jacod: liệt hoàn toàn nhãn cầu, mù mắt, liệt cơ
nhai, mất cảm giác nửa bên mặt và giác mạc kèm theo điếc tai giữa (do tổn
thương các dây II, III, IV, V, VI)
- Hội chứng lỗ rách sau của Vernet: Liệt họng, liệt màn hầu, liệt thanh
quản, liệt cơ ức đòn chũm, liệt cơ thang, mất cảm giác họng (do liệt các dây
IX, X, XI).
- Hội chứng lồi cầu lỗ rách sau của Colet và Sicart: Gồm hội chứng Vernet
thêm liệt lưỡi (do liệt các dây IX, X, XI, XII).
- Hội chứng Garcin liệt 12 dây thần kinh sọ cùng bên về khối u.
9
Sự phát triển của khối u
Khối u vòm họng không được phát hiện sớm để điều trị kịp thời sẽ phát
triển tự nhiên theo các hướng liên quan với vị trí giải phẫu của vòm họng.
+ Phát triển ra phía trước: Thông thường trong thể này khối u ở bờ trên
cửa mũi sau. Thường tắc mũi xuất hiện trước, nói giọng mũi, soi cửa mũi
trước thấy u sùi dễ chảy máu, u đẩy ra phía trước có thể gây lồi mắt.
+ Phát triển ra phía sau: Khối u có thể xâm lấn vào đốt sống cổ C1-2
làm cứng gáy, không quay được đầu, không cúi được đầu, bệnh cảnh giống
lao đốt sống cổ.
+ Phát triển xuống phía dưới: Khối u lan về phía họng miệng, có thể
nhìn thấy khối u khi vén nhẹ màn hầu lên. chúng ta hay gặp hội chứng Trotter
gồm có: đau dây thần kinh hàm dưới, khít hàm, điếc tai giữa, và liệt màn hầu
do sự thâm nhiễm của tế bào khối u trực tiếp vào khoang hàm hầu.
+ Phát triển ra phía ngoài: Khối u có thể chui qua lỗ bướm khẩu cái và
xâm nhập hố chân bướm hàm gây ra tổn thương dây thần kinh hàm trên và
khít họng do tổn thương cơ nhai. Khối u có thể phát triển dọc theo vòi nhĩ gây
ra viêm tai giữa hoặc xâm nhập hòm nhĩ và lan ra ống tai ngoài.
+ Phát triển lên trên: Khối u có thể phát triển trực tiếp theo đường
nguyên phát và hạch bạch huyết vùng có thể di căn. Ngoài ra chẩn đoán hình
ảnh có vai trò quan trọng trong chẩn đoán đối với thể dưới niêm mà nội soi
không thể phát hiện được.
+ Chụp XQ qui ước
- Thường sử dụng 2 tư thế chụp là tư thế Blondeau và Hirtz.
Trên phim Blondeau chủ yếu đánh giá hình ảnh:
+ Tổn thương mờ khối xoang mặt một bên hoặc cả hai bên, bờ xương
thành xoang liên tục hay không.
11
+ Tổn thương mờ hốc mũi.
Trên phim Hirtz có thể thấy hình ảnh:
+ Tăng vôi bất thường hoặc mất các vân xương bình thường của xương
chân bướm hàm.
+ Tổn thương rộng các lỗ xương nền sọ và mất tính liên tục của bờ xương.
+ Tổn thương mờ các xoang sàng.
Các dấu hiệu trên chỉ có ý nghĩa định hướng tổn thương.
- Chụp XQ phổi phát hiện di căn phổi.
+ Siêu âm
Siêu âm là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong y học dựa trên
sóng siêu âm dùng để quan sát cơ và những cơ quan bên trong cơ thể bao gồm
kích thước, cấu trúc và có thể cả những bệnh lý và tổn thương của chúng.
