ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ NỐI TIẾP TRONG ĐIỀU TRỊ DIỆT TRỪ HELICOBACTER PYLORI Ở BỆNH NHÂN LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
===========

VŨ CÔNG PHONG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ NỐI TIẾP
TRONG ĐIỀU TRỊ DIỆT TRỪ HELICOBACTER PYLORI
Ở BỆNH NHÂN LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG

Chuyên ngành: Nội Khoa
Mã số:60720140


LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN CÔNG LONG

HÀ NỘI – 2016

MỤC LỤC

PHỤ LỤC


CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày tá tràng là một bệnh thường gặp và phổ biến, bệnh xảy ra ở mọi

Medicine.W.B. Saunders Company. 5 th edition. pp. 335 - 341. 2001. #7],[,
Mavi DM et al: Stomach in Townsend CN et al (eds): Sabiston Textbook of
Surgery. 19 th edition. pp. 173. Elsevier Saunders. 2012. #8],[, Phạm Quang
Cử: Helicobacter pylori. Vi khuẩn gây bệnh dạ dày-tá tràng. Nhà xuất bản Y
Học Hà Nội. 2008 #9],[, Fleming Sh L: Helicobacter pylori. Deadly Diseases
and Epidemics. Chelsea House Pubhishers. 2007 #10],[, Sutton Ph et al:
Helicobacter in the 21 st Century. Advances in Molecular and Cellular
Microbiology. www.cabi.org #11].
Điều trị diệt trừ Hp trong bệnh lý dạ dày tá tràng đã được tiến hành ở Việt Nam
từ hơn 20 năm nay. Song gần đây, tỷ lệ diệt trừ thành công có xu hướng giảm
dưới 80%. Một số nghiên cứu về kháng sinh đồ cho thấy tình trạng kháng các
kháng sinh chủ yếu gia tăng, đặc biệt kháng Clarithromycine có nơi lên đến 30 38,5%, kháng Metronidazole 59,8 - 91,8%. Amoxicilline, Tetracycline trước kia
không ghi nhận kháng thuốc, nay có nơi đã thấy tỷ lệ kháng Tetracycline 9,2 55,9%. Trước tình trạng kháng thuốc nêu trên, nhiều phác đồ khác nhau được đề
nghị để sử dụng thay thế cho phác đồ chuẩn, trong đó có phác đồ nối tiếp được
một số tác giả Ý báo cáo đạt được tỷ lệ diệt trừ Hp thành công đến 93,4% [, De
Francesco V`, Zullo A`, Margiotta M`, Marangi S`, Burattini O`, Berloco P et al
(2004)`, “Sequential treatment for Helicobacter pylori does not share thje risk
factors of triple therapy failure” Aliment Pharmacol Ther`, 19pp. 407-414 #12],
[, Francavilla R`, Lionetti E`, Castellaneta SP`, Magista AM< Boscarelli G`,
Piscitelli D`, et al (2005). “Improved efficacy of 10- day sequential treatment
for Helicobacter pylori eradication in children: a randomized trial”
Gastroenterology`; 129`, pp. 1414-1419 #13],[, Vaira D`, Zullo A`, Vakil N`,
Gatta L`, Ricci C`, Perna F et al (2007)`, “Sequential therapy versus atndard


triple-drug therapy for Helicobacter pylori eradication: a randomized trial” Am
Intern Med`; 146`, pp. 556-563 #14],[, Vincent Wai-Sunn Wong and Francis
Ka-Leung Chan (2007)`, “10 day rtriple drug therapy for eradication 10 day
sequential therapy was more effective than Helicobacter pylori infection: Evid
Basedd Med`; 12`, pp. 146-148 #15],[, Zullo A`, Vaira D.Vakil N`, Hassan C`,

HOÀNG LÊ PHÚC (2009) “VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG”,
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ NHI KHOA BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG1
3.1.2. Đặc điểm giải phẫu bệnh lý của ổ loét DD – HTT
Ổ loét DD - HTT là tổn thương làm mất niêm mạc, phá huỷ qua cơ niêm xuống
tới hạ niêm mạc hoặc sâu hơn.
- Ổ loét non (loét mới): niêm mạc gần chỗ loét bị thoái hóa, các tuyến ngắn và
ít, chỗ loét có tổ chức xơ và bạch cầu, tổ chức dưới niêm mạc có nhiều huyết
quản giãn và bạch cầu.
- Loét cũ (loét mạn tính): tổn thương thường méo mó, ở giữa ổ loét không có
niêm mạc, xung quanh niêm mạc thoái hóa mạnh. Tổ chức đệm có nhiều tế bào
viêm, các tổ chức liên kết tăng sinh quanh ổ loét, thành huyết quản dày, dây xơ
sinh sản nở to.


- Loét chai: thường là ổ loét to, bờ cao, rắn, cứng, niêm mạc xung quanh bị co
kéo, dúm dó, niêm mạc dày, tuyến ít hoặc không có, tổ chức xơ tạo thành bó
liên kết với nhau, có nhiều tế bào viêm đơn nhân thoái hóa.
- Loét sẹo: là tổn thương đã được hàn gắn, có thể hình tròn hoặc méo mó, nhiều
góc màu trắng nhạt, đã có niêm mạc che phủ, dưới niêm mạc có hoặc không có
tổ chức xơ, khó xác định các tuyến dạ dày. Loét sẹo có thể tiến triển thành loét
chai hoặc thành sẹo, điều này tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó điều trị đúng
nguyên nhân đóng vai trò quyết định.
3.1.3. Nguyên nhân của loét hành tá tràng
Ngày nay các nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều hơn về bệnh sinh của loét dạ dày
hành tá tràng. Cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày hành tá tràng là sự mất cân bằng
giữa các yếu tố bảo vệ và yếu tố tấn công tại niêm mạc dạ dày, như nhận định
kinh điển của Schwartz (1910) “Loét là hậu quả vượt trội quá mức của các tác
nhân ăn mòn so với khả năng bảo vệ của niêm mạc”. Sự mất cân bằng giữa các
yếu tố tấn công và bảo vệ trong dạ dày tạo ra những vết gián đoạn ở niêm mạc.
Giới hạn cuối cùng của sự mất cân bằng để lại ổ loét.

Pepsinogen được phân ra làm 2 nhóm: Pepsinogen I hay A (pepsinogen từ 1-5),
và pepsinogen II hay C (pepsinogen từ 6-7). Trong môi trường acid của dạ dày
khi pH ≤6, pepsinogen trở thành pepsin có hoạt tính tiêu protein.Tác dụng phân
huỷ protein của pepsin cùng với việc tiết acid ở dạ dày gây nên loét.Hoạt động
của pepsin tối đa ở pH vào khoảng 2, giảm hoạt động khi pH>4 và không hoạt
động khi pH trung tính hay kiềm. Ở những bệnh nhân loét hành tá tràng, hoạt
động tiêu nhầy của pepsin tăng lên gấp 6 lần ở pH=4 so với người bình thường.
Đó là do nồng độ pepsinogen I tăng cao lên tới 16-23% trong khi người bình
thường pepsinogen I tăng không quá 4%. Tuy nhiên do pepsin có phân tử lượng