Siêu âm ổ bụng nhằm đánh giá tổn thương đã di căn hay chưa là một xét
nghiệm thường quy nên làm ngay trước, trong và sau khi điều trị. Quá trình theo
dõi định kỳ cũng cần đến xét nghiệm này để đánh giá tiến triển của bệnh.
Siêu âm vùng cổ
Phát hiện các tổn thương hạch vùng cổ: hình ảnh tổn thương tròn hay
bầu dục, bờ gọn hay dính với nhau tạo thành khối lớn, cấu trúc âm thay đổi có
thể tăng âm, đồng âm, hay giảm âm.
Hướng dẫn chọc dò sinh thiết hạch.
Siêu âm Doppler được thực hiện để khảo sát mạch cảnh, mạch sống cổ
13
CT- Scanner), chỉ khác ở chỗ, với CT thì chùm pho-ton được tạo ra bên
ngoài, xuyên qua cơ thể và được ghi nhận ở detector phía đối diện nguồn tia
X. Cùng với SPECT, chùm bức xạ photon được phát ra từ bên trong cơ thể do
phát ra đồng vị phóng xạ được đưa (uống, tiêm ) vào nơi cần chụp ảnh và
chùm bức xạ phát ra được ghi nhận đồng thời bởi hệ detector quay quanh
bệnh nhân. Các dược chất phóng xạ được sử dụng với một lượng nhỏ sẽ tập
trung về các cơ quan cần ghi hình tuân theo các đặc điểm sinh lý và bệnh lý
của ảnh thu được cho ta thông tin về chức năng (Functional image) của cơ
quan muốn thăm khám.
Phương pháp này giúp phát hiện các thay đổi về bệnh học ở mức độ
phân tử trước khi hoàn thành nên sự thay đổi cấu trúc giải phẫu để có thể nhìn
thấy được trên hình ảnh CT, MRI Máy SPECT cho phép hiển thị hình ảnh
không gian 3 chiều giúp đánh giá chức năng các bộ phận trong cơ thể, chuyển
hóa tế bào. Máy SPECT có thể chụp toàn thân (Whole body), tĩnh (Static),
động (Dynamic), 3 Pha, ảnh cắt lớp tomo… Đối với UTVH chụp SPECT giúp
đánh giá các tổn thương, đặc biệt là các tổn thương tái phát và di căn xương .
+ PET/CT
Máy PET/CT (Positron Emission Tomography – Computed
Tomography) là một hệ thống kết hợp giữa máy PET (Positron Emission
Tomography: Máy chụp cắt lớp bằng bức xạ Positron) và máy chụp cắt lớp vi
tính (CT–Scanner: Computed Tomography). Đó không chỉ là sự kết hợp về
nguyên tắc vật lý, nguyên tắc hoạt động, PET/CT cũng là sự kết hợp giữa
hình ảnh chức năng, chuyển hoá ở mức độ tế bào, mức độ phân tử, giúp chẩn
đoán sớm, đặc hiệu của PET với hình ảnh cấu trúc giải phẫu rõ nét của các cơ
quan, định vị chính xác của CT. Do vậy PET/CT có khả năng phát hiện tổn
thương và các biến đổi bất thường trong cơ thể ở những giai đoạn rất sớm –
mức độ phân tử - đặc biệt là sự hình thành, phát triển và di căn của các khối u.
Các kết quả ghi bằng máy PET/CT góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán
14
Ung thư biểu mô tế bào vảy: thông thường sừng hoá có đặc điểm là sự sừng
hoá và các cầu nối gian bào và được xếp loại thành các loại biệt hoá cao, vừa hoặc
kém biệt hoá. Phản ứng xơ với hình thái phát triển xâm nhập của loại mô học này
của ung thư biểu mô vòm mũi họng là điển hình. Ở các nước có tỷ lệ ung thư vòm
mũi họng thấp như Mỹ, ung thư biểu mô vòm mũi họng sừng hoá chiếm khoảng
25% tất cả các ung thư biểu mô vòm mũi họng và hiếm khi xảy ra ở các bệnh nhân
dưới 40 tuổi. Tuy nhiên ở Việt nam loại này chiếm tỷ lệ rất thấp.