lớn nên không khuếch tán xuống dưới lớp gel được, vì vậy tác động của chúng
chỉ hạn chế trên bề mặt màng nhầy. Do đó, sự tiêu huỷ của pepsin ở lớp sâu chỉ
có thể xảy ra khi lớp màng nhầy bị hư hại nặng và lớp lót biểu mô lợp niêm mạc
dưới màng nhầy bị huỷ từ trước đó do acid.
1.1.2. 0.Vai trò của thuốc chống viêm không steroid
Kể từ khi Hoffmam (Đức-1889) tổng hợp được acetyl salicilat, thì các thuốc
chống viêm không steroid được sử dụng rộng rãi và trở thành một dược chất
không thể thiếu được.Nhưng từ lâu người ta đã biết thuốc chống viêm không
steroid là một yếu tố quan trọng gây nên loét dạ dày tá tràng và biến chứng chảy
máu.Thuốc chống viêm không steroid là nguyên nhân gây ra loét ở dạ dày nhiều
hơn ở tá tràng và được xem là nguyên nhân chủ yếu của loét dạ dày trên những
bệnh nhân không nhiễm Hp.
Tìm hiểu về cơ chế gây loét dạ dày hành tá tràng của thuốc chống viêm không
steroid thấy có hai đặc điểm chính sau:
- Niêm mạc dạ dày ruột sản xuất ra Prostaglandin (đặc biệt là PG.E2), có tác
dụng làm tăng tạo chất nhày và có thể là cả kích thích phân bào để thay thế các
tế bào bị phá huỷ. Như vậy, vai trò của Prostaglandin E là để bảo vệ niêm mạc
đường tiêu hoá.Thuốc chống viêm không steroid với mức độ khác nhau ức chế
cyclo-oxygenase (COX) làm giảm tổng hợp Prostagladin, tạo điều kiện cho acid

những người trong gia đình có người bị loét (cha mẹ, con cái). Nhóm
máu O có tần suất loét hành tá tràng cao hơn, khoảng 67,56% theo Hoàng
Gia Lợi. Tác giả này không gặp những trường hợp nào có nhóm máu AB
trong loét DD-TT. Theo Sobhani biểu hiện của kháng nguyên Lewis còn
có liên quan đến sự kết dính của H.P trên niêm mạc dạ dày[, Hoàng Gia
Lợi`, Hoàng Xuân Chính (1997). Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến
bệnh loét dạ dày và tá tràng. Y học quân sự 5: 28-33 #22].


Thuốc lá: thuốc lá có liên quan đến loét tá tràng và làm giảm đáp ứng đối
với điều trị. Thuốc lá không làm tăng chế tiết acid, nhưng nicotin có thể
ức chế tiết bicarbonat ở tuỵ[, Nguyễn Xuân Huyên (1999). Bệnh loét dạ
dạ dày tá tràng. Nhà xuất bản y học`; 45-60. #18].
Bệnh kết hợp: loét tá tràng thường hay kết hợp với các bệnh lý khác
nhiều hơn so với người bình thường, đó là: suy thận mạn, xơ gan do rượu,
cường tuyến cận giáp trạng, bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính. Theo Nguyễn
Xuân Huyên, loét tá tràng kết hợp với xơ gan trong 10% trường hợp, và
theo Hoàng Gia Lợi là 33,3% [, Nguyễn Xuân Huyên (1999). Bệnh loét
dạ dạ dày tá tràng. Nhà xuất bản y học`; 45-60. #18],[, Hoàng Gia Lợi`,
Hoàng Xuân Chính (1997). Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh
loét dạ dày và tá tràng. Y học quân sự 5: 28-33 #22].
Vai trò của yếu tố nội tiết: nhiều rối loạn nội tiết có thể kèm tăng tiết acid
dịch vị và gây loét hành tá tràng. Hội chứng Zollinger-Ellison là do u
gastrinoma hay do tăng sản các tế bào non-beta ở các tiểu đảo Langerhans
của tuỵ, chế tiết gastrin. Hội chứng Zollinger-Ellison chiếm tỷ lệ từ 0,1%1% các nguyên nhân gây loét và thường xảy ra ở tuổi 30 đến 60 [, Trần
Thiện Trung (2008). Bệnh dạ dày–tá tràng và nhiễm Helicobacter Pylori.
Nhà xuất bản Y học`, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh:179-199 #20].
Yếu tố căng thẳng thần kinh-Stress: Stress là một vấn đề lớn của xã hội
hiện đại, liên quan tới bệnh loét dạ dày-hành tá tràng và chảy máu tiêu
hóa. Người ta thấy rằng từ những năm 1950 đến nay, ngày càng có sự gia