Ung thư biểu mô không sừng hoá: có ít hoặc không sừng hoá và có
hình thái phát triển giống ung thư biểu mô chuyển tiếp của bàng quang, bao
gồm các tế bào lát tầng và đường giới hạn rõ với mô đệm xung quanh. Trong
những trường hợp điển hình u không có phản ứng xơ với sự phát triển xâm
nhập của u. Các u này có thể tạo thành các nang có hoại tử kết hợp và có thể
di căn tới vùng cổ. Loại này của ung thư biểu mô ít gặp nhất và chiếm khoảng
12% tất cả các ung thư biểu mô vòm họng ở Mỹ. Tại Việt nam loại này cũng
chiếm tỷ lệ thấp .
Ung thư biểu mô không biệt hóa: chiếm khoảng 63% các loại ung thư
biểu mô vòm mũi họng ở Mỹ, trong khi ở Việt nam hầu hết các ung thư biểu
mô vòm mũi họng thuộc loại này. Loại ung thư biểu mô không biệt hoá cũng
là loại chiếm tỷ lệ cao nhất ở các nhóm bệnh nhi. Các tế bào u có đặc điểm
bởi các nhân tròn, hạt nhân ưa toan nổi rõ, chất nhiễm sắc của nhân phân tán
và bào tương nghèo nàn, ưa toan đến ưa cả hai màu. Không có sừng hoá, nhân
chia tăng, bao gồm cả các thể không điển hình. Thành phần lympho bào
không phải u chiếm ưu thế kết hợp với sự xâm nhập của các tế bào biểu mô ác
tính. Loại u này có thể có hình thái phát triển hợp bào với các tế bào dính
nhau và tạo thành ổ hoặc có thể có hình thái xâm nhập tế bào lan toả của các
tế bào không dính nhau. Các loại Rigaud và Schmincke của ung thư biểu mô
16
vòm mũi họng tương ứng với các u có các hình thái phát triển xâm nhập của
các tế bào hợp bào hay riêng lẻ, theo thứ tự. Các cách đặt tên này không mang
ý nghĩa sinh học của bệnh. Hình thái phát triển của loại u này nói chung
T: (khối u nguyên phát).
Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ.
Tx: Không đánh giá được u nguyên phát.
T1: U giới hạn trong vòm họng.
T2: U xâm lấn ra phần mềm ngoài vòm họng.
T2a: U xâm lấn khoang miệng/ hốc mũi nhưng không lan vào
khoảng cận hầu.
T2b: U xâm lấn khoảng cận hầu.
T3: U xâm lấn xương và/ hoặc các xoang cạnh mũi.
T4: U xâm lấn vào trong sọ não hoặc các dây thần kinh, hố thái
dương dưới, hạ họng hoặc hốc mắt.
N (Hạch vùng):
Nx: Không xác định được di căn hạch vùng.
N0: Không di căn tại hạch vùng.
N1: Hạch cùng bên kích thước ≤ 6cm trên hố thượng đòn.
N2: Hạch hai bên ≤ 6cm trên hố thượng đòn.
N3a: Hạch > 6 cm.
N3b: Hạch thượng đòn.
M (Di căn xa):
Mx: Không thể xác định được di căn.
M0: Không có di căn xa.
M1: Có di căn xa. (gan, xương, phổi, não).