khoa cũng như ngoại khoa. Suốt một thời gian dài mọi nghiên cứu về loét dạ
dày hành tá tràng đã không thoát khỏi ảnh hưởng của thuyết “ không acid –
không loét”, mọi vấn đề đều xoay quanh nó cho đến năm 1983 phát hiện về
Helicobacter Pylori được công nhận, và người ta nhận thấy loét DD - HTT là
kết hợp của nhiều vấn đề mà acid và Helicobacter Pylori là những căn nguyên
quan trọng[22],[34].
1.1.4.1. Yếu tố tấn công


Sự tấn công của HCl – pepsin
Do tính tiêu hủy protein – lipid của HCl – pepsin nên chúng có khả năng
thay đổi cấu trúc của chất nhày và do nồng độ cao ion H + dễ khuếch tán
ngược về phía lòng mạch, việc tiết HCl – pepsin tạo thành môi trường ăn
mòn mạnh đối với thành niêm mạc dạ dày tá tràng.
Pepsin được tiết dưới dạng tiền chất pepsinogen, trong đó pepsin 3 là
nhiều nhất. Pepsin thủy phân protein thức ăn ở pH tối ưu là 1,8. Pepsin ăn
mòn lớp nhày, bình thường tạo thành một lớp gel bao phủ bề mặt của
niêm mạc.
Sự hiện diện của acid dạ dày rất quan trọng trong việc phát triển bệnh
loét. Bệnh nhân bị loét tá tràng đều có tăng tiết acid dạ dày, nhưng không
có mối liên quan giữa diện tích loét và thời gian loét kéo dài các triệu
chứng. Trong loét dạ dày, lượng acid tiết ra bình thường thậm chí có thể
thấp hơn và quan trọng là sự đề kháng (bảo vệ) của tổ chức đã thay đổi
trong việc đề phòng sự hình thành loét.
Sự khuếch tán ngược của ion H+ vào niêm mạc: Ion H+ trong long dạ
dày khuếch tán ngược vào thành dạ dày xuyên qua những chỗ đứt của
niêm mạc. Nó làm giãn mạch máu, phù nề, xuất huyết và sự sản xuất ion
H+ ở tế bào viền làm trầm trọng thêm hiện tượng khuếch tán ngược.
1.1.4.2. Yếu tố bảo vệ
Sự bảo vệ niêm mạc

Triệu chứng lâm sàng của bệnh loét HTT nguyên phát thường thay đổi và không
đặc hiệu rất đa dạng tùy thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh (đợt cấp hay
thuyên giảm), phụ thuộc vào vị trí ổ loét (mặt trước hay mặt sau của tá tràng),
thay đổi theo lứa tuổi. Khi đang có đợt cấp các triệu chứng lâm sàng rầm rộ
hơn. Có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở nam giới trẻ tuổi từ 18 - 40
tuổi.Tổn thương khu trú ở hành tá tràng mặt sau hoặc mặt trước. Triệu chứng
chính: đau rát, nóng ở vùng thượng vị lệch sang phải là triệu chứng sớm của
bệnh. Đau lúc đói (sau ăn từ 2 - 3 giờ) hoặc đau vào ban đêm, tính chất đau