18
Giai đoạn bệnh:
Giai đoạn 0: Tis No Mo
Giai đoạn I: T1 No Mo
Giai đoạn IIA: T2a No Mo
Giai đoạn II2B: T1,2a N1 Mo
T2b No,1 Mo
Giai đoạn III: T1 N2 Mo
Cắt dọc buồm mềm cho phép thao tác dễ dàng hơn. Nhưng tổn thương lại quá
nặng nề, hơn nữa, những hạt vàng phóng xạ chỉ thích hợp cho những thương
tổn niêm mạc bề mặt và tương đối nhỏ. Một khuôn chứa dây Iridium phóng
xạ được đặt sát vị trí tổn thương thích hợp cho cả niêm mạc lẫn phần mềm mà
vẫn không ảnh hưởng tới tổ chức xung quanh. Tuy nhiên, sự chuẩn khuôn yêu
cầu nhiều kỹ năng và có thể ảnh hưởng tới kỹ thuật viên phải chịu một mức
phóng xạ cao không chấp nhận được, chính vì vậy người ta phải tính đến hệ
thống nạp phóng xạ sau .
Xạ trị áp sát nạp sau qua mũi hoặc qua miệng, tiến hành dưới gây tê tại
chỗ cho phép đưa một liều thích hợp tới vòm họng, hốc mũi và phía trên sau
họng miệng. Nó là được xem là phương pháp thực tiễn nhất để điều trị tăng
cường tại chỗ cho UTVH.
20
Xạ trị từ xa
Ngày 3/2/1896 trường hợp thành công đầu tiên dùng tia X trong điều trị
giảm đau một bệnh nhân ung thư vòm 86 tuổi được Voight báo cáo tại hội
nghị các thầy thuốc Hamburg tại Đức .
Mãi đến tận những năm 1920 ung thư vòm họng mới được coi là loại
bệnh có thể điều trị được bằng phóng xạ. Một phần do trước thập kỷ đó các
ống tia X còn ít, hoạt động ở mức điện áp 200 KV hoặc cao hơn và khả năng
đâm xuyên của chùm tia X rất hạn chế.
Giai đoạn từ năm 1950-1970 chúng ta được chứng kiến việc sử dụng
rộng rãi các máy xạ trị từ xa dùng nguồn Cobalt 60 và sự xuất hiện các máy
tia X hàng triệu vôn (Megavoltage- MV). Ban đầu cũng chỉ có một số ít máy
Van de Graff hoạt động với điện áp cỡ 2MV được lắp đặt tại một số khoa xạ trị.
Khoảng năm 1970 những máy gia tốc thẳng đã bắt đầu được lắp đặt ở những
trung tâm xạ trị lớn trên thế giới. Tuy nhiên, những thiết bị đó cũng chưa hoàn
toàn thay thế các máy Cobalt ngay cả ở những nước công nghiệp phát triển.
Những kết quả điều trị một số bệnh nhân Ung thư vòm họng bằng
chùm tia X hoạt động ở mức điện áp 2MV được công bố năm 1963 tại bệnh
tối ưu liều lượng và cải thiện cho các mô lành liên quan. Kỹ thuật xạ trị 3
chiều theo hình dạng khối u (3 Dimensional Comformal Radiotherapy) cho
biết các thông tin rõ ràng về tổng liều điều trị, liều lượng mỗi buổi chiếu, liều
lượng tại các tổ chức nguy cấp như: thần kinh thị giác, thân não, tuỷ sống hay
các thuỳ thái dương… và sự khác nhau về liều lượng trên từng vùng thể tích
trong điều trị ung thư vòm góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng điều trị.
Tác giả Fang FM và cs (2007) đã so sánh kết quả điều trị ung thư vòm họng
bằng xạ trị kinh điển và xạ trị 3 chiều theo hình dạng khối u tại bệnh viện
22
Chang Gung Đài Loan. Các tác giả rút ra nhận xét xạ trị 3 chiều theo hình
dạng khối u làm tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau điều trị. Khi
nghiên cứu kết quả xạ trị 3 chiều theo hình dạng khối u trên 87 bệnh nhân ung
thư vòm họng từ tháng 3 năm 2001 đến tháng 4 năm 2004 tác giả Tang YQ và
cs (Quảng Châu Trung Quốc) (2006) thấy rằng tỷ lệ kiểm soát tại chỗ tại vùng
3 năm là 90,2%. Tỷ lệ biến chứng muộn độ III,IV trên 62 bệnh nhân sống
thêm không bệnh 12 tháng là 9,7%. Tỷ lệ sống thêm 3 năm toàn bộ và không
bệnh tương ứng là 88,2% và 80,3%. Các tác giả rút ra kết luận xạ trị 3 chiều
theo hình dạng khối u ung thư vòm họng làm tăng tỷ lệ kiểm soát tại chỗ, và
giảm tỷ lệ biến chứng muộn.