cường độ thay đổi, đau mang tính chất chu kỳ theo thời gian trong ngày, theo
mùa trong năm.. Nôn và buồn nôn cả lúc đói. Ợ hơi, ợ chua trong thời kỳ tiến
triển, bệnh nhân thấy cồn cào nếu ăn một chút gì vào thì thấy dễ chịu hơn. Thăm
khám bụng trong cơn đau thấy co cứng vùng thượng vị lệch sang phải, tăng cảm
giác đau khi ta sờ nắn bụng, tùy theo vị trí của ổ loét ở mặt trước hay mặt sau
của tá tràng mà vị trí lan của đau ra trước, ra sau lưng hoặc lan tỏa xung quanh,
triệu chứng rất quan trọng.
3.1.6. Chẩn đoán loét tá tràng
1.1.5.1. Chụp X quang
Chụp X quang phần trên ống tiêu hóa được sử dụng hầu hết trường hợp nếu
triệu chứng không cấp. Cách tiến hành: Bệnh nhân nhịn ăn, được uống một cốc
thuốc cản quang, sau đó chụp nhiều film để phát hiện hình ảnh tổn thương trực
tiếp như: hình chêm, hình ổ hoặc cứng ở một đoạn hoặc đôi khi là một túi
Hawdeck với 3 mức baryte, nước, hơi, cùng với những hình ảnh gián tiếp như
tăng trương lực cơ, tăng nhu động. Ngoài ra trong những trường hợp loét ở tá
tràng còn có hình ảnh dấu ách chuồn hoặc tampon của toa xe lửa.
Tuy nhiên, chính xác nhất vẫn là nội soi dạ dày – tá tràng bằng ống mềm và
sinh thiết ổ loét để chẩn đoán phân biệt với loét ung thư hóa (97% trường hợp).
1.1.5.2. Nội soi dạ dày
Nội soi là phương pháp chính xác, được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán

Đến nay đã có 15 loại Helicobacter được tìm thấy ở người và động vật. Trong
đó có 8 loài quần cư ở dạ dày, 6 ở ruột non và 1 ở gan. Trong các loài quần cư ở
dạ dày chỉ có 2 loài là Helicobacter polori và Helicobacter heilmanni [5]


3.2.3. Đường lây truyền của Hp
Qua các công trình nghiên cứu ước lượng có khoảng gần 50% dân số trên thế
giới nhiễm Hp. Tần xuất nhiễm Hp tương quan nghịch với trình độ kinh tế xã
hội của dân chúng. Nghèo đói, vệ sinh thấp, gia đình đông con là những yếu tố
làm dễ cho sự lây truyền Hp. Với lý do này số ca mắc bệnh mới giảm đáng kể ở
các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển tỉ lệ này vẫn giữ ở mức
cao. Tiến triển này đưa đến hệ quả của thế hệ với một tần suất nhiễm khuẩn ở
những nước phát triển ngày một giảm theo tuổi. Sự khẳng định khuynh hướng
này có thể dẫn đến trong những thập kỷ tới tình trạng nhiễm Hp sẽ giảm rất
nhiều hoặc biến mất ở các nước này.Những dữ kiện về dịch tễ này cũng cho
phép biết được sự giảm tần suất các bệnh liên quan đến Hp [47].
Ở Việt Nam, Vương Tuyết Mai và cộng sự (2001) sử dụng kỹ thuật Elisa phát
hiện tỉ lệ nhiễm Hp trong quần thể nghiên cứu là 75,2%, tỉ lệ nam - nữ tương
đương nhau, trẻ nhỏ tỉ lệ nhiễm thấp hơn người lớn, ở các địa phương khác
nhau tỉ lệ nhiễm cũng khác nhau [40].
Yếu tố có khả năng bảo vệ chống lại sự lây nhiễm Hp là tình trạng dinh dưỡng
thích hợp, đặc biệt là ăn nhiều trái cây, rau xanh và vitamin C. Nguy cơ lây
nhiễm Hp tăng lên nếu thực phẩm được chế biến dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh lý
tưởng hoặc là phơi nhiễm với nước và đất bị nhiễm vi khuẩn.
Nhiều nghiên cứu thấy rằng Hp lây chủ yếu qua đường : miệng - miệng, phân miệng, dạ dày - miệng thông qua nguồn nước bị ô nhiễm. Quan niệm về cách
lây lan từ người này sang người khác được ủng hộ bởi tỉ lệ nhiễm Hp cao hơn
trong số những trẻ em và người lớn sống tập thể, nhiễm Hp tập trung trong các
gia đình. Những gia đình có nhiều thế hệ thành viên cùng chung sống nếu có
người bị nhiễm Hp thì nguy cơ lây nhiễm cho các thành viên khác trong gia
đình là rất cao đặc biệt là từ mẹ sang con, giữa các anh chị em ruột hoặc giữa vợ

sống ở phần sâu của lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, giữa lớp nhày với bề
mặt của lớp tế bào biểu mô và ở các vùng nối giữa các tế bào này. Nhiễm Hp là
một trong những nhiễm khuẩn mạn tính thường gặp nhất ở người. Tần suất
nhiễm Hp thay đổi tùy theo tuổi, tình trạng kinh tế và chủng tộc. Ước tính có
khoảng hơn nửa dân số trên thế giới đã bị nhiễm Hp, chủ yếu ở các nước đang
phát triển với tần suất nhiễm rất cao từ 50-90% ở lứa tuổi >20 và hầu hết trẻ em
bị nhiễm ở độ tuổi từ 2-8[54],[53],[32]. Việt Nam cũng thuộc vùng có tỷ lệ
nhiễm Hp cao, vào khoảng> 70% ở người lớn. Ở các nước phát triển tuổi bị
nhiễm thường >50 tuổi, chiếm 50% dân số[20]. Tỷ lệ nhiễm Hp trong viêm dạ
dày mạn ở miền Bắc Việt Nam từ 53-72,8%; ở thành phố Hồ Chí Minh
64,7%[53].
Màu sắc: Tùy phương pháp nhuộm mà Hp có màu sắc khác nhau:
+ Màu xanh thẫm trên tiêu bản nhuộm Giemsa.
+ Màu tím đỏ trên tiêu bản nhuộm Hematoxilin-Eosin (HE).
Tính chất nuôi cấy: Hp là 1 vi khuẩn rất khó nuôi cấy, muốn nuôi cấy
được phải có môi trường đặc biệt. Môi trường cấy được ủ ở 37 độ C trong
môi trường vi ái khí bão hòa trong nước với 5% O2 và 5-10% CO2. Thời
gian mọc là 3-7 ngày với khuẩn lạc mang đặc tính đặc hiệu, nếu dùng


giảm tiết trước thì mọc chậm hơn có thể đến 12 ngày [47]. pH tốt nhất
cho sự phát triển của Hp là 7-8. Một trong những khâu quan trọng trong
việc phân lập Hp là bảo quản và vận chuyển các mảnh sinh thiết từ phòng
nội soi về cơ sở nuôi cấy. Có tài liệu đề cập đến những trường hợp (-) giả
do bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm. Nhiệt độ bảo quản bệnh phẩm:
không quá 4 giờ ở nhiệt độ thường, < 24/ giờ thì nên bảo quản ở 4 độ C,
> 24 /giờ thì ở - 70 độ C [46].
Đặc điểm sinh học quan trọng của Hp là sản sinh ra nhiều enzym, quan
trọng nhất là urease.
+