Kỹ thuật IMRT (Intensity Modullated Radiation Therapy)
Vào những năm 1990 kỹ thuật IMRT ra đời (kỹ thuật điều biến liều
lượng theo hình thái khối u) dựa trên 3 kỹ thuật:
+ Chế tạo các khối che chắn
+ Máy tính điều khiển tự động hệ Collimator nhiều lá MLC (Multileaf
Collimator)
+ Kỹ thuật điều biến liều lượng(Peacok system) bằng hệ Collimator
nhiều cửa (Multivane Intensity Modullating Collimator) (MIMiC).
Chương trình máy tính 3D lập kế hoạch điều trị được sử dụng cho hai
kỹ thuật đầu. Còn kỹ thuật lập kế hoạch nghịch đảo được sử dụng cho kỹ
thuật thứ 3. Kỹ thuật IMRT có khả năng tạo ra sự chênh lệch về liều lượng
việc điều trị thường áp dụng đối với các khối u ở nông trên mặt da. Muốn
điều trị các khối u sâu hơn phải kéo dài thời gian chiếu xạ. Điều này ảnh
hưởng xấu đối với bệnh nhân. Riêng đối với nguồn Co
60
là nguồn đồng vị
phóng xạ có thời gian bán huỷ tương đối ngắn do đó hoạt độ phóng xạ giảm
đáng kể theo thời gian. Để đảm bảo liều điều trị phải tăng thời gian chiếu xạ
làm giảm hiệu qủa điều trị.
24
Ngày nay một phương pháp hiện đại áp dụng cho xạ trị đó là sử dụng
máy gia tốc. Về thuật ngữ “máy gia tốc” là thiết bị tăng tốc chùm điện tử (các
electron) đến một giá trị năng lượng nào đó theo yêu cầu đặt ra. Trong thực tế
lâm sàng, người ta sử dụng các máy gia tốc điều trị với 2 loại bức xạ. Chùm
Electron (qua hệ thống lái tia và các bộ lọc thích hợp) chùm Photon do chùm
Electron đập vào bia phát ra bức xạ hãm (gọi là tia X). Thông thường các
chùm eletron có 6 mức năng lượng khác nhau (ví dụ 5,6,8,10,12,14MeV).
Chùm Photon có 2 mức năng lượng (ví dụ 6,15MV). Máy gia tốc có ưu điểm
là bảo đảm liều chiếu ổn định, hạn chế thời gian xạ trị và có thể điều trị các
loại u ở các vị trí khác nhau trong cơ thể con người từ các u nông trên mặt da
đến các u sâu trong cơ thể (các nhà xạ trị có thể lựa chọn loại bức xạ cũng
như năng lượng phù hợp với độ nông sâu của khối u). Cùng với việc đóng
góp của hệ thống mô phỏng, hệ thống lập kế hoạch điều trị theo không gian 3
chiều, độ chính xác của các trường chiếu xạ được tăng lên, liều lượng tại u
được phân bố 1 cách tối ưu qua đó kết quả điều trị được nâng cao .
1.6.2. Điều trị hoá chất
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành dược học, cùng
với các thử nghiệm lâm sàng làm thay đổi chiến lược trong điều trị ung thư
vòm họng, đó là điều trị kết hợp hoá chất và xạ trị. Kết hợp hoá xạ trị bao
gồm điều trị hoá chất bổ trợ trước, hoá chất bổ trợ sau và hoá xạ trị đồng thời.
Điều trị hoá chất bổ trợ trước (Neoajuvant Chemotherapy): Điều trị hoá