Do Hp gây tổn thương niêm mạc dạ dày sẽ làm giảm tiết somatostatin. Chất này
được sản xuất từ tế bào D có mặt ở nhiều nơi trong niêm mạc ống tiêu hóa trong
đó có dạ dày. Lượng somatostatin giảm sẽ gây tăng gastrin máu từ tế bào G sản
xuất ra, mà chủ yếu tăng gastrin-17(từ hang vị), còn gastrin -34 (từ tá tràng)
tăng không đáng kể. Hậu quả trên làm tăng tế bào thành ở thân vị, tăng tiết acid
HCL và kèm theo là tăng hoạt hóa pepsinogen thành pepsin. Đây là 2 yếu tố tấn
công chính trong cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày hành tá tràng. Hp sản xuất ra
nhiều yếu tố có tác dụng hoạt hóa bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đơn
nhân, đại thực bào, giải phóng các yếu tố trung gian hóa học trong viêm (các
Interleukin, các gốc oxy tự do), giải phóng ra yếu tố hoạt hóa tiểu cầu- một chất
trung gian quan trọng trong viêm, làm cho biểu mô phù nề hoại tử, long tróc, bị
acid- pepsin ăn mòn dẫn đến trợt rồi loét. Cơ thể bị nhiễm Hp, sản xuất ra kháng
thể chống lại Hp. Các kháng thể này lại gây phản ứng chéo với các thành phần
tương tự trên các tế bào biểu mô dạ dày của cơ thể, gây tổn thương niêm mạc dạ
dày [36],[21].
Như vậy tổn thương niêm mạc dạ dày do Hp gây viêm loét dạ dày qua 3 cơ chế
khác nhau: sự thay đổi sinh lí dạ dày, nhiễm độc trực tiếp từ các sản phẩm của
vi khuẩn, các phản ứng viêm với sự giải phóng nhiều sản phẩm phản ứng độc tố
khác nhau. Nếu nhiễm trùng không được điều trị thì sau 10-20 năm sẽ teo niêm
mạc dạ dày, làm tăng pH dạ dày lên 6-8. Các tuyến bị mất, viêm teo niêm mạc
dạ dày và dị sản ruột, điều này có thể khởi đầu cho giai đoạn ác tính [44],[43],
[36],[41].


3.2.6. Các phương pháp chẩn đoán nhiễm Helicobacter Pylori
Kể từ khi Hp được tìm ra vào năm 1982 đến nay đã có nhiều phương pháp
chuẩn đoán nhiễm Hp. Trong chẩn đoán , mỗi phương pháp có những ưu nhược
điểm khác nhau và việc lựa chọn tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu hoặc ứng
dụng trong thực hành và còn tùy thuộc vào giá thành của thử nghiệm. Điều quan
trọng nhất là các thử nghiệm phải có độ nhạy và độ đặc hiệu cao để giúp cho

môi trường lỏng (test maison, CU test) hoặc bán đặc (CLO test, HUT test) hoặc
trên một màng gọi là Pyloritek có chứa urê và chất chỉ thị màu theo pH. Nguyên
tắc của thử nghiệm là nhằm phát hiện men urease của Hp, Hp gần như loại vi
khuẩn trong dạ dày tiết urease với khối lượng lớn (ngoại trừ một số ít bệnh nhân
bị nhieemc Helicobacter helmani). Men urease của Hp có trong mẫu mô dạ dày
sẽ biến đổi urease tành amoniac (NH3), NH3 Làm môi trường thuốc thử có pH
kiềm, vì vậy làm thay đổi chất chỉ thị theo phản ứng:
Urease

Urea + H2O → CO2 + NH3 (môi trường kiềm) → Đổi màu chất chỉ thị màu
+ Ưu điểm của test nhanh urease: Sau 20 phút, ngay trong phòng nội soi đã có
thể chẩn đoán được 75% trường hợp nhiễm Hp mà không có phản ứng dương
tính giả [30],[31].
+ Hạn chế của test urease:
Trong điều kiện hiện nay người ta thừa nhận ngưỡng phát hiện vi khuẩn là 104
– 105vi khuẩn/ml.


Nếu đọc test sau 24 giờ, do 1 số vi khuẩn có nguồn gốc ở miệng hoặc ở ruột
cũng sản xuất urease nhưng chậm hơn Hp cho nên có thể cho kết quả dương
tính giả.
- Mô bệnh học: Mô bệnh học được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán nhiễm Hp với
các phương pháp nhuộm hexamtoxyline và eosin (HE), Giemsa, Warthin-Starry,
nhuộm tím Cresyle, nhuộm bạc hoặc Acridin Orange, nhuộm bạc cho hình ảnh
Hp rõ nhất [3]
Bảng 1.1: Mật độ nhiễm Hp trên phương pháp mô bệnh học
Độ
Kí hiệu
Trên toàn bộ quang trường
0

phân có thể phát hiện mật độ vi khuẩn (VK) thấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